04.Túc Phong Lưu
“Đã cược rồi không được rút lại!”
“Đại! Đại! Đại!”
Châu Đàn che mặt lách qua đám đông ồn ã, cuối cùng cũng thấy được Châu Dương mặt mày hồng hào trên bàn đánh bạc. Chàng kiên nhẫn đứng chờ một bên, cho đến khi Châu Dương kích động cược xong ván đó, mới vòng ra sau lưng, xách cổ áo lôi người đệ đệ này ra.
Châu Dương kinh hãi, lắp bắp: “Ca, ca…”
Châu Đàn xách hắn khỏi sòng bạc, ném vào cỗ xe ngựa đã đỗ sẵn trước cửa. Trong xe, hai gia bộc khỏe mạnh lập tức đỡ lấy hắn.
“Trói lại, giải về nhà, báo với phụ thân, trước hết đánh hai mươi trượng.”
Châu Dương r*n r* một tiếng: “Ca, đệ làm tất cả là vì huynh mà—”
Châu Đàn không hề động lòng: “Đưa tiền đây.”
Châu Dương thành thật dâng lên hết số ngân phiếu vừa thắng được. Châu Đàn cau mày đếm lại một lượt, rồi nhướng mày: “Cũng coi như có chút công dụng.”
Châu Dương liền vội vã lấy lòng: “Huynh cho đệ đi cùng đi, đệ…”
Châu Đàn lập tức cắt ngang: “Đệ năm nay mới mười bốn, việc học hành chẳng tiến bộ chút nào, trái lại ngày ngày chăm chú vào những bàng môn tà đạo này. Nếu đệ có thể giống ta, mỗi tháng khảo hạch ở thư viện đều đứng đầu bảng, ta sẽ lập tức không quản đệ nữa, còn đích thân đưa đệ tới tận cửa sòng bạc mỗi ngày, thế nào?”
Thế là Châu Dương cứng họng, đành ngoan ngoãn bị giải đi.
_
Lần đầu tiên Diệp Lưu Xuân gặp Châu Đàn là vào cuối đông ở Lâm An.
Lúc đó nàng chưa có tên, được mọi người gọi là “Tiểu Diệp”.
Tiểu Diệp lớn lên ở Túy Hồng Lâu tại Lâm An, sống nương tựa vào mẫu thân. Mẫu thân nàng kín tiếng về phụ thân nên trong một thời gian dài, nàng không hề hay biết thân thế của mình.
Mẫu thân nàng có tài chơi đàn nguyệt cầm, còn nàng tư chất thông tuệ, học đàn nguyệt cầm còn nhanh hơn mẫu thân. Nhưng mẫu thân lại không cho nàng lộ diện trước mặt mọi người, thêm vào đó nàng luôn cố ý tự làm mình xấu xí, nên cũng yên ổn lớn lên cho đến năm mười sáu tuổi.
Năm mười sáu tuổi, mẫu thân nàng qua đời.
Bà uống say, lỡ chân ngã xuống hồ sau Túy Hồng Lâu. Hồ không sâu, chỉ đến ngang eo người, nhưng mẫu thân nàng say quá đỗi, không thể đứng dậy được.
Mụ tú bà nhăn mặt, sai vài hạ nhân lấy chiếu cỏ, định tùy tiện quấn xác mẫu thân nàng lại, quẳng ra bãi tha ma cho xong chuyện.
Tiểu Diệp ôm lấy thi thể mẫu thân, không chịu buông tay. Nàng khẩn thiết van xin mụ tú bà cho vay một khoản tiền để an táng mẫu thân. Tú bà này dưới trướng có vô số cô nương, nào có rảnh mà lo hậu sự cho từng người.
Tiểu Diệp khóc lóc cầu xin vô vọng liền chạy ra bờ hồ rửa mặt, ôm cây đàn nguyệt cầm của mẫu thân đã gần như đã hỏng vì ngâm nước, ngồi trước cửa Túy Hồng Lâu gảy khúc Xuân Giang Hoa Nguyệt Dạ.
Cả phố xá kinh diễm. Ngay cả những phu khuân vác, kẻ bán rong hoàn toàn không hiểu nhã nhạc, cũng không khỏi phải dừng bước vì khúc nhạc này.
Khi ấy, Châu Đàn đang cùng bằng hữu uống rượu tại tửu lâu đối diện Túy Hồng Lâu.
Chàng tựa nghiêng dưới rèm cuốn, lắng nghe hết khúc nhạc đó. Những bông tuyết mỏng manh cuối đông đầu xuân đậu trên sống mũi chàng thiếu niên, rồi tan chảy ngay tức khắc.
Thế là, khi Tiểu Diệp đang ôm chặt cây đàn nguyệt cầm, toan định gảy lại lần nữa, thì ngân phiếu theo những bông tuyết bay lả tả từ trên trời rơi xuống.
Ngẩng đầu lên, nàng thấy một thiếu niên lang vừa tròn mười lăm tuổi dưới rèm cuốn, tóc đuôi ngựa buộc cao, mặc áo chẽn tay hẹp màu xanh da trời, ở cái tuổi ngời ngời khí phách lại tăng thêm đôi phần khí chất thư sinh.
Có tiếng nói vọng đến, ngữ điệu thanh thoát, có vẻ tùy ý nhưng lại ôn hòa lễ độ: “Khúc nhạc này, ta bỏ tiền mua. Mời Túy Hồng Lâu ra giá đi.”
Trên lầu các, người bằng hữ bên cạnh tặc lưỡi: “Đàn lang ra tay hào phóng ngàn vàng, nếu để phụ thân ngươi biết được, chẳng phải sẽ bị đánh gãy chân sao?”
Châu Đàn chỉ đáp: “Ngươi xem, trên mặt nàng có vết thương, nếu không phải cùng đường mạt lộ, làm sao có thể gảy khúc Xuân Giang Hoa Nguyệt Dạ mà toát ra nỗi bi thương tột độ như thế?”
Một người bằng hữu khác lắc đầu thở dài: “Khúc nhạc này kinh động lòng người, mụ tú bà ắt thấy là của hiếm có thể giữ, số ngân lượng này của ngươi, e rằng chưa chắc đã đủ.”
Châu Đàn nói: “Không sao, không đủ thì thả A Dương tới sòng bạc đánh bạc, kiếm đủ rồi lại lôi nó ra.”
Bằng hữu: “…”
Đêm đó, hai huynh đệ cùng nhau chịu phạt ở tiền viện.
Châu Thứ vốn luôn khoan dung với Châu Đàn, nhưng lại nghiêm khắc sắm vai phụ thân nghiêm khắc với Châu Dương. Chắc hẳn hôm nay đã giận quá nên mới bắt cả hai nằm lên ghế dài chịu gia pháp.
Châu Đàn cắn môi, nghe Châu Dương kêu đau thảm thiết bên cạnh mình, không hiểu sao lại có chút muốn bật cười.
“Cười, bà còn cười được sao?” Châu Thứ ném roi da trong tay, quay đầu quát lớn: “Sao bà không quản thúc chúng nó?”
Bạch Tiều vốn ngồi dưới hành lang cắn hạt dưa, bị tiếng rống của ông làm cho một nắm hạt dưa trong tay kinh hãi rơi xuống cả chùm: “Ông không phải đã tự tay quản thúc rồi sao, còn cần ta quản chi nữa?”
“Một đứa thì ham mê cờ bạc, một đứa thì hay lui tới lầu xanh, gia môn bất hạnh, gia môn bất hạnh thay!” Châu Thứ đi đi lại lại trong sân, vẻ mặt nặng trĩu: “Như thế này bảo ta làm sao đối diện với… linh hồn người nơi chín suối?”
Nghe ông nói lời ấy, Bạch Tiều nghiêm nghị hơn vài phần. Bà phủi tay, đứng dậy từ hành lang, đi đến trước mặt Châu Đàn: “Đàn Nhi, con nói đi, vì cớ gì hôm nay con lại bỏ tiền chuộc thân cho nữ tử kia?”
Châu Đàn gắng gượng ngẩng đầu lên, nhưng cảm thấy sau lưng đau nhói khó chịu, đành đổ rạp xuống: “Nhi tử nghe nói… nàng không có tiền an táng mẫu thân nên thấy đáng thương… Sau khi chuộc thân, nhi tử đã tạm thời an trí nàng trong khách đ**m… Cô nương ấy nói, nàng còn thân nhân cũ ở Kim Lăng… Nhi tử nghĩ, ngày mai sẽ đưa nàng ra bến thuyền…”
Châu Thứ ngẩn người, nghe Châu Dương vội vàng bổ sung: “Đúng là như vậy! Đại ca không đủ bạc nên mới thả con vào sòng bạc! Nếu hôm nay con không thắng đủ, e rằng đại ca còn chưa gom đủ tiền chuộc thân cho cô nương đó nữa… Ai da, phụ thân đừng đánh nữa, đau quá!”
Bạch Tiều giận dữ quay ngoắt lại: “Nhìn xem, nhìn xem, ta đã sớm bảo ông nên hỏi thêm một câu, ông cố chấp không nghe, cứ phải đánh rồi mới chịu gọi ta ra giáo huấn. Ta giáo huấn rồi, ông đã vừa lòng chưa?”
Nói đoạn, bà không để ý đến ai nữa, nhấc chân bỏ đi: “Ta ở tiền viện làm hai chén sữa bơ, bổ thêm ít hoa quả hiếm vừa mua ở bến thuyền sáng nay, mấy đứa qua đó dùng chút đi.”
Châu Dương như cá chép hóa rồng, bật dậy khỏi ghế dài, tập tễnh khập khiễng đi theo: “Nương, đợi con với…”
Châu Đàn trừng mắt nhìn theo bóng lưng hắn, cố gắng đứng dậy, nhưng bị đau đến nhăn nhó, căn bản không thể bò lên: “Này, đệ…”
Sao đệ ấy lại đứng dậy được thế nhỉ?
Châu Dương quay đầu lại, làm một vẻ mặt quỷ quái với chàng: “Đại ca không thường xuyên bị đánh, tự nhiên không biết cái lợi của thân thể da dày thịt béo này rồi.”
Cuối cùng, Châu Thứ có chút áy náy đỡ chàng dậy.
Hai phụ tử cùng ở tiền viện ngắm trăng.
Tuyết ban ngày đã ngừng rơi, đọng lại một lớp mỏng trên mặt đất. Giang Nam hiếm khi có tuyết đọng, có những đóa hoa nghênh xuân rực rỡ nở ở góc tường, cùng tuyết điểm xuyết, cũng xem như thanh nhã.
Hai người không ai lên tiếng trước. Một lát sau, Châu Thứ đột nhiên khe khẽ hát lên một khúc ca Châu Đàn chưa từng nghe.
Dường như là khúc quân ca, giọng Châu Thứ khàn đục, khúc điệu chẳng thành, nhưng Châu Đàn nghe kỹ, lại cảm thấy như nghe thấy ý vị gươm giáo, vó ngựa trong đó.
Ông hát xong, Châu Đàn liền hỏi: “Khúc ca phụ thân vừa hát là ca dao khi xưa người hành quân sao?”
Châu Thứ gật đầu, ánh mắt có chút phiêu đãng: “Phải… là khúc ca tướng quân thường dẫn chúng ta hát khi xưa. Người hát rất hay, ta chỉ là bắt chước được một hai phần mà thôi. Khúc này mẫu thân con cũng biết hát, hôm nào ta bảo bà ấy hát cho con nghe.”
Ông do dự mãi, mới khó khăn mở lời: “Tiêu Bạch…”
Châu Đàn đáp: “Dạ.”
“Con có biết, vì sao con chưa đến tuổi nhược quán đã có tên tự không?”
Châu Đàn không đáp lời. Châu Thứ tự mình nói tiếp: “Kỳ thực, ta không phải…”
“Phụ thân không cần nói nữa.” Châu Đàn đột nhiên cắt lời ông, khẽ cười: “Con… đã sớm biết rồi.”
Châu Thứ vô cùng kinh ngạc, quay đầu nhìn con trai lớn bên cạnh. Châu Đàn cũng quay mặt lại, đồng tử màu hổ phách nhạt dưới ánh trăng có màu sắc như lưu ly.
Ông bỗng thấy mình có chút lắp bắp: “Ta… ta vốn định… đợi con lớn thêm chút nữa…”
“Mật thất trong thư phòng của mẫu thân, từ nhỏ con đã lén mò vào rồi.” Châu Đàn vươn vai, ngước đầu nhìn trăng: “Sau này lớn hơn, mẫu thân đã kể hết mọi chuyện cho con. Vốn là đã hẹn phải giấu phụ thân.”
Nửa ngày sau, Châu Thứ mới lấy lại được giọng nói của mình: “Di vật của phụ thân con…”
“Con đều đã xem qua.” Châu Đàn bình tĩnh trả lời, cứ như đang thảo luận về chiêu thức mới học được ở bãi luyện võ hôm nay: “Năm sau con có thể tham gia khoa cử rồi. Chờ lúc lên kinh ứng thí, đạt được kim bảng đề danh, con nhất định sẽ thay mẫu thân hỏi bệ hạ một câu…”
Các sĩ tử khoa cử nối tiếp nhau đông đảo như biển, nhưng “kim bảng đề danh” thốt ra từ miệng chàng lại nhẹ nhàng vô cùng, cứ như thể chỉ cần chàng muốn, nhất định có thể làm được.
Chưa đợi Châu Thứ kịp phản đối, Châu Đàn đã cười và tiếp lời: “Phụ thân không cần lo lắng, con không phải kẻ ngốc, biết rõ chừng mực. Hỏi như thế nào, hỏi lúc nào, câu trả lời có thật lòng hay không, con đều có cách tự mình phân biệt được.”
Im lặng một hồi lâu, Châu Thứ mới nở một nụ cười cay đắng: “Con… rất giống phụ thân con. Người ấy một đời cầm đao dài cưỡi ngựa sắt rong ruổi, kiêu hãnh như gió, đại khái khi chết cũng không hề hối hận. Để lại di nguyện, cũng chỉ mong mẫu thân con sống tiếp mà không mang lòng thù hận.”
“Đúng ạ.” Châu Đàn có chút xuất thần tiếp lời: “Nửa đời chinh chiến, lấy thân tuẫn đạo, biên cảnh bình an đến tận bây giờ, vạn dân nhờ ơn, người là nhân vật vĩ đại biết bao… Nếu con có thể trở thành một nhân vật như người…”
Chàng chưa nói hết, Châu Thứ đã thở dài một tiếng, vỗ vỗ vai chàng.
“Sẽ được thôi, Đàn Nhi. Con sẽ trở thành người còn lỗi lạc hơn cả phụ thân con.”
Châu Đàn bị ông vỗ vai, sắc mặt chợt biến, “xì” một tiếng, nhưng miệng vẫn khẽ nói: “Phụ thân có thể… kể thêm cho con nghe về người ấy được không?”
Châu Thứ vừa định trả lời, liền nghe tiếng Bạch Tiều từ hành lang trước vọng đến: “Đàn Nhi, mau đến đây!”
Thế là ông ha hả cười lớn: “Được, lần sau, lần sau ta nhất định sẽ kể cho con nghe nhiều hơn.”
Ký ức của Châu Đàn về đêm đó vô cùng mơ hồ.
Chỉ nhớ mình đi xuyên qua hành lang dài hoa nghênh xuân nở rộ, theo Vận ma ma đến phòng bếp, cùng Châu Dương ăn món sữa bơ rưới quả xoài vô cùng mới lạ mà mẫu thân chuẩn bị.
Nửa đêm về phòng, chàng nghe thấy mẫu thân và phụ thân đang tranh cãi điều gì đó.
“Ta không có ý muốn để nó quay lại Biện Đô… Triều cục… hà tất?”
“Nhưng mà…”
Từng câu chữ quá đỗi mơ hồ không rõ, chàng lơ mơ nghe thấy, quay đầu liền quên sạch sành sanh.
Sáng sớm ngày hôm sau, Châu Dương theo Châu Đàn cùng ra bến thuyền tiễn Tiểu Diệp lên thuyền.
Ngày hôm trước, Châu Đàn cùng bằng hữu bên cạnh đã chọn cho mẫu thân Tiểu Diệp một khu mộ tươm tất, an táng người xong, rồi hỏi về dự định của nàng.
Tiểu Diệp suy nghĩ một lát, rồi nói: “Mẫu thân từng nói ta có một cố nhân ở Kim Lăng. Tuy không biết có tìm được hay không, nhưng dù sao cũng là một nơi để đi.”
Nàng nói đến đây, lại thoáng thêm một tia cay đắng: “Ta sinh ra đã mang thân phận tiện tịch, dẫu gặp đại xá cũng không thể thoát khỏi thân phận này, ở đâu thì cũng như nhau mà thôi… Chỉ là Lâm An là đất sầu thương, Kim Lăng cùng Biện Đô, có lẽ sẽ tốt hơn đôi chút.”
Hôm qua khi an táng, Châu Đàn mới biết Tiểu Diệp vốn xuất thân từ gia đình quan hoạn, chỉ là khi mẫu thân nàng đang mang thai thì gia đình bỗng gặp họa lớn, nam nhân bị chém đầu, nữ quyến bị sung vào Giáo Phường Ti, không được tự chuộc thân.
Chàng ngày hôm qua đã chạy ngược chạy xuôi, cũng chỉ miễn cưỡng đổi được cho nàng văn thư từ Lâm An đến Kim Lăng.
Châu Đàn thở dài, gật đầu: “Ta ở Kim Lăng có một cố hữu chưa từng gặp mặt. Ta đã viết một phong thư tay, khi cô đến đó thì cầm đi tìm hắn, nhờ hắn chiếu cố một phen.”
Bạch gia ở Kim Lăng là đại gia tộc, chắc chắn có thể giúp Tiểu Diệp tìm được người. Bạch Sa Đinh nghe nói mình có đường huynh đệ nên rất hứng thú, mấy năm trước đã gửi thư từ tới.
Châu Đàn cũng hồi âm vài phong, cảm thấy người này tuy lời lẽ có phần xốc nổi, tùy tiện nhưng lại có vài phần phong thái văn nhân, quả là đối tượng đáng để kết giao.
Tiểu Diệp nhận lấy thư, trước khi lên thuyền bỗng nghiêm chỉnh quỳ xuống, hướng về hai người hành một đại lễ.
“Đa tạ công tử… tạ ơn cứu mạng. Năm sau nếu ta có chỗ hữu dụng với công tử, chắc chắn sẽ không ngại xông pha nước sôi lửa bỏng, không từ nan.”
Sau khi thuyền đi xa, Châu Dương khoác vai Châu Đàn quay về, tặc lưỡi tán thưởng: “Tiểu Diệp cô nương tuy nhan sắc không phải sắc nước hương trời, nhưng quả thật là khiến đệ nhìn thấy cũng phải thương xót. Huynh trưởng…”
Châu Đàn mặt mày đen sầm: “Đệ tuổi còn nhỏ, lại bắt đầu có suy nghĩ đến những chuyện này rồi.”
Châu Dương tỏ vẻ oan uổng: “Đệ có nói gì đâu, sao huynh lại vội vã, lo lắng chứ?”
Hai huynh đệ vừa đùa cợt vừa đi từ bến thuyền về phố chợ. Châu Dương đi ngang qua tiệm nhỏ, tiện tay mua mấy chiếc bánh bao nhân thịt, nói: “Giờ này, mẫu thân ắt chưa dậy, mang về khỏi phải phiền đến Vận ma ma làm bữa sáng nữa.”
Châu Đàn do dự nói: “Đêm qua… ta dường như nghe thấy tiếng vó ngựa, phụ mẫu có phải đã xuất phủ rồi không?”
Châu Dương đáp: “A? Đệ không hề nghe thấy… Đệ cũng lấy làm lạ, sáng nay xuất phủ quả có thấy trong phủ yên tĩnh, không nghe tiếng phụ thân múa kiếm.”
Hai người còn đang tâm sự lảm nhảm điều gì đó thì cố hữu hôm qua cùng Châu Đàn uống rượu đột nhiên vỗ vai chàng từ phía sau. Hắn thở hổn hển, như đã tìm chàng từ rất lâu.
“Đàn lang, Đàn lang! Ngươi… ngươi mau đến huyện nha xem thử, có… xảy ra chuyện rồi!”
Châu Đàn tuy lúc nhỏ có chút ăn chơi, lêu lổng nhưng tính nết vẫn luôn trầm ổn vững vàng. Mấy người kết giao cùng chàng cũng vậy, ít khi thấy dáng vẻ thất thố như lúc này. Chàng nhìn thần sắc kinh hoảng của đối phương, cảm thấy tim “phụp” một tiếng, nặng nề chìm xuống.
05. Mộng Hồn Khứ
Tuyết đọng chưa tan, hoa nghênh xuân đã nở, Châu Đàn nhớ rõ ngày đó là một ngày trời quang mây tạnh.
Châu Dương quỳ bên cạnh chàng, khóc lóc thảm thiết, xé lòng, gào thét điều gì đó, nhưng chàng không nghe thấy được một chữ nào.
Tiếng khóc, tiếng nghị luận, tiếng gào thét, hỗn tạp một mảnh. Chàng quỳ giữa tâm của dòng xoáy nước, cảm thấy một trận trống rỗng, mờ mịt bao trùm.
Âm thanh quen thuộc dường như vẫn còn vương vấn bên tai chàng.
“Đàn Nhi, hôm nay con lần đầu đến trường, mẫu thân tặng con một bức tự, mong con sau này giữ mình, giữ sự ngay thẳng, dù ở hoàn cảnh nào cũng phải ghi nhớ lời dạy của ta hôm nay.”
“Mẫu thân…”
“Chữ này ở trong Luận Ngữ, ‘Đốc tín hiếu học’, là muốn con…”
“Con nhất định sẽ ghi nhớ lời dạy dỗ của mẫu thân.”
“Nửa câu sau là… ‘Giữ đạo đến chết’.”
…
“Thiên hạ hữu đạo, dĩ đạo tuẫn thân. Thiên hạ vô đạo, dĩ thân tuẫn đạo.” (nghĩa của câu này đã giải thích ở chương 120 rồi nha)
“—Không được trốn chạy.”
“Mẫu thân!”
“Đại công tử, đại công tử!”
Có người phủ nha đến lay vai chàng. Châu Đàn chậm rãi ngẩng đầu lên, như cái xác không hồn đi theo hắn vào nội đường.
Châu Thứ khi ở Lâm An hay làm việc thiện, hanh danh của ông không tồi, phủ nha biết ông là tướng cũ của Lăng Tiêu quân nên cũng rất mực tôn kính.
“Đại công tử, xin nén đau thương… Lúc này nói nhiều e rằng quá tàn nhẫn, nhưng liên quan đến sinh mệnh, ta lại không thể không nói thêm. Lệnh tôn chết bởi một nhát dao chí mạng ở cổ, quanh thân có dấu vết giằng co qua lại. Lệnh đường… dường như tự mình nhảy xuống vách núi, chúng ta tìm được trên người bà một phong huyết thư.”
Nghe đến đây, Châu Đàn mới phản ứng kịp, nắm lấy tay vị Lâm An thông phán trước mặt: “Huyết thư… ở đâu?”
Vị thông phán thở dài, sai người dâng vật đó lên, miệng vẫn lẩm bẩm nói tiếp: “Lâm An trăm năm bình yên, ít thấy giặc cướp. Đại công tử tự mình nghĩ lại xem, lệnh tôn và lệnh đường có kết thù oán với ai không?”
Huyết thư là Bạch Tiều xé một góc váy mà viết, nét chữ nguệch ngoạc, lộn xộn. Châu Đàn nâng mảnh huyết thư đó lên, tay run rẩy dữ dội, một lúc lâu mới có thể đọc được.
“Con ta thấy được vật này… hôm nay bỗng nghe được chuyện kinh hãi đột ngột… chẳng thể kể hết, mong con chớ vào rừng núi, chớ ôm giữ chuyện xưa.”
“Biển cả dẫu có dạy sóng, thế sự có thay đổi… vẫn nên giữ lấy bản tâm… Bạch Tiều tuyệt bút.”
“Ý này là sao? Ý này là sao?” Châu Dương ôm lấy khối huyết thư đó, hai mắt đỏ ngầu: “Mẫu thân là muốn chúng ta… đừng tìm kẻ thù sao? Vụ án này rõ ràng có uẩn khúc, châu phủ vì sao không thể cho tìm kiếm quanh rừng núi, tìm ra hung thủ?”
Hắn lảo đảo đứng dậy, giật lấy bồi đao trong tay tên sai dịch bên cạnh: “Ta không phục, ta không phục!”
“A Dương, đủ rồi!” Châu Đàn quỳ tại chỗ, trầm tĩnh nói một tiếng. Chàng vịn vào đầu gối khó khăn đứng dậy: “Trước hết… hãy an táng tử tế phụ thân và mẫu thân đã.”
Châu Đàn không chọn nơi chôn cất ở ngoại ô Lâm An, mà lại hỏa táng hai người. Châu Thứ và Bạch Tiều đều không phải người Lâm An, linh hồn trở về cố hương, tro cốt theo người, có lẽ sẽ an yên hơn đôi chút.
Ngày hỏa táng gió rất lớn. Châu Dương xoa xoa chiếc áo tang vải gai thô ráp trên người, ngẩng đầu nhìn huynh trưởng đối diện.
Huynh trưởng như thể chỉ sau một đêm đã trở thành người lớn. Chàng không rơi một giọt nước mắt nào, khóe mắt đỏ hoe, biểu tình lạnh nhạt. Sau khi Châu Dương kéo góc áo gọi mấy tiếng, chàng mới như vừa mộng tỉnh giấc, thậm chí còn nở một nụ cười nhạt với hắn: “A Dương, có chuyện gì sao?”
“Ca ca” hắn khẽ gọi, lòng đầy mờ mịt: “Sau này chúng ta nên đi về đâu?”
“Sau này?” Châu Đàn ôm tro cốt của phụ mẫu, xuất thần một lát, sau đó cụp mắt xuống, trả lời vô cùng bình tĩnh: “Trước đây thế nào, sau này vẫn như thế đó. Đệ chăm chỉ học hành, nếu muốn tham dự võ thí… cũng không phải là không được. Chờ một thời gian nữa, đợi ta tới Biện Đô thi khoa cử…”
Chàng chìm vào trầm tư, không tiếp tục câu chuyện.
Châu Dương thấu rõ trong lòng huynh trưởng còn vướng bận việc khác, song không truy hỏi. Trái lại, Châu Đàn lại nhìn hắn thêm lần nữa, hỏi: “Sao đệ chẳng hỏi ta, vì lẽ gì phải ngăn quan phủ soát núi?”
Châu Dương đáp không chút ngần ngại: “Đệ còn trẻ, chưa tường tận thế sự… nhưng phàm là việc ca ca làm, ắt hẳn đều là đúng.”
Châu Đàn khẽ khựng lại, lặng lẽ xoa đầu hắn.
Song, mọi sự lại chẳng đơn giản như lời hắn nói.
Thường ngày, Châu Dương tan học tại thư viện, thường ghé thao trường ngoài thành mà rèn luyện. Hắn từng kết giao bằng hữu trong quân doanh ở đó, thêm chút nể mặt Châu Thứ nên vị thống lĩnh tập binh khi rảnh rỗi cũng hay chỉ dẫn cho hắn vài điều. Châu Dương do Châu Thứ đích thân dạy dỗ, việc múa thương múa bổng chẳng hề xa lạ.
Nhưng dạo gần đây, Châu Đàn lại thấy đệ đệ mình ít lui tới thao trường. Nếu hỏi thẳng, e rằng hắn sẽ chẳng nói thật. Châu Đàn ngẫm nghĩ một phen, bèn mở tiệc mời vài bằng hữu thân thiết năm xưa, muốn dò la từ miệng họ xem rốt cuộc đã xảy ra chuyện gì.
Trên tiệc, bằng hữu muốn nói lại thôi, cuối cùng chỉ úp mở tiết lộ: “Đàn lang, hiền đệ tuổi đời còn quá trẻ, cơ nghiệp nhà hiền đệ lớn như vậy, chỉ dựa vào hai huynh đệ nhà đệ, gánh vác lên nào có dễ dàng… Riêng chuyện hai nhà Vương, Lý vốn đã bất hòa với lệnh phụ, nay thấy hai hiền đệ như cá nằm trên thớt, sao lại không rục rịch rắp tâm?”
Châu Đàn hiểu rõ ẩn ý trong lời hắn, siết chặt chén rượu trong tay.
Nhà dột còn gặp mưa đêm, khi mấy người vừa bước ra khỏi lầu, lại vừa vặn chạm mặt Lý Minh Chi, tam lang của Lý gia, kẻ vốn xưa nay không đội trời chung với Châu Đàn.
Lý gia là cự phú* ở Lâm An, xuất thân buôn vải, hai năm gần đây chẳng hay bám víu được vị quan lớn nào ở Biện Đô nên phất lên như diều gặp gió tại thành Lâm An, ngay cả Thông phán cũng phải nể mặt đôi phần.
*Cự phú là từ khá cũ để chỉ một người hoặc nhà rất giàu.
Bậc trưởng bối Lý gia còn khá, nhưng con cháu lại được dạy dỗ đến mức không biết trời cao đất dày. Lý Minh Chi cứ một mực cho mình là tài năng xuất chúng, thường xuyên ba hoa khoác lác ở thư viện, làm nhục đồng môn. Mọi người không dám đắc tội, đành nhẫn nhịn được chừng nào hay chừng ấy.
Tuy nhiên, Châu Đàn lại chẳng phải kẻ dễ dàng nhẫn nhịn.
Ngày đầu tiên rời tư thục vào thư viện, Châu Đàn bị Lý Minh Chi gây khó dễ. Thế là, chàng đề một bài Oa Táo Thi* lên bức tường hành lang trước cổng thư viện. Toàn bài thơ chẳng một lời th* t*c, nhưng ai nấy đều biết kẻ được nhắc trong thơ là ai.
*Trong tiếng Trung oa táo (呱噪) có nghĩa là ồn ào, huyên náo, hoặc tiếng kêu của chim vịt. Còn lại chắc ẩn ý thì không cần giải thích nhiều nữa ha.
Lý Minh Chi mất hết thể diện, khổ nỗi không có cách nào đối phó. Thêm vào đó, gia tộc hắn cũng kiêng dè thân phận Châu Thứ, không dám gây chuyện, chỉ đành âm thầm ghi hận, tìm kiếm cơ hội báo thù nỗi nhục năm xưa.
Sau khi Châu gia gặp biến cố, đây là lần đầu tiên hắn gặp lại Châu Đàn.
Vẻ kiêu ngạo, điềm tĩnh thường trực trên gương mặt Châu Đàn nay đã biến mất. Lý Minh Chi nâng chén, vô cùng khoái trá mà đánh giá.
Tuy chàng vẫn giữ ánh mắt coi thường tất cả đó, nhưng cái khí phách làm chỗ dựa năm xưa đã chẳng còn đầy đủ, lọt vào mắt kẻ khác, liền hóa thành nỏ mạnh hết đà, không chịu nổi một kích.
“Đại công tử…”
Lý Minh Chi dẫn gia nô chặn đường Châu Đàn. Hắn không trở mặt ngay, mà mỉm cười nói: “Đại công tử, đã lâu không gặp. Nghe tin gần đây nhà hiền đệ gặp biến cố, làm huynh trưởng ta đây chẳng giúp được chi, vậy xin được kính hiền đệ một chén rượu vậy.”
Ánh mắt Châu Đàn lướt qua chén rượu hắn đang nâng, đáy mắt nổi lên vài phần chán ghét.
“Đa tạ Lý công tử có lòng.” Chàng nâng tay vái một cái, làm đủ lễ nghi: “Gần đây Đàn này thân thể chẳng an, không thể uống rượu, xin miễn bầu bạn.”
Chàng nhấc chân muốn bước đi, song Lý Minh Chi lại chẳng chịu buông tha: “Đại công tử không chịu uống rượu của ta, chẳng lẽ là coi thường ta ư?”
Thấy Châu Đàn sắc mặt không đổi, hắn càng được đà lấn tới, tiếp tục khiêu khích: “Lâm An ta đây nào có quy củ nào nói đang trong kỳ tang hiếu thì không được uống rượu đâu?”
Nhắc đến song thân, gân xanh trên trán Châu Đàn nổi lên. Chàng cố sức nhẫn nhịn, vòng qua chén rượu trước mặt. Lý Minh Chi nghiêng người ngăn lại, trong lúc xô đẩy, chén rượu rơi xuống đất, vỡ tan một tiếng giòn giã.
Châu Đàn lạnh lùng liếc hắn một cái, chẳng màng đến lễ nghi gì thêm nữa, quay người rời khỏi tửu lâu.
Gã hạ nhân muốn đuổi theo, nhưng bị Lý Minh Chi cản lại. Hắn cười tươi nhìn chằm chằm chén rượu dưới đất, ánh mắt lại lóe lên vẻ hung hiểm: “Không vội.”
Quả nhiên, đêm hôm đó, Châu Đàn phát hiện trên người Châu Dương có vài vết thương không bình thường.
Bị thương khi tỷ võ là chuyện thường, nhưng hắn lại bị thương ở ngực trước và lưng sau, rõ ràng không phải vị trí thường gặp khi giao đấu thông thường.
Châu Đàn run tay bôi thuốc cho thiếu niên mười bốn tuổi. Mãi lâu sau mới hỏi được một câu: “Vì sao… không nói cho ta biết?”
Châu Dương nằm sấp trên giường, không dám quay đầu, chỉ rầu rĩ đáp: “… Là tự đệ quá vô dụng, nói cho huynh trưởng làm chi. Đợi đệ luyện tốt võ công, nhất định sẽ đánh cho lũ tiểu nhân gió chiều nào che chiều ấy kia bò lê bò lết.”
Lòng chàng rối bời, không thể tiếp tục giả vờ bình tĩnh trước mặt đệ đệ nữa. Chàng giao thuốc lại cho Vận ma ma và Đức thúc, rồi một mình rời khỏi cửa, định tìm vị thống lĩnh xưa kia có giao hảo với phụ thân trong quân doanh Lâm An để nhờ vả, mong ông ấy giúp đỡ bảo vệ đệ đệ.
… Dẫu sao đệ đệ cũng mới mười bốn tuổi, có buông lời nguyền rủa ác ý, cũng chỉ là cố gắng tỏ vẻ mạnh mẽ mà thôi.
Sau đó, chàng bị Lý Minh Chi dẫn người chặn đứng ở con hẻm nhỏ cách nhà không xa.
Trong gió thu hiu quạnh, ánh trăng vàng vọt, Lý Minh Chi nhướng mày nhìn chàng, cười vô cùng khoái trá: “Ta thật chẳng ngờ, đại công tử gần đây lại dám một mình ra ngoài đi lại mà không đem theo người hầu.”
Gia nô bên cạnh áp sát tới. Châu Đàn đỡ được vài chiêu của chúng, nhưng ít không địch nổi nhiều, cuối cùng vẫn bị nắm cánh tay, ấn đến trước mặt Lý Minh Chi.
Chàng ngẩng cao đầu, mặt đỏ bừng vì bị sỉ nhục: “Lý Minh Chi, đồ hỗn xược nhà ngươi!”
“Ôi chao chao, đại công tử đến lúc này rồi, còn dám nói ra những lời như vậy cơ à, thật khiến người ta sợ hãi.” Lý Minh Chi nhận lấy bầu rượu từ tay tên gia nô bên cạnh, bóp cằm Châu Đàn. “Mới rồi chẳng phải hiền đệ không chịu uống rượu mời của ta sao, giờ ta lại muốn xem hiền đệ có uống hay không!”
Vừa dứt lời, hắn giơ tay đổ hết bầu rượu trong tay vào miệng chàng.
“Khụ…”
Châu Đàn sặc vài hơi, mặt lộ vẻ thống khổ. Lý Minh Chi đổ cho chàng nào phải là mỹ tửu trong lầu, mà là thứ rượu tồi tệ mua từ ngóc ngách nào đó. Mùi rượu nồng nặc, cay xè đỏ mắt.
Chất lỏng lạnh lẽo ghê tởm, rùng mình chảy xuống cổ họng.
Từ đó về sau, chàng sinh ra chán ghét uống rượu, hễ chạm cốc liền dễ say.
Lý Minh Chi đổ hết rượu trong tay, vung tay ném bầu rượu, cười ha hả. Châu Đàn quỳ phục trên mặt đất, cảm thấy trời đất quay cuồng.
Chàng s* s**ng viên gạch bên cạnh, mãi mới run rẩy đứng thẳng dậy được.
Mái tóc đuôi ngựa cột cao nay đã bung xõa từ lâu, trông vô cùng nhếch nhác, dính bết vào má, song chàng đến sức lực đưa tay vén ra cũng chẳng còn.
Lý Minh Chi vốn định thôi, nhưng thấy chàng ở trong tình cảnh này vẫn đứng dậy được, liền nhớ đến cái vẻ trước kia ở thư viện kẻ này luôn cao ngạo coi trời bằng vung, chưa bao giờ đặt hắn vào mắt. Lòng tức giận nổi lên, hắn chỉ vào chàng mà gào lên: “Ai cho phép hắn đứng dậy! Bọn bay, đánh, đánh cho đến khi hắn không thể đứng nổi nữa thì thôi!”
Bọn gia nô vâng lệnh, vác gậy tiến lại gần. Cú đánh đầu tiên giáng xuống sống lưng Châu Đàn.
… Chàng luôn giữ dáng đứng dáng ngồi đoan chính, lưng lúc nào cũng thẳng tắp. Lý Minh Chi căm ghét cái vẻ thanh cao, tự phụ ấy đến thấu xương, nhất quyết phải đạp chàng xuống bùn lầy.
Châu Đàn phát ra một tiếng rên khẽ vì đau đớn, nhưng ngón tay vẫn bấu chặt vào bức tường, nhất quyết không chịu ngã xuống dễ dàng. Thế là ngực trước và lưng sau chàng lại liên tiếp chịu thêm mấy gậy nữa.
Dưới ánh trăng mờ ảo, có tên gia nô thấy khóe môi chàng rỉ máu, do dự một lát rồi khuyên: “Thiếu gia, hay là… thôi đi, nếu chuyện này làm lớn, e không có lợi cho ngài đâu.”
Lý Minh Chi chần chừ một hồi, rốt cuộc vẫn có chút sợ hãi, bèn phất tay dẫn gia nô rời đi. Trước khi đi, hắn còn ác ý đá một cú vào khoeo chân Châu Đàn.
Châu Đàn vịn tường quỳ rạp trên mặt đất, cảm thấy mình như đã mất đi tri giác. Chẳng biết qua bao lâu, chàng mới lờ mờ tỉnh lại.
Con hẻm nhỏ tĩnh mịch không một tiếng động, Lâm An đã vào cuối thu rồi.
Chàng nghỉ lấy hơi một lúc lâu, muốn gắng sức bò dậy, nhưng cơn đau không cho phép, trái lại còn khiến chàng ngã vật xuống đất.
Châu Đàn cố lết đi vài bước, vô thức đưa tay quệt ngang khóe môi, rồi chợt nhận ra mu bàn tay mình dính đầy máu.
Dưới ánh trăng, chàng thất thần nhìn vệt máu tươi ấy. Sau hồi lâu, chàng mới cảm nhận được những giọt nước ấm nóng lăn dài nơi khóe mắt.
“Phụ thân, mẫu thân…”
Chàng khi ấy còn chưa tròn mười sáu tuổi.
Sau khi song thân qua đời, đối ngoại phải giữ thể diện gia tộc, đối nội phải chống đỡ cho đệ đệ còn thơ dại, điều đó thôi đã khiến chàng mỏi mệt không chịu nổi. Chàng gần như quên mất, bản thân mình cũng chỉ là một đứa trẻ mà thôi.
“… Con, con phải làm sao đây? Con biết phải làm gì mới tốt đây?”
Chàng muốn lau đi nước mắt, nhưng càng lau lại càng tuôn rơi nhiều hơn, máu tươi hòa lẫn nước mắt, lem luốc một mảnh.
Ý thu thăm thẳm, xung quanh lạnh buốt. Chàng ngẩng đầu, nhìn vầng trăng ngả vàng trên trời, nhớ về bao chuyện cũ, khẽ rùng mình một cái rồi lại quên hết thảy.
Giữa lúc chàng chẳng hay mình đã nằm phục dưới đất bao lâu, bỗng có một cánh bướm bay tới, đậu trên ngón tay dính máu của chàng.
Châu Đàn ngây người nhìn con bướm, buột miệng hỏi: “Mi… đến cứu ta ư?”
Bướm không thể đáp lời, chỉ khẽ phe phẩy đôi cánh tuyệt đẹp.
Nó dường như nghe hiểu lời chàng nói, buồn bã bay lượn vòng quanh chàng hồi lâu, cho đến khi chàng dồn hết sức lực, cuối cùng cũng bò dậy được, lảo đảo ngã khuỵu trước cổng nhà, nó mới chập chờn bay đi.
Vết thương này dưỡng chừng bốn năm ngày Châu Đàn mới dám giả vờ như không có chuyện gì mà đi gặp Châu Dương. Câu nói đầu tiên khi gặp đệ đệ là: “A Dương, đệ sửa soạn hành trang đi, chúng ta… đến Biện Đô thôi.”
Châu Dương nghe lời chàng nhất, chẳng chút ngần ngại mà đồng ý.
Một ngày trước khi lên đường, Châu Đàn kiên nhẫn đợi bên ngoài Túy Hồng Lâu suốt hai ba canh giờ, cuối cùng cũng gặp được Lý Minh Chi say khướt.
Chàng bày kế dẫn gia nô của hắn đi, rồi lừa hắn vào xe ngựa của mình.
Cho đến khi xe đi được vài dặm, Lý Minh Chi mới thấy có điều chẳng lành, hắn bực dọc gầm lên: “Hôm nay sao lâu thế, các ngươi có phải…”
Lời chưa dứt, hắn đã thấy Châu Đàn vén rèm bước vào, bên tay nắm một thanh đoản đao chạm vàng khắc hoa.
Trong khoảnh khắc, rượu của Lý Minh Chi tan biến hết: “Đại, đại công tử…”
Hôm nay Châu Đàn vẫn mặc chiếc áo bào cổ tròn màu xanh da trời thêu lá trúc thường ngày, chàng không còn buộc tóc đuôi ngựa nữa, mà học theo người lớn cài trâm bạch ngọc.
Chàng hờ hững nhướng mắt nhìn Lý Minh Chi một cái, rồi chẳng nói một lời dư thừa, nâng tay dùng thanh đoản đao ấy xuyên thủng mu bàn tay hắn, đóng chặt tay hắn lên chiếc bàn nhỏ trong xe ngựa.
Lý Minh Chi vạn lần không ngờ chàng lại cả gan đến thế, quên cả kêu đau, mồ hôi lạnh túa ra sau lưng, thấm ướt y phục ngay lập tức: “Châu, Châu Đàn, ngươi dám! Ta, ta…”
Châu Đàn xoay nhẹ thanh đoản đao trong tay, lại nở một nụ cười với hắn: “Dám hay không, chẳng phải đã làm rồi ư?”
Lý Minh Chi lúc này mới cảm thấy đau đớn. Vừa gào thét thảm thiết đến xé lòng, hắn vừa kinh hồn bạt vía nhìn Châu Đàn trước mặt. Chàng quá đỗi xa lạ, xa lạ đến mức dù giờ khắc này chàng có g**t ch*t hắn tại đây, hắn cũng chẳng thấy chút kinh ngạc nào.
Hắn há to miệng, vừa định mở lời cầu xin tha thứ, thì nghe Châu Đàn lạnh lùng nói: “Lý Minh Chi, ngươi hãy nghe cho rõ đây.”
“Hôm nay, ta không giết ngươi, chỉ phế đi một cánh tay ngươi. Ngày mai ta sẽ rời khỏi Lâm An, ngươi sẽ không tìm được bất cứ chứng cứ nào. Có kiện lên châu phủ cũng chẳng làm gì được ta, huống hồ… đâu chỉ Lý gia các ngươi có chỗ dựa ở Biện Đô.”
Chàng khẽ nâng tay, rút thanh đao ra. Máu tươi bắn lên mặt, nhưng chàng vẫn dửng dưng, thậm chí không hề lau đi: “Ngươi có biết vì sao ta không giết ngươi không? Ta nói cho ngươi hay… Vài năm sau, ngươi nhất định sẽ lại nghe thấy thanh danh của ta: đứng đầu bảng vàng Kim Các, làm quan trong triều, đăng các bái Tướng. Ta sẽ mãi mãi nhớ kỹ ngươi, còn ngươi… chỉ có thể trơ mắt lắng nghe ta thăng tiến càng lúc càng cao qua lời đồn mà chẳng thể làm gì được. À, ngươi tốt nhất là ngàn vạn lần tuyệt đối đừng để ta nghe thấy ngươi làm điều ác nào, bằng không ta hứng chí lên, sẽ quay về tìm ngươi đấy.”
Chàng thong thả lau sạch vết máu trên lưỡi đao, giọng nói như mê sảng: “Hãy để ngươi… sống trong nỗi sợ hãi ấy cả đời đi.”
Đó là lần đầu tiên chàng ra tay làm tổn thương người khác.
Sáng hôm sau lên đường đến Biện Đô, chàng lâm trọng bệnh, bệnh kéo dài mãi không dứt. Kể từ đó, chàng cũng ít khi luyện võ nữa.
_
Sau này Châu Đàn không quay về tìm Lý Minh Chi.
Chàng cũng chẳng còn nghe thấy cái tên ấy nữa, thuận lý thành chương mà quên đi một kẻ không quan trọng.
Chàng trở thành Trạng Nguyên lang khiến triều đình kinh ngạc, đã nghe được đáp án mình muốn từ lão sư và hoàng đế.
Khi được điều ra địa phương làm quan, chàng đã bắt được tử sĩ của Cảnh Vương phủ, kẻ năm xưa bảo vệ Tống Thế Huyên tại Bình Giang phủ.
Tên tử sĩ đó đã mai danh ẩn tích từ lâu. Nếu không quá bận tâm đến tờ tố trạng mà thị vệ của Châu Thứ và Bạch Tiều năm xưa đã gửi đến phủ Lâm An, hắn hẳn đã không để lộ thân phận.
Châu Đàn ngồi trước công đường, từ trên cao nhìn xuống, đọc lặp đi lặp lại bản cáo trạng đó, lẩm bẩm: “Hèn gì…”
Bạch Tiều tuy đã nghe theo di nguyện của Tiêu Việt, tuyệt đối không gieo rắc hận thù cho đời sau, nhưng trong lòng bà rốt cuộc vẫn không mong Tống Sưởng đăng cơ.
Thế nên, trước lúc lâm chung, bà đã nhận ra thân phận của đối phương, dùng máu thấm vào ngón tay mà báo cho chàng biết: “Chớ vào rừng núi.”
Châu phủ nếu truy lùng kỹ lưỡng, ắt sẽ tìm ra Cảnh Vương Tôn đang lưu lạc bên ngoài khi đó. Cảnh Vương một khi tuyệt tự thì cơ nghiệp Tống Sưởng một mạch sẽ vĩnh viễn ngồi vững trên giang sơn.
“Cảnh Vương… Tôn?”
Là hậu duệ của Cảnh Vương được lão sư bảo hộ.
Chàng chợt cảm thấy vô cùng hoang đường, nhưng còn chưa kịp phản ứng thì tên tử sĩ kia đã đoạt lấy kiếm của chàng, không chút do dự mà tự vẫn ngay trước mặt chàng.
“Thưa tiên sinh… Việc này hoàn toàn do ta và Thập Cửu hành động bốc đồng. Nếu tiên sinh trách phạt, ta nguyện dùng mạng đền tội, chỉ cầu tiên sinh chớ liên lụy đến tiểu điện hạ… Người còn quá nhỏ, chẳng hay biết gì…”
Châu Đàn im lặng ngồi đối diện với thi thể đó suốt một đêm.
Ngày hôm sau, chàng cho người đến, quẳng xác hắn vào bãi tha ma.
“Thôi vậy…”
Thiên đạo vốn là thế. Đôi khi chẳng có ai làm điều sai trái, chỉ là người mất mát luôn là chàng mà thôi.
Bể dâu thay đổi, chàng say khướt trong ánh xuân, tỉnh dậy vạn sự đều đã tan biến.
Cứ như lời mẫu thân từng dặn dò, chớ vào rừng núi, chớ ôm giữ chuyện cũ.
Biển cả dạy sóng, tự giữ bản tâm. Vững tin hiếu học, giữ trọn đạo lý đến cùng.
Chàng cô độc bước trên con đường của riêng mình.
Cho đến một buổi sớm mờ mịt vài năm sau đó…
Châu Đàn ôm lấy vết thương vừa lành trước ngực, khoác chiếc hỷ bào màu đỏ thêu viền vàng, loạng choạng bước qua màn sa trước giường. Một nữ tử đang đứng trước tấm bình phong của chàng. Khi chàng vừa cất lời, nàng đã đưa ánh mắt quen thuộc như đã từng thấy trong giấc mộng về phía chàng.
Cánh bướm trong mộng đã bay qua đêm xuân khổ ải.