Bạch Tuyết Ca

Chương 3: Xuất giá



Nàng đã cân nhắc kỹ lưỡng, suy đi tính lại mới dám nói những lời này trước mặt Doãn Tương Như, chẳng hay mẫu thân có cảm thấy những lời ấy không giống lời một nữ nhi nên nói hay không.

Doãn Tương Như trầm mặc hồi lâu, ngón tay vuốt nhẹ mái tóc nàng, rồi lại nở một nụ cười yếu ớt: “A Liên, thì ra con đã trưởng thành rồi.”

Lúc ấy là giao mùa xuân hạ, ngoài cửa sổ cây xanh rợp bóng, tơ mỏng nhẹ vờn trong nắng quang, Doãn Tương Như khẽ ngước mắt, ngẩn ngơ nhìn những vệt bóng cây loang lổ trên cửa chạm hoa, miệng lẩm bẩm: “A Liên nói phải, bị vây trong khốn cảnh mà chẳng nản lòng, dù ngõ hẻm sâu hút cũng có thể nhòm thấy ánh trời, đó vốn nên là sự khoáng đạt của con. Mẫu thân chẳng biết còn phải dặn dò con điều gì, chỉ một câu này, con phải ghi nhớ. Nếu đối phương quả thật vô lại, con tuyệt đối không được một mực nhẫn nhịn, làm tổn thương thân mình, bởi lẽ việc đó chỉ khiến người thương con đau lòng, kẻ ghét con đắc ý.”

Khúc Du quỳ ngay ngắn, dập đầu cúi lạy người, nói: “Xin mẫu thân an lòng.”

Thực lòng, nàng có phần bất mãn với lễ tiết quỳ lạy của người xưa, song bộ dạng Doãn Tương Như rơm rớm nước mắt nhìn nàng, luôn khiến nàng nhớ đến mẹ mình.

Khi nàng còn rất nhỏ, ba đã qua đời, nàng thậm chí chẳng nhớ nổi dung mạo ông. Mẹ nàng là một luật sư bận rộn, một tay nuôi nàng khôn lớn. Nàng rất kính trọng nghề nghiệp của mẹ, khi tốt nghiệp phổ thông mà vẫn mông lung, nàng đã thuận theo con tim mà chọn luật pháp làm chuyên ngành.

Mẹ nàng luôn thức khuya làm thêm, nghiêm nghị ít cười, nhưng chưa từng ngăn cản bất cứ quyết định nào của nàng. Khúc Du vẫn nhớ khi nàng quyết định học lên thạc sĩ khác chuyên ngành, mẹ từng hỏi: “Vì sao con lại chọn ngành này?”

Nàng đáp: “Học luật là để tìm chân lý cho người bị oan, học sử là để tìm chân lý cho thế nhân xưa nay. Con cảm thấy chúng tuy khác đường nhưng cùng chung mục đích, đều là muốn khám phá thế giới chân thật hơn.”

Mẹ nàng mỉm cười tán thưởng nàng.

Nhìn Doãn Tương Như trên giường, Khúc Du bỗng nảy sinh chút xót xa. Dẫu nàng biết những người này đối với nàng chỉ là cổ nhân của ngàn năm trước, nhưng tình thân máu mủ và sự ràng buộc này thì tự cổ chí kim, vẫn luôn bất biến.



Hai ngày thoáng chốc đã trôi qua.

Thánh chỉ ban xuống quá đỗi bất ngờ, người của Nhậm gia lại lo Châu Đàn thương nặng không qua khỏi, có thể từ giã cõi đời bất cứ lúc nào, nên đã vội vội vàng vàng định ngày thành hôn.

Hôm ấy là một ngày nắng ráo, vừa lúc gà gáy, Khúc Du đã bị hai thị nữ do Nhậm gia phái đến đánh thức khỏi giường, đỡ đến trước bàn trang điểm.

Hôn lễ thời xưa vô cùng cầu kỳ. Dù nàng chưa từng chuyên tâm nghiên cứu, nhưng đã từng giở qua sách tranh minh họa có liên quan trong thư viện. Thời Bắc Dận, lục Lễ gồm Nạp Thái, Vấn Danh, Nạp Cát, Nạp Chinh, Thỉnh Kỳ, Thân Nghênh đều có đủ, lại còn thêm một số quy củ kỳ lạ tinh tế khác.

Do hôn sự của hai người quá gấp gáp, nghi lễ cắt giảm được bao nhiêu thì giảm bấy nhiêu, Nhậm gia xoay xở một cách rất hời hợt, song lại gửi đến nguyên bộ hỉ phục tề chỉnh, tựa như đã được chuẩn bị từ trước.

Nói coi trọng thì chẳng phải, nói không coi trọng lại phụ bộ lễ phục rườm rà này, thái độ quả thực vô cùng gượng gạo.

Khúc Du mặc bộ hỉ phục xanh lục đậm có thêu hoa văn Bảo Tướng*, trên đầu đội kim diệp đỉnh quan, tay cầm chiếc quạt lụa tròn thêu hoa thạch lựu, bước ra cùng huynh đệ tỷ muội nói chuyện, sau đó lạy biệt song thân.

*Hoạ tiết hoa Bảo Tướng không chỉ có mặt trong tranh vẽ, điêu khắc chùa chiền, phù điêu đá mà còn xuất hiện trên đồ gốm sứ, gấm vóc, thảm dệt, trang phục hoàng gia. Nó được xem là biểu tượng của vẻ đẹp vĩnh cửu, phú quý và sự bảo hộ thiêng liêng, còn được dùng để cầu may, mong ước sự thịnh vượng, hạnh phúc.

Nàng có hai muội muội, một tên Khúc Gia Hy, một tên Khúc Gia Ngọc. Dù hai muội muội do thứ thiếp sinh ra, nhưng lớn lên cùng nàng, tình cảm vô cùng thắm thiết. Doãn Tương Như là một chủ mẫu rộng lượng, đối đãi với hai nàng chẳng khác gì con gái ruột thịt.

Hai muội muội đứng canh ngoài cửa, thấy nàng bước ra, Khúc Gia Hy liền không nhịn được mà lau nước mắt. Khúc Gia Ngọc bình thường tính tình tháo vát lại khẽ mắng: “Hôm nay là ngày vui của đại tỷ tỷ, tỷ khóc lóc cái gì…”

Nói thì là thế, nhưng chính nàng cũng lén lút đỏ hoe khóe mắt.

Đứng phía sau hai cô bé là một thiếu niên khoảng mười hai tuổi giơ tay hành lễ với nàng, đây chính là đệ đệ của nàng tên Khúc Hướng Văn.

Khúc Hướng Văn tuy tuổi còn nhỏ, nhưng cử chỉ lời nói đều phép tắc giữ lễ, có phong thái của quân tử thời xưa. Cậu bé rất điềm tĩnh, bình thường lại tay không rời sách vở. Tuy tuổi nhỏ, nhưng ý chí kiên định, có chí hướng, trông có vẻ là một đứa trẻ có tiền đồ.

Tiếc rằng hiền thần trong lịch sử quá nhiều, ngoài phạm vi nghiên cứu của nàng, nàng quả thực chẳng thể nhớ nổi trong sử sách rốt cuộc có tên cậu bé hay không.

Khúc Hướng Văn hành lễ với nàng xong, nghẹn ngào nói: “Hôm nay trưởng tỷ xuất giá, đệ chúc trưởng tỷ nhân duyên mỹ mãn, phúc lộc dài lâu.”

Sau đó, cậu bé ngẩng đầu lên, hạ giọng và trịnh trọng hứa hẹn: “Đại tỷ tỷ, đệ nhất định sẽ chăm chỉ đọc sách, giành lấy công danh, nếu Châu Thị Lang đối đãi chẳng quân tử, đệ sẽ đi đòi lại công đạo cho tỷ.”

Cậu bé yêu thương trưởng tỷ như vậy, khiến Khúc Du mỉm cười trong nước mắt, đáp: “Được.”

Nàng lấy quạt che mặt, vào trong đường lạy biệt mẫu thân. Doãn Tương Như cố nén nước mắt tiễn nàng lên kiệu hoa, lặp đi lặp lại: “Giá như phụ thân con còn ở đây thì tốt biết mấy.”

Châu Đàn bệnh nặng, biểu đệ của chàng thay mặt đón dâu. Đội rước dâu thưa thớt, chỉ có tiếng kèn vang lên giữa con phố náo nhiệt, kiệu hoa lắc lư đi qua đám đông ồn ào.

Khúc Du ngồi trong kiệu hoa màu đỏ không hề hoảng loạn, chỉ chợt thấy vô cùng hoang đường.

Nàng có vẻ ngoài khá tương đồng với Khúc Du nguyên bản, trước đây cũng từng có người theo đuổi, nhưng nàng bận rộn học hành, lại khư khư hướng tới một ‘tâm linh tương thông’ mơ hồ, bao nhiêu năm qua chưa từng yêu đương.

Ai ngờ thời không đột nhiên chuyển dịch, nàng lại phải trực tiếp xuất giá.

Mà người nàng phải gả cho là một người thực sự tồn tại trong lịch sử, một nịnh thần có sử liệu khan hiếm. So với những gian nịnh thần trong Nịnh Thần Truyện thông đồng với địch, tàn hại trung lương, Châu Đàn cùng lắm chỉ là say mê quyền thuật*, bất chấp thủ đoạn. Việc chàng đứng đầu danh sách, phần nhiều là vì những việc làm của chàng không hợp với giá trị quan của sĩ đại phu thời cổ mà thôi.

*Quyền thuật ở đây mang ý nghĩa là mưu mẹo, thủ đoạn, sách lược dùng để giành lấy, duy trì và thao túng quyền lực chính trị.

Nếu sử liệu ghi chép nhiều hơn, e rằng người quan tâm đến chàng cũng sẽ nhiều hơn, chàng đã chẳng đến mức như bây giờ, bị vùi lấp trong biển sử mênh mông.

So với lời mắng chửi, sự lãng quên dường như tàn nhẫn hơn. Chẳng hay bản thân Châu Đàn có để tâm hay không?

Nếu nàng không nghiên cứu luật pháp Bắc Dận, hẳn đã chẳng biết đến Châu Đàn. Nghe cái tên này, nàng sẽ chỉ nhớ tới chàng là nịnh thần đứng đầu trong sử sách, tuyệt đối không dám gả cho chàng.

Nghĩ đến đây, Khúc Du không khỏi bật cười. Chuyện xuyên không tự thân nó đã quá đỗi hoang đường rồi. So với điều này, việc xuất giá dường như cũng chẳng đáng kể gì nữa.

Giờ đây nàng vì vị người vô danh thần bí kia mà đi đến nơi này, chẳng hay có tính là một loại cơ duyên kỳ diệu?

Đường phía trước mờ mịt, may mắn là nàng bản tính lạc quan, vẫn có thể tự an ủi mình, nhân sinh cũng giống như sử liệu thần bí nàng say mê, nằm ở chỗ khám phá cái chưa biết vậy.



Kiệu hoa chẳng mấy chốc đã đến phủ đệ của Châu Đàn. Chàng bệnh nặng không thể dậy, biểu đệ là Nhậm Thời Minh không muốn thay mặt chàng bái đường. Khi đến chính đường, có người ôm một con gà trống đến để cùng Khúc Du hành lễ.

Bởi tiếng xấu của Châu Đàn, khi này, người đến dự hỉ tiệc thưa thớt, thậm chí chẳng đứng đầy một điện đường. Phụ mẫu chàng không còn, lại chẳng có bậc trưởng bối nào khác để bái lạy, trên chiếc bàn gỗ hoa lê phía trước chỉ cô độc bày hai chiếc bài vị.

Khúc Du trịnh trọng hướng về hai bài vị ấy hành lễ, rồi nghiêng mình cùng con gà trống có buộc dải lụa đỏ đối bái.

Tiếng chế giễu truyền đến từ phía dưới, nàng coi như mình chẳng nghe thấy.

Sau khi nghi lễ hoàn tất, nhũ mẫu của Châu Đàn trao cho nàng một dải lụa đỏ nối giữa hai người. Nàng tiếp nhận, đang định theo nhũ mẫu đi về phòng tân hôn thì đám đông đột ngột xôn xao.

Khúc Du quay người nhìn theo, cách mặt quạt lụa, nàng thấy một thiếu niên tóc vấn đuôi ngựa cao, mặc áo giáp cũ rách xông vào.

Nhũ mẫu đứng bên cạnh không nén được tiếng thốt lên khe khẽ: “Nhị công tử!”

Châu Đàn vốn có đệ đệ.

Sau khi phụ mẫu gặp tai họa ở Lâm An và chết thảm, Châu Đàn dẫn theo đệ đệ còn nhỏ lên kinh nương nhờ họ hàng xa là Nhậm gia, sau đó đỗ đạt khoa cử. Nhậm gia chịu cưu mang hai người họ, hết lòng bồi dưỡng, nghĩ lại thì quan hệ xưa kia hẳn là chẳng tồi tệ.

Chỉ là sau án Nhiên Chúc Lâu, gia chủ của Nhậm gia là biểu cữu bị liên lụy, bị phán lưu đày ba ngàn dặm. Nhậm gia phải cầu xin khắp nơi, vay mượn tiền bạc mới miễn cưỡng giữ được ông ở lại kinh thành. Thế nhưng trong suốt thời gian này, Châu Đàn lại chẳng mảy may động lòng, ngay cả một đồng tiền cũng không chịu bỏ ra.

Kể từ đó, Nhậm gia liền cắt đứt qua lại với Châu Đàn, ngay cả đệ đệ ruột của Châu Đàn là Châu Dương cũng tự nguyện đoạn tuyệt quan hệ với chàng tại từ đường, cam tâm tình nguyện ghi tên vào gia phả của Nhậm gia.

Nếu không phải lần này là thánh chỉ ban hôn, mà Châu Đàn lại thực sự không còn người thân nào khác, Nhậm gia tuyệt đối không chịu nhúng tay vào lo liệu cho chàng.

Châu Dương đã tòng quân từ đầu năm, từ đó không hề bước chân vào Châu phủ thêm lần nào. Hôm nay hắn đột ngột quay về, ai nấy đều kinh ngạc.

Nhậm Thời Minh tiến lên hai bước: “A Dương, sao đệ bất ngờ trở về vậy?”

“Đã phiền huynh trưởng lo lắng rồi. Hôm nay… hắn thành hôn, đệ dẫu sao cũng phải tới nhìn một phen.”

Châu Dương một thân thường phục quân doanh, tay cầm roi ngựa, ngay cả gươm đeo bên hông cũng chưa tháo xuống. Hắn khẽ giải thích với Nhậm Thời Minh một câu, rồi vênh váo bước đến trước mặt Khúc Du.

Nhũ mẫu của Châu Đàn là Vận ma ma đứng bên cạnh Khúc Du, run rẩy nói: “Nhị công tử, đại công tử bị thương nặng như vậy, ngài nên về thăm ngài ấy một chút. Ngài ấy trong cơn bệnh còn gọi tên ngài…”

“Vận ma ma, chẳng phải ta đã về rồi đó sao?” Châu Dương ngây người một chốc, rồi nhếch mép cười mà nói: “Ta nghe tin hắn bị thương nặng, lại nghe tin hắn cưới thê, liền phi ngựa cấp tốc xin nghỉ trở về. Dù không phải để chúc mừng, ta cũng phải đến bàn bạc với tẩu tẩu xem hai ngày nữa lo liệu tang sự cho hắn ra sao chứ.”

Vận Ma Ma tức đến run rẩy: “Nhị công tử…”

Trong đường không một ai lên tiếng phản bác. Nhậm Thời Minh biểu cảm phức tạp, muốn nói điều gì đó, nhưng cuối cùng lại im lặng.

Châu Dương vượt qua nhũ mẫu đi về phía Khúc Du, vươn tay chạm vào chiếc quạt lụa trong tay nàng, hơi dùng sức ấn xuống.

Hành động này hoàn toàn trái với lễ giáo, chẳng hay hắn muốn thấy mặt nàng hay là để khiêu khích.

Khúc Du liền theo đà sức của hắn, hạ chiếc quạt tròn trong tay xuống.

Châu Dương dùng sức hụt, ngẩn người một chút. Nữ tử trước mặt lại bình tĩnh cầm quạt, khẽ gật đầu với hắn: “Bái kiến nhị công tử, ta có nên gọi ngươi một tiếng đệ đệ chăng?”

Trước đó nàng che mặt rất kỹ, nay quạt lụa hạ xuống, ai nấy trong đường tò mò, không khỏi đồng loạt nhìn sang.

Xung quanh bỗng im ắng một cách bất chợt.

Mọi người đều từng nghe về tài hoa của tân nương tử, ngang hàng với con gái của Chấp chính Cao gia, nhưng đây là lần đầu tiên tận mắt thấy người trong lời đồn này.

Quạt lụa vừa buông, tâm tư mọi người trong đường khác nhau, nhưng đều cảm thán, một mỹ nhân tài tình nhường này lại phải gả cho Châu Đàn sắp chết và danh tiếng mục nát, thật đáng tiếc.

Châu Dương không ngờ hành động của nàng, ấp úng đáp: “Tẩu Tẩu đã gọi thì ta đây chẳng dám từ chối.”

Khúc Du đánh giá hắn vài lượt, lấy quạt phủi nhẹ bụi bặm trên vai hắn, ôn tồn nói: “Thấy đệ bụi trần mệt mỏi về tham dự hôn lễ của huynh trưởng, liền biết hai người tình thâm nghĩa trọng. Mong nhị công tử hãy đi tắm rửa thay y phục trước, rồi hãy cùng các vị khách quý nâng chén rượu mừng.”

Dứt lời, nàng lại cầm chiếc quạt lụa nhỏ kia che mặt, nói với nhũ mẫu: “Vận ma ma, chúng ta đi thôi.”

Vận ma ma tựa như tỉnh mộng, liền dẫn nàng về phòng tân hôn.

Châu Dương đứng ngây tại chỗ, cho đến khi Nhậm Thời Minh vỗ vai, hắn mới hoàn hồn, gượng gạo nở một nụ cười châm chọc: “Hắn được hời rồi.”

“Vị tẩu tẩu này của đệ quả là trầm tĩnh.” Nhậm Thời Minh nhìn theo bóng lưng của Khúc Du, giọng cảm khái nói: “Ta vốn nghĩ con gái nhà văn quan tính khí lớn, sẽ liều chết mà tuyệt giao mối hôn sự này. Nhưng nàng ta lại bình thản như không, bái đường cùng súc vật cũng chẳng thấy bị sỉ nhục…”

Châu Dương do dự nhìn quanh: “Nàng ta bình tĩnh như vậy, sẽ không vào tân phòng rồi đâm hắn một nhát đó chứ?”

Nhậm Thời Minh cười khổ: “Phụ mẫu tộc nhân nàng đều còn đó, sao có thể làm ra chuyện như vậy? Thôi, đệ đi tắm rửa một chút đi, rồi ra cùng uống rượu.”

Vận ma ma dùng dải lụa đỏ dẫn đường cho Khúc Du. Hai người chẳng đi bao lâu đã đến phòng tân hôn đã được trang hoàng sơ sài.

Khúc Du bước qua ngưỡng cửa, hơi căng thẳng ngồi xuống trước mép giường.

Sau chiếc quạt lụa, nến đỏ long phụng chụm đầu đang cháy bập bùng. Một bên truyền đến mùi thơm lặng lẽ của tĩnh thủy hương* hòa lẫn với mùi vị của máu.

*Thủy hương (水香) là cách diễn đạt mùi thơm của dòng nước trong thi từ cổ đại Trung Quốc, đồng thời cũng là một tên gọi khác của loài cây trạch lan (泽兰). Loại cây này có tác dụng lưu thông khí huyết.

Vị nam nhân trẻ tuổi từng được ghi lại sơ sài trong thanh sử*, từng hiện thân trong giấc mộng, giờ đây thật sự đang ở bên cạnh nàng.

*Thanh sử hay sử xanh dùng để chỉ các sách lịch sử, những tài liệu ghi chép lại những sự kiện, nhân vật và thời kỳ đã qua. Trong ngữ cảnh văn học và nghiên cứu lịch sử, nó không chỉ đơn thuần là việc ghi chép mà còn bao hàm những giá trị văn hóa, tư tưởng và bài học từ quá khứ.

Có lẽ chàng sẽ mãi mãi không hay, người trước mặt từng vì việc biến pháp của chàng mà trằn trọc nghiên cứu vài dòng ghi chép về chàng trong sử sách, đọc một trăm bốn mươi chín bài thơ chàng sáng tác trong rất nhiều năm sau, và vì thế mà thức trắng đêm, ưu tư đến tận sáng mai.

Nghĩ đến lễ thành hôn lạnh lẽo vừa rồi và thân thích hoàn toàn không xem trọng chàng, Khúc Du hiếm khi nảy sinh chút ý niệm thương xót.