Bạch Tuyết Ca

Chương 120: Bách khoa Châu Đàn



Tên: Châu Đàn 

Năm sinh/mất: xxx-xxxx

Tự: Tiêu Bạch

Hiệu: Bạch Tuyết. 

Quê quán: Lâm An (nay là Hàng Châu, tỉnh Chiết Giang). 

Ông là nhà chính trị, nhà cải cách, nhà văn học trứ danh thời Bắc Dận của Trung Quốc.

THỜI NIÊN THIẾU SÓNG GIÓ

Châu Đàn sinh ra tại Lâm An vào niên hiệu An Duyệt dưới những năm trị vì của Dận Đức Đế, (năm sinh cụ thể không thể khảo cứu. Căn cứ vào sử liệu hậu thế dẫn lại, kết hợp thân phận của cha ông, niên đại này hẳn là gần với năm An Duyệt thứ mười một, năm Tiêu Việt tướng quân của Lăng Tiêu quân tử trận tại Bành Thành) [1]. Nguyên quán Lâm An, cha ông là Châu Thứ, cựu tướng Lăng Tiêu quân, mẹ ông xuất thân từ nhà họ Bạch ở Kim Lăng, vốn là con cháu danh môn thế gia.

Châu Đàn thời niên thiếu thông minh lanh lợi xuất chúng, có trí nhớ siêu phàm, thành danh từ sớm, cũng từng có những năm tháng tuổi trẻ ngông cuồng. Cho đến năm Vĩnh Ninh thứ hai đời Đức Đế, cha mẹ Châu Đàn đột ngột qua đời vì tai nạn giặc cướp, gia môn từ đó suy bại. Châu Đàn mười lăm tuổi dẫn đệ đệ Châu Dương vào Biện Đô, nương nhờ thân thích xa họ Nhậm, bắt đầu dốc sức khổ học.

Năm Vĩnh Ninh thứ mười hai, Châu Đàn tròn mười bảy tuổi, nổi danh chấn động trong kỳ thi xuân ở Biện Đô, liên tiếp đỗ Tam Nguyên (người liên trúng Tam Nguyên hiếm hoi trong lịch sử khoa cử vốn chỉ đếm trên đầu ngón tay, trong khảo cứu Dận Sử chỉ có một mình ông). Sau đó ông bái nhập môn hạ Tể phụ đương triều Cố Chi Ngôn, mở ra con đường chính trị của bản thân.

Thời kỳ Châu Đàn làm quan ở địa phương, chính tích hiển hách, từng nhậm chức Thiêm Phán tại Bình Giang, Thông Phán tại Dương Châu. Khi làm quan ở Bình Giang Phủ (nay là Tô Châu, tỉnh Giang Tô), thanh danh ông nổi trội nhất. Theo Châu Tiêu Bạch Khảo [2] của người Tề ghi chép, khi ông được điều nhiệm, có hàng vạn bá tánh tặng ông Vạn Dân Tán (ô của vạn dân). Bài thơ thứ 69 trong Xuân Đàn Tập, cũng có câu “Cô Tô nay lặng tiếng đức tàn vang” rõ ràng là minh chứng rõ nét.

Cuối năm Vĩnh Ninh thứ mười bốn, sau khi hồi kinh, ông được thụ chức Điển Hình Tự Khanh.

CON ĐƯỜNG QUAN LỘ GẬP GHỀNH

Đầu năm Vĩnh Ninh thứ mười lăm, Dận Đức Đế bất chấp sự phản đối của quần thần, cố ý xây dựng Nhiên Chúc Lâu [3] tại Đông Môn, án Nhiên Chúc từ đó mà dấy lên.

Án Nhiên Chúc thực chất là một cuộc thanh trừng triều đình do Đức Đế nghi kỵ Cố Chi Ngôn mà triển khai. Châu Đàn, với tư cách là môn sinh đắc ý của Cố Chi Ngôn bị hạ ngục chịu hình, mang trọng thương (vết thương này kéo dài nhiều ngày, có lẽ là nguyên nhân sâu xa dẫn đến cái chết sớm của Châu Đàn sau này).

Án Nhiên Chúc liên lụy đến hơn bốn trăm quan viên lớn nhỏ, số người chết trong ngục không dưới một nửa. Môn sinh thân cận của Cố Chi Ngôn bị thanh trừng gần hết, chỉ có Châu Đàn chấp nhận ‘cắt đuôi cầu sinh’ với Đức Đế, viết nên Nhiên Chúc Lâu Phú [4] nổi tiếng, trở thành vết nhơ lớn nhất trong sự nghiệp chính trị của ông.

Sau khi ra khỏi ngục giam, Châu Đàn dốc lòng làm cô thần, chuyển nhậm chức Hình Bộ Thị Lang, lập tức bị ám sát, mạng sống chỉ như treo trên sợi tóc. May mắn được Đức Đế ban hôn nên ông mới bình phục. Từ đó, ông từ bỏ phong thái thanh liêm, bắt đầu rộng rãi thêu dệt, dựng lên các vụ án oan, quét sạch phe phái đối lập [5-6] (việc có thể xác định đây là một cuộc thanh trừng hay không gây nhiều tranh cãi lớn, có thuyết nói đối tượng thanh trừng của Châu Đàn vào thời Vĩnh Ninh đa phần là gian thần trong triều. Có năm học giả đã có chuyên luận về vấn đề này, mời xem chú thích cuối bài).

Năm Vĩnh Ninh thứ mười bảy, Tể phụ Phó Khánh Niên thất bại trong cuộc đảng tranh với Chấp chính Cao Tắc, chết trong ngục. Vai trò của Châu Đàn trong việc này không rõ ràng, nhưng tân thê tử của ông là Khúc Ý Liên đã hai lần gõ trống Đăng Văn trên phố Ngự, gây chấn động kinh thành, đóng vai trò quan trọng trong cục diện đấu đá đảng tranh giữa Tể – Chấp. (Khúc thị sau này cùng Châu Đàn hợp soạn Tước Hoa Lệnh, đóng góp to lớn cho biến pháp Tước Hoa. Đồng thời để lại các trứ tác lý luận sử học Thiên Ảnh Trát Ký và sách khảo cứu hình danh Tước Hoa Tái Quan lưu truyền hậu thế. Những tài liệu còn lưu lại cho thấy hậu thế từng có tác phẩm ca ngợi bà có “sự thùy mị của nữ nhân, quyết đoán của pháp gia, cốt cách sử quan, khí tiết văn nhân”, xem chú thích [7])

Để cân bằng triều cục, Đức Đế lấy cớ can dự vào cuộc tranh chấp đảng phái Đông Cung, giáng chức Châu Đàn tới Nhược Châu thuộc Tây Cảnh.

Năm Vĩnh Ninh thứ mười tám, Đức Đế lâm bệnh nặng, Châu Đàn được triệu hồi về Biện Đô phụng chiếu. Sau khi Đức Đế băng hà, cựu Hoàng thái tử Tống Thế Diễm (sau là Lệ Vương) đổi tôn di chiếu của Tuyên Đế. Châu Đàn hộ tống Cảnh Vương Tôn Tống Thế Huyên (sau là Minh Đế) vào Biện Đô dẹp loạn, với tư cách là Thủ thần chấp chỉ (điểm này gây tranh cãi lớn, xem chú thích cuối bài), dốc sức bảo vệ Cảnh Vương Tôn đăng cơ.

BIẾN PHÁP TƯỚC HOA

Năm Vĩnh Ninh thứ mười chín, Dận Minh Đế lên ngôi, đổi niên hiệu thành Trọng Cảnh. Vì có tình thầy trò với Châu Đàn, vua trọng dụng ông làm Chấp Chính Tham Tri, vào Chính Sự Đường [7] thống lĩnh bách quan, được tín nhiệm sâu sắc.

Tháng sáu năm Trọng Cảnh thứ nhất, Châu Đàn chính thức bái Tướng, trở thành Tể phụ trẻ tuổi nhất trong lịch sử Đại Dận [8]. Minh Đế để thoát khỏi tàn dư tệ nạn tích tụ của tiền triều, cũng để đối phó với cuộc khủng hoảng Tây Thiều chưa hoàn toàn giải quyết, Minh Đế sau khi xem qua sách lược biến pháp của Châu Đàn, ngự bút viết: “Cái cách trăm năm, bắt đầu từ hôm nay” [9].

Châu Đàn cho rằng trọng tâm của biến pháp là phải thiết lập lại uy quyền của luật pháp. Dưới danh nghĩa phế bỏ Đường Hoa Lệnh thời tiền triều, ông đã mạnh tay ban hành Tước Hoa Lệnh, viết ra mười hai điều cải cách tân chính, bổ sung hai mươi bốn điều luật của Đại Dận. Ngoài việc chỉnh đốn lại quan chế và quân chế, ông còn tiến hành những cải cách táo bạo trong việc chức trách của Chính Sự Đường, thuế khoá dân gian và các công việc thường vụ tại biên cảnh.

Biến pháp quá mức quyết liệt, Chính Sự Đường không một ai chịu đóng ấn. Châu Đàn đã tự mình viết Ngu luận của bọn thần thế gia giữ nếp cũ [10-11], bút chiến chỉ trích thẳng thừng các cựu quý tộc và phe cánh bảo thủ trong triều. Tập bút ký vừa đưa ra, đắc tội vô số người, nhưng ông hoàn toàn không bận tâm, liên tiếp cất nhắc hơn ba mươi sĩ tử trẻ tuổi không có gốc gác chỗ dựa, mở đường cho cải cách tân chính.

LẦN THỨ HAI BÁI TƯỚNG

Cùng năm, do pháp điển thay đổi, bá tánh ở ven sông Biện bất mãn gây rối. Cộng thêm việc Châu Đàn vượt qua Chính Sự Đường tự ý tiến hành biến pháp, bị nghi ngờ tập trung ôm đồm quyền lực, tạo nên cuộc giằng co giữa ba bên: Tướng quyền, Quân quyền, và Đài Gián sĩ phu. Chấp Chính Tham tri Tô Triều Từ và Châu Đàn bất hòa, cuộc tranh chấp giữa Tể – Chấp lại nổi lên.

Dưới áp lực, Minh Đế để cân bằng cục diện, cũng vì bất đồng chính kiến với Châu Đàn đã bãi miễn chức Tể phụ của ông. Sau khi bị bãi Tướng, Châu Đàn mật đàm với Minh Đế hai lần, đàm đạo sâu xa cùng Minh Đế ngoài ngoại ô ba lần. Đúng lúc xảy ra sự việc Xương Lăng bị đánh sập, Minh Đế cảm thấy bên mình không còn người tin cậy, không lâu sau lại bí mật triệu hồi Châu Đàn trở lại.

Năm Trọng Cảnh thứ hai, Châu Đàn lần thứ hai bái Tướng, biến pháp Tước Hoa được tiếp tục thi hành.

TRỌNG CẢNH ĐẢNG TRANH

Mục đích của việc Châu Đàn ban bố Tước Hoa Lệnh, một mặt là để tái lập uy quyền của luật pháp Đại Dận, mặt khác là bắt đầu từ việc chỉnh đốn quan lại và cải cách quân chế để thanh lọc thời cuộc. Biến pháp đã động chạm đến lợi ích của phe bảo thủ, gặp phải sự phản đối kịch liệt. Chỉ trong vòng một năm, hai đảng Tân và Cựu đã diễn ra hơn một trăm cuộc tranh luận lớn nhỏ. Thời đó, ngoài phố lớn ngõ nhỏ đều có thể nghe thấy giới văn nhân học tử tranh cãi kịch liệt về cải cách tân chính.

Ngự Sử Đài dâng hơn trăm bản tấu sớ đàn hặc. Cựu đảng, đứng đầu là Trình Sơ, nhiều lần dâng biểu can gián. Nhiều Ngự sử, Gián quan vì phản đối tân pháp bị giáng chức xuống địa phương (sau khi biến pháp Tước Hoa kết thúc, nhiều người được trọng dụng trở lại).

Tô Triều Từ năm lần gửi thư can ngăn Châu Đàn xem xét lại việc thi hành biến pháp (Ngũ thư luận tâm cùng Châu Tiêu Bạch [12]), nhưng không thành. Lấy sự việc này làm ngòi nổ, cuộc tranh đấu giữa Tân đảng và Cựu đảng giữa cựu thần tiền triều, thế gia Biện Đô, hai viện Đài Gián, đến tranh chấp giữa Tể – Chấp, ngày càng leo thang [13].

Đầu năm Trọng Cảnh thứ ba, Trình Sơ, một phần tử cấp tiến trong phe phản đối, chết một cách bí ẩn ở ngoại ô kinh thành. Sự việc như hòn đá ném xuống gây nên sóng lớn ngàn tầng, khắp triều đình và dân gian, làn sóng phản đối nhằm vào Châu Đàn nổi lên rầm rộ, thế lớn ngập trời. Dưới sức ép nặng nề, Châu Đàn cáo bệnh ở nhà, không thượng triều.

Tô Triều Từ bèn dâng Tấu chương cáo trạng mười tội ác của Tể phụ [14], đẩy Châu Đàn l*n đ*nh điểm của dư luận. Những chuyện cũ như Châu Đàn phản bội Cố sư môn, ham mê tửu sắc, thanh trừng phe đối lập bị lật lại, lan truyền trong dân gian. Dân chúng Biện Đô bị kích động, vì phản đối cải cách tân pháp, kéo bè pháp tấn công phủ đệ của Châu Đàn ở Biện Đô [15].

Sự chia rẽ nội bộ trong nhóm sĩ tử trẻ tuổi được Châu Đàn cất nhắc cũng vô cùng nghiêm trọng, biến pháp Tước Hoa gặp phải trở ngại lớn. Minh Đế dưới làn sóng dư luận ngày càng lớn, bắt đầu nghi kỵ Châu Đàn, lấy vài tội nhẹ trong mười tội ác luận tội, phạt Châu Đàn vào chiếu ngục.

Mùa đông cùng năm, Châu Đàn chịu hình, ký tên nhận mười tội ác. Ba tháng sau, Minh Đế lần thứ hai bãi Tướng Châu Đàn, đồng thời bãi miễn tất cả chức vụ của Châu Đàn, chỉ giữ lại danh hiệu Ân Sư (sử liệu không rõ, còn nghi vấn). Sau khi được miễn, ông cùng ái thê trở về cố hương Lâm An.

MINH THÁI TRUNG HƯNG

Năm Trọng Cảnh thứ tư, cùng với việc Châu Đàn rời kinh, vị trí Tể phụ Chính Sự Đường để trống hơn bốn tháng. Chấp Chính Tham Tri Tô Triều Từ chính thức bái Tướng, bắt đầu nắm quyền Chính Sự Đường.

Năm kế tiếp, Tô Triều Từ bãi bỏ phần lớn pháp lệnh của biến pháp Tước Hoa, tuyên bố biến pháp cải cách chính thức kết thúc.

Vị trí Chấp Chính Tham Tri trong Chính Sự Đường bỏ trống hơn nửa năm, sau đó tạm thời bị bãi bỏ (được tái lập vào năm Bình Phong thứ hai đời Thành Đế) [16]. Tô Triều Từ nhờ hạ bệ Châu Đàn trong cuộc đảng tranh, thanh danh tốt đẹp, uy vọng tăng cao, có thế sánh ngang với Lưu Tranh tiền triều.

Mùa thu năm Trọng Cảnh thứ sáu, Minh Đế đổi niên hiệu thành Minh Thái. Triều chính dưới sự thống lĩnh của Tô Triều Từ một phen thanh bình, Trác Chu tướng quân Châu Ngạn bốn lần đánh dẹp Tây Thiều, biên cảnh đại thắng, trong ngoài thông suốt. Cộng thêm Minh Đế dốc sức trị vì, quét sạch mây đen do đảng tranh và biến cố lên ngôi của tiền triều mang lại.

Đại Dận bước vào thời kỳ thịnh thế ngắn ngủi, sử gọi là  Minh Thái Trung Hưng [17].

BỆNH MẤT TẠI LÂM AN

Cuối năm Trọng Cảnh thứ năm, Châu Đàn lặng lẽ bệnh mất tại đình Thiên Ảnh ở Lâm An, hưởng thọ ba mươi mốt tuổi, được an táng tại dốc Hạnh Sơn. Bia mộ không khắc tên họ và năm tháng, nay không còn khảo cứu được (có thuyết nói ở ngoại ô Hàng Châu, tỉnh Chiết Giang ngày nay còn lưu lại di tích cố trạch của Châu Đàn. Cũng có lời đồn rằng ông chưa hề qua đời, chỉ là ẩn cư không xuất thế. Sử liệu không rõ ràng, nay không thể kiểm chứng).

Ông còn lưu lại Xuân Đàn Tập [18-23] truyền thế, để lại nhiều áng thơ ca nổi tiếng, được người đời yêu thích như: Tứ Nguyệt Thập Thất Nhật Hạnh Hoa Xuân Dạ, Dạ Tước Trúc Cốt Cảm Hoài Tác, Xuân Quy, Như Mộng Lệnh – Nhân Gian Thiên Thanh Vũ Trạch, Thanh Khê Điệu Cựu… Văn phong thanh nhã, tấm lòng rộng mở.

Vì mang danh mười tội ác, ông đứng đầu trong Nịnh Thần Truyện của Bắc Dận [24], nhưng giới sử học đã nghi ngờ về điều này ngay từ thời Nam Dận. Năm Thiên Thừa thứ năm thời Nam Dận, Dận Cảnh Đế xóa tên Châu Đàn khỏi Dận Sử – Nịnh Thần Truyện, toàn bộ sử liệu liên quan được chuyển sang Dận Sử – Danh Thần Liệt Truyện .

Việc đổi tên và lật oán minh oan này trở thành một giai thoại muôn đời. Cho đến sau khi Nam Dận vong quốc, giới sử học vẫn tranh luận không ngừng về việc đổi tên lật án minh oan của Châu Đàn và câu chuyện vẫn được người đời bàn tán sôi nổi cho đến tận ngày nay.

Các sử liệu khác không thể khảo cứu (Dã sử ghi chép, sau khi Minh Đế bệnh mất, cuốn tiểu thuyết thoại bản Bạch Tuyết Trường Ca từng thịnh hành một thời ở Biện Đô, nhân vật chính được nghi là nguyên mẫu của Châu Đàn. Tuy nhiên, tác giả khuyết danh không thể khảo chứng, hình tượng trong sách khác biệt lớn so với chính sử, nên vẫn còn bỏ ngỏ).

ĐÁNH GIÁ LỊCH SỬ

Tô Triều Từ: Tiêu Bạch khi còn làm Tể phụ thức khuya dậy sớm dốc sức làm việc, song thế sự rối ren, không thể chỉ dùng một phép mà cải biến được. [25]

Bạch Sa Đinh: Ta có một cố nhân, cốt cách như cây trúc, càng trải năm tháng càng thêm cao khiết, trắng trong. [26]

Thẩm Lạc: Khi Lạc đến tuổi xế chiều, nghĩ lại chuyện đã qua, hối hận vì đã không thể kết giao với Châu Tiêu Bạch… Người này tuy cố chấp và cứng nhắc, nhưng không mất đi tấm lòng cứu đời, giúp dân. [27]



Trình Lý Chi: Việc cải biến luật pháp giống như đồ vật được sinh ra khi chưa cần dùng đến. Sách lược của Châu Đàn làm quá sớm, sinh không gặp thời. [35]

Dương Chí: Loạn binh cuối thời Dận, việc biến pháp Tước Hoa gánh chịu đến mười một phần trách nhiệm, đó là tội của Châu Đàn. [36]

Từ Pháp Lam: Đàn tuy thân đã mất, nhưng pháp lệnh của ông vẫn được tham khảo rất nhiều trong việc lượng định luật pháp và điển hình hơn một ngàn hai trăm năm sau. Đây là công lao hiếm có. [37]



Lưu Xương Bình, nhà sử học người Mỹ gốc Hoa, viết trong Bắc Dận bốn trăm năm: … Châu Đàn, người này sở dĩ có thể gây hứng thú lớn cho các học giả trong và ngoài nước, ngoài biến pháp Tước Hoa nổi tiếng thì còn là cuộc đời của ông. Phản bội sư môn viết Nhiên Chúc Lâu Phú, tàn sát phe đối lập ở Hình bộ, từ Tây Cảnh hồi kinh đường đột trở thành Thủ thần chấp chỉ… Từng sự việc vốn nên trở thành bằng chứng để kẻ thù chính trị công kích, song đều tiêu tan không tiếng động sau đó. Những người cùng làm quan với ông, đấu đá đến đỏ mắt, nhưng chưa từng đem những chuyện này ra làm bằng chứng công kích… Các nhà sử học tin rằng, trong đó tất có ẩn tình. Nhưng ẩn tình không thể biết, sử liệu lại thiếu sót, rốt cuộc người này như thế nào, trở thành hoa trong gương, trăng dưới nước, mong muốn mà không đạt được, làm sao không khơi dậy lòng h*m m**n tìm hiểu của mọi người cho được? [97]

Phùng Cụ Nhiên, Giáo sư khoa Lịch sử Đại học D, viết trong Dận Triều Phong Lưu Nhân Vật Chí: Chính sự thông suốt hai thời kỳ Dận triều, không màng danh tiếng. Là bậc tiểu nhân chân thật, cũng là bậc quân tử chân chính. [98]

Quyển Sử do Phó giáo sư khoa Lịch sử Đại học D, Khúc Du chấp bút trong Kim Thạch Bất Tử – Châu Đàn Truyện: … Lịch sử đối với con người thường là bất công. Điều mà người đời có thể ghi nhớ, chẳng qua là điểm cốt yếu được lan truyền rộng rãi và ăn sâu vào lòng người nhất: “Phong lưu,” “Gian nịnh,” “Kẻ b*n n**c.” Chỉ một từ là có thể định luận kết án. Ngoại trừ những nhà nghiên cứu, sẽ không ai biết cả đời họ theo đuổi điều gì. Đáng thương hơn là có người chỉ để lại vài lời ngắn ngủi trong sử sách, đến cả nhà nghiên cứu cũng không tìm thấy.

Giả sử tôi chưa từng hiểu rõ Châu Đàn, cho dù tôi có đọc được câu thơ “Đêm gọt cốt trúc làm lưỡi sắc, đời ta sắt đá chẳng đổi lòng”, cảm thấy chấn động sâu sắc, vẫn không thể hoàn toàn thoát khỏi ấn tượng sâu đậm mà vết nhơ ô danh mang lại cho ông.

Vậy thì, khi đó tôi sẽ không đi sâu vào những sai sót bị lịch sử chôn vùi, không thể chắp vá sự thật từ những câu chữ ít ỏi trong sử sách, cũng không thể chỉ dựa vào thơ ca của ông mà minh oan cho ông.

Thế gian sẽ không có ai biết ông đã từng sống như trúc thẳng, như lưỡi dao sắc nhọn, như tuyết trắng, như thi ca. Dòng sông lịch sử trôi dài đến thế, những cốt cách rơi rớt bên bờ không ai thu lượm, nhẹ nhàng bị lãng quên.

Có lẽ những thứ bị lãng quên ấy đã trở thành niềm nuối tiếc vĩnh hằng không ai hay biết, có lẽ người nghiên cứu cả đời cũng chẳng thể vì đối tượng nghiên cứu của mình mà minh oan giữa những lời đàm tiếu của lịch sử, nhưng sứ mệnh của chúng ta vẫn là tìm tòi.

Họ xứng đáng được ghi nhớ. Nếu bị hiểu lầm, bị hủy hoại là số mệnh của họ, tôi nguyện vì họ quỳ gối bên sông ngàn năm, dâng kiếm. Dẫu lời đồn như dao kiếm, cũng không hề sợ hãi.

Là thế nhân đã phụ ông.

Là thế nhân đã phụ họ.



Thiên hạ hữu đạo, dĩ đạo tuẫn thân1; thiên hạ vô đạo, dĩ thân tuẫn đạo2. Người đời phụ những lý tưởng giản đơn, cổ xưa, thuộc về tầng lớp sĩ đại phu Trung Hoa của họ…”

1Thiên hạ hữu đạo, dĩ đạo tuẫn thân: Khi thế giới có kỷ cương, có chính đạo, thì dùng cái Đạo đó để bảo vệ và làm rạng danh bản thân (thực hiện lý tưởng thông qua hành động thực tế). Chữ Tuẫn (殉) ở đây không chỉ mang nghĩa là hy sinh, mà còn là theo đuổi hoặc gắn liền.

2Thiên hạ vô đạo, dĩ thân tuẫn đạo: Khi thế gian loạn lạc, đạo đức suy đồi, thì dùng chính tính mạng và danh dự của mình để bảo vệ chính nghĩa (tử vì đạo). Đây là tinh thần cao nhất của giới trí thức xưa.



Đàn Khảo – 25: … Hoàng quyền chọn lựa tập đoàn văn quan cùng cai trị thiên hạ là điều tất yếu của lịch sử. Suy cho cùng, sự ràng buộc của tập đoàn văn quan đối với hoàng quyền vẫn chủ yếu dựa vào vận may. Gặp được những quân chủ như Tuyên Đế và Minh Đế, liền có thể hành sự uy h**p. Gặp Đức Đế một lòng cố chấp với Nhiên Chúc Lâu cũng đành phải tạm thời nhẫn nhục nuốt giận, không có cách nào. Đặc tính mềm cứng tùy theo người nắm quyền này dễ thao túng hơn nhiều so với “có tiền là có thể làm phản,” “có binh là có thể làm phản”. Kỳ thực, người nắm quyền sau này có thể bị tập đoàn văn quan uy h**p, cũng là vì họ quá quan tâm đến thanh danh sau khi chết và sự ổn định trước mắt.

Hoàng đế nhượng bộ, văn thần liền lấn tới. Khi lấn tới lại bất đồng ý kiến, thế là đảng tranh nảy sinh. Đế vương để cân bằng triều cục, mắt nửa mở nửa nhắm, trò dùng “dị luận tương giảo” của Hàn Phi Tử chưa bao giờ ngừng nghỉ. Tập đoàn văn quan dù trong thời thịnh thế cũng có thể đánh nhau đầu rơi máu chảy, không ai chịu nhường ai.

Thể chế này có khiếm khuyết căn bản, chỉ cần nó tồn tại, không thể nào tiêu diệt được, mặc cho bề tôi có lý tưởng chính trị cao cả đến đâu.



Đạo đức kỳ thực không phải là xiềng xích. Sở dĩ nó trở thành công cụ kìm hãm bước tiến của tập đoàn văn quan là vì đạo đức của họ vẫn chưa đủ thuần khiết. Người đời không ai là không có tư tâm. Người sẵn lòng hy sinh bản thân vì thiên hạ thì ít ỏi, mà người có thể làm cho sự hy sinh ấy mang màu sắc chủ nghĩa anh hùng cá nhân ấy trở nên có giá trị lại càng hiếm hơn.

Nhưng trong lịch sử không bao giờ thiếu những con người như thế.

Có thể họ có thiếu sót về tư đức cá nhân, quá giới hạn, không thoát ra khỏi khuôn khổ của chế độ phong kiến, không nhìn thấy khiếm khuyết của chế độ, thậm chí bản thân cũng vì khiếm khuyết mà rơi vào vòng xoáy lợi ích và những cuộc tranh đấu không hồi kết… Nhưng bất kể thanh danh sau khi chết của họ như thế nào, họ là những người thực sự sẵn lòng xả thân vì dòng lũ của chủ nghĩa lý tưởng.

Châu Đàn chính là một người theo chủ nghĩa lý tưởng như vậy.

“Băng sương chính thảm thê, chung tuế thường đoan chính” (Băng sương đang thê thảm, suốt năm vẫn ngay thẳng), mặc dù thế nhân có nhiều hiểu lầm về Châu Đàn, nhưng chỉ cần khảo cứu cuộc đời ông, bạn sẽ giống như tôi cảm thấy câu thơ này là chú giải xứng đáng nhất với ông… Khúc Tuyết Trắng cao vút nên ít người họa theo, nhưng tất cả các nhà nghiên cứu của ông đều đã cùng ông vượt qua một chuyến trên dòng lũ lịch sử.

Dòng lũ cuốn con người đi, không cách nào chống cự. Nhưng sự tồn tại của ông, chính là để tuyên bố một điều: Dẫu chúng ta cùng trong dòng sông dài này, cũng có thể tự tay chèo lái vận mệnh. [99]



Sơ đồ trích dẫn sử liệu: Dận Sử · Quyển 164 · Danh thần liệt truyện 11

Tài liệu tham khảo: [1-99]

Phân tích nhân vật trọng điểm kỳ thi Đại học – (Click vào link để chuyển hướng).

Đứng đầu danh sách mười nhân vật lịch sử được tìm kiếm nhiều nhất năm 2021.

Quán quân cuộc bình chọn Gương mặt lưu truyền ngàn năm · Nhân vật phong lưu chí Trung Hoa cổ đại năm 2022.