Khúc Thừa vốn là Sử quan, nghe nàng hỏi câu này, trong lòng lấy làm lạ, song ngoài mặt vẫn giữ vẻ bình tĩnh, chỉ hỏi lại: “Vì lẽ chi mà con lại thốt ra lời này?”
“Những điều con thấy trong sách vở, những lời đồn đãi con nghe được, cùng những điều thiên hạ truyền tai nhau… đều khác hẳn so với những gì chính mắt con thấy, chính tai con nghe.” Khúc Du tay khuấy chén cháo trắng, nửa thật nửa đùa đáp: “Đôi lúc con tự hỏi, lời nói cách lòng người quá xa, điều mắt thấy cũng chưa hẳn đã là chân thật. Nếu con chẳng thể học được thuật ‘đọc thấu tâm can’, thì chung quy mọi suy đoán cũng đều là hão huyền.”
“Trước kia con chỉ chuyên tâm vào thơ ca từ phú, chẳng chịu đọc sử sách tiền triều. Nay có thể thốt ra lời vấn đạo này, đủ thấy con đã có sự tiến bộ.” Khúc Thừa khen ngợi một câu, rồi lấy làm an lòng, ôn tồn nói: “Trang Tử từng dạy: ‘Vạn thế chi hậu nhi nhất ngộ đại thánh, tri kỳ giải giả, thị đán mộ ngộ chi dã’*. Con có biết ý của câu này là gì không?”
*Dịch nghĩa: Ngàn năm sau sẽ gặp được một vị đại thánh nhân, người hiểu được điều ấy. Thời gian ấy không dài gì, chỉ như từ sáng tới chiều mà thôi.
“Ý nói rằng, nếu đã là tri kỷ, dù cách biệt ngàn đời cũng như sớm chiều gặp gỡ vậy.” Khúc Du suy ngẫm, đáp: “Câu này trích từ Tề Vật Luận.”
“Người thời Đường có câu: ‘Tâm hữu linh tê, nhất điểm nhi thông’ (Hai trái tim đồng điệu cùng hướng về một điểm), điều Trang Tử cầu cũng là như vậy.” Khúc Thừa nét mặt đăm chiêu: “Cái gọi là ‘bản chất thật của con người’ mà con nói, đối với người biên soạn sử như ta là quá đỗi mông lung. Trong tay ta phải duyệt xét việc của ngàn vạn năm, há chỉ tìm hiểu có một người? Nếu muốn chạm đến cái chân thật mà con mong mỏi, e rằng cần phải đọc được tâm tư, cùng chung cảm xúc với họ, tựa như một giọt nước hòa vào biển lớn, phải hòa tan vào mới thấu được sự bao la, điều ấy… quả là vô cùng khó khăn.”
Ông trầm mặc một lúc, cuối cùng vẫn không kìm được mà hỏi: “Con cho rằng Châu Thị Lang có chỗ khác biệt với lời đồn đại?”
Quả nhiên ông đã nghe rõ ý của nàng. Khúc Du không đoán được ý tứ của ông ra sao, bèn cúi đầu ăn cháo, không đáp lời.
Phụ tử hai người lặng lẽ dùng bữa sớm. Khúc Du trước đó đã ăn qua, song lại tự ép mình ăn thêm một chén cháo trắng, lúc ra cửa vẫn thấy bụng hơi trướng. Bàn xong chuyện đó, hai người cũng chẳng hề trò chuyện thêm. Khúc Du từ biệt ông, bèn đi tới hậu viên.
Khúc Gia Hy và Khúc Gia Ngọc đang chực sẵn ở trước sảnh chờ nàng. Vừa thấy nàng đến, hai người liền kéo nàng ngồi xuống giữa sảnh, kẻ thì rót trà, người thì dâng hạt dưa, đồng thanh hỏi: “Phụ thân có đánh tỷ bằng thước gỗ không?”
Khúc Du đắc ý đáp: “Không hề!”
Doãn Tương Như thấy tình cảnh ba người, không khỏi bật cười: “Hôm bữa hồi môn, hai đứa nó chẳng tìm được dịp để hàn huyên cùng con, lần trước con tới lại trùng hợp vắng mặt, cứ thế mà bức bách mãi. Mau mau bầu bạn cùng nhau trò chuyện đi thôi.”
Hai muội muội vây lấy Khúc Du, hết chuyện nọ xọ chuyện kia, hỏi rất nhiều việc trong Châu phủ, rồi lại cứ quấn quýt đòi nàng kể lại chuyện đánh trống ở phố Ngự lần trước. Khúc Du nhẫn nại đáp từng câu một, rồi đem hai hộp trang sức đã mang đến chia cho hai muội muội. Hai nàng vừa mừng rỡ, vừa lại vì trang sức đẹp xấu mà cãi vã không thôi.
Mượn cơ hội này, Doãn Tương Như gọi nàng ngồi sát lại, kéo tay nàng xem xét kỹ lưỡng, miệng hơi trách móc: “Lần trước con còn bảo Châu Thị Lang đối đãi với con không tệ, cớ sao thoắt cái những lời nơi phố thị lại khó nghe đến vậy? Ta thấy đồ ăn thức mặc của con đều chẳng tầm thường, rõ là hắn ta không hề bạc đãi con, không hiểu vì…”
Khúc Du vội vàng ngắt lời, thuật lại một lượt những gì đã nói với Khúc Thừa, còn kể cho bà nghe về thân thế của những cô nương như Chỉ Lăng và Yên Vô Bằng. Nghe xong, Doãn Tương Như suýt nữa rơi lệ, bà ôm ngực niệm mấy câu phật hiệu.
Bà xuất thân cao quý, không quá ưa giao tiếp, từ thuở thiếu thời đã gả cho Khúc Thừa, phụng dưỡng trượng phu dạy dỗ con cái, cả nhà êm ấm thuận hòa. Ngoại trừ mấy tháng trước khi Khúc Thừa bị giam mà phải chịu đôi ngày khốn khó, nào có cơ hội tiếp xúc với cuộc sống như vậy.
“Ta hiểu biết nông cạn, chẳng có gì nhiều để nói. Con từ bé đã là người có chủ kiến, nếu con thấy việc ấy đáng làm thì lời ong tiếng ve cũng chỉ là vô nghĩa thôi.” Doãn Tương Như thở dài: “Chọn một ngày rồi con cùng đi với ta đi, ta cũng muốn đến chùa Tụ Thanh ở Đình Sơn cúi lạy, cầu nguyện một phen cho những người khổ mệnh ấy.”
Khúc Du không mấy tin vào chuyện thần phật. Đinh Hương và Chỉ Lăng vừa ra khỏi Phương Tâm Các, cũng từng mời nàng lên chùa Tụ Thanh, nhưng lúc đó nàng nhiều việc nên đã từ chối. Song, các phu nhân quyền quý ở Biện Đô dường như rất thích lên chùa Tụ Thanh thắp hương, Doãn Tương Như cũng không phải là ngoại lệ.
Nàng không nói gì. Doãn Tương Như ngồi trên ghế, ánh mắt chuyển sang sau tấm bình phong nơi Khúc Gia Hy và Khúc Gia Ngọc vừa cùng nhau đi tới, rồi tiếp lời: “Nhân tiện nói đến, đã lâu rồi con không tới đó chăng? Con cùng vị đại sư ở chùa Tụ Thanh có duyên phận chẳng nhỏ, lẽ ra nên thường xuyên lui tới mới phải.”
“Ồ” Khúc Du tỏ vẻ hứng thú. “Mẫu thân nói vậy là có ý gì ạ?”
“Gần đây con có mời y quan đến khám không? Chứng mất trí nhớ sau khi ngã xuống nước sao lại chẳng hề thuyên giảm thế?” Doãn Tương Như lo lắng nói: “Con quên rồi sao? Con cùng các muội muội đều mang chữ ‘Gia’ trong tên đệm. Năm bảy tuổi con bị ốm một trận, đại sư của chùa Tụ Thanh đã xuống núi, tình cờ gặp gỡ rồi nhân cơ hội mà chỉ điểm cho con đổi tên.”
“Vậy tên cũ của con là gì?”
“Là Gia Ý, cũng là một cái tên hay. Chỉ là đại sư bảo cơ duyên không hợp, lại xung khắc với bát tự của con nên mới đổi đi.”
Hai mẫu tử cứ thế trò chuyện mãi cho đến giờ chính ngọ. Khúc Hướng Văn tan học, nghe nói đại tỷ tỷ về nhà liền ôm theo bọc sách vở mà vội vã chạy đến. Khúc Du thấy đệ đệ mặc nho bào màu trắng, vào cửa liền hành lễ, mới mấy ngày không gặp, dường như đã cao lớn hơn đôi chút.
Khúc Du tùy tiện lựa vài câu trong Đại Học* để kiểm tra đệ đệ, không ngờ đệ ấy tuổi nhỏ mà đối đáp lại trôi chảy như suối, lời lẽ bộc lộ chí hướng to lớn phi thường.
*Trong triết học Nho giáo cổ điển, Đại Học là tên một trong bốn cuốn sách kinh điển, đây là tác phẩm về đạo đức và học vấn.
“Hướng Văn định năm sau sẽ đi thử tài, ta thấy đứa trẻ này tiến bộ, chắc không có vấn đề gì.” Doãn Tương Như mỉm cười nhìn nàng. “Giờ đây cả nhà ta đoàn tụ, còn gì tốt hơn nữa. Con mà có chịu uất ức gì, cũng chớ nên giấu ta.”
Khúc Du ôm lấy cánh tay bà, ngước mắt nhìn lên thì thấy Khúc Hướng Văn vừa đặt bọc sách xuống đã cùng Khúc Gia Ngọc chơi đùa với nhau. Ánh dương rạng ngời chiếu ngoài cửa phòng khiến nàng cảm nhận được đôi chút hơi ấm gia đình hiếm có.
Dùng xong bữa trưa, nàng mới xin cáo từ ra về. Doãn Tương Như tiễn nàng ra đến cửa, chợt nhớ ra một chuyện: “Gia Hy hiện đang bàn chuyện hôn sự với vị cử tử* mà phụ thân con đề bạt. Tuy đã có ông ấy trông chừng, nhưng phẩm hạnh kín kẽ, gia cảnh của vị cử tử ấy ra sao, vẫn cần phải xem xét thêm. Con nếu tiện đường, hãy giúp ta dò la đôi chút.”
*Cử tử là chỉ chung người đi thi cử ngày xưa, nghĩa tương đồng với sĩ tử.
Khúc Du vâng lời. Nàng ra cửa lên xe ngựa mới phát hiện Khúc Thừa cũng đi theo ra. Nàng xuống xe hành lễ, cuối cùng nhận được một câu dặn dò từ Khúc Thừa: “Tháng sau là sinh thần của mẫu thân con, phu quân con nếu có đến thì bảo hắn chớ làm phô trương.”
Xem ra lời nàng nói ít nhiều cũng đã đả động đến Khúc Thừa.
Sau khi xe ngựa ra khỏi ngõ, Khúc Du nghĩ về ‘bản chất thật của con người’ đã luận bàn cùng Khúc Thừa hồi sáng, trong lòng trăm mối cảm xúc lẫn lộn. Nàng bèn bảo phu xe rẽ đường đến đại lộ sông Biện. Xuống xe, nàng đi vào Xuân Phong Hóa Vũ Lâu bằng cửa hậu mà Diệp Lưu Xuân đã để lại từ trước, tính đổi sang y phục nam nhi rồi thẳng đường đi tới Hình bộ.
Nàng đến thật khéo, vừa gõ cửa bước vào thì lại gặp Bạch Sa Đinh.
Kể từ lần trước Diệp Lưu Xuân hát khúc ấy, Khúc Du nhìn Bạch Sa Đinh luôn thấy có một thứ ý vị khó tả. Xưa kia đọc sách biết đại thi nhân lưu luyến lầu xanh, trăng hoa khắp chốn, cũng chẳng cảm thấy gì. Lần trước tận mắt thấy dáng vẻ của Diệp Lưu Xuân mới khiến nàng nhận ra cái phong lưu của tên lãng tử này, thực sự là tổn thương lòng người.
Nhưng xét theo ý của bài thơ ấy, hai người quen biết đã từ sớm, Bạch Sa Đinh tự trào là “chẳng thể nương”, lại nói đối phương dùng “nghìn vẻ thắm” đối đãi với mình. Đủ thấy Diệp Lưu Xuân kỳ thực cũng chẳng phải một mực si tình không hối với hắn, tự thương cảm cũng chỉ là bày tỏ nỗi lòng mà thôi. Mối dây vướng mắc giữa hai người rối như mớ tơ vò, nàng là người ngoài, quả là không tiện nói thêm điều gì.
Diệp Lưu Xuân tự mình đi lấy y bào nam tử mà Khúc Du từng gửi lại trước đây. Bạch Sa Đinh ngồi trước bàn uống trà. Thấy ánh mắt nàng như có điều suy tư, hắn chẳng nhịn được cười hỏi: “Phu nhân nhìn ta như vậy là có ý gì?”
Hắn bật cười, đột ngột cắt ngang dòng suy nghĩ của Khúc Du. Bởi nàng bỗng dưng cảm thấy Bạch Sa Đinh lúc này khi cười lên lại có đôi phần tương đồng với Bách Ảnh.
“Thập Tam tiên sinh… có quen một bằng hữu của ta chăng?” Khúc Du kinh ngạc mà hỏi thẳng ra lời: “Hắn ta hành nghề y ở Biện Đô, họ Bách. Chẳng hiểu vì sao, ta cứ thấy hắn cùng tiên sinh có duyên phận chẳng nhỏ.”
“Ồ, vậy sao?” Bạch Sa Đinh đầy hứng thú đáp: “Vậy lần sau phu nhân hãy dẫn ta đến diện kiến một phen. Ta đây vốn là người thường ngày thích kết giao bằng hữu, càng nhiều càng tốt.”
Khúc Du không nhịn được, vẫn nói thêm một câu: “Tuy càng nhiều càng tốt, song tiên sinh cũng nên trân trọng người trước mắt.”
Diệp Lưu Xuân vừa lúc trở về, dịu dàng dẫn nàng cùng hai nữ tỳ đến chỗ khác để thay y phục. Trước khi rời khỏi phòng, nàng còn nghe thấy Bạch Sa Đinh vỗ đùi nói: “Vừa thấy Châu phu nhân ta lại nhớ ra rồi. Hôm qua ta uống rượu trên sông Biện, lại gặp phải thằng nhãi Châu Dương kia. Tên đó mặc đồ cứ như tên trộm đêm, chẳng biết đang làm trò gì…”
Diệp Lưu Xuân lấy làm hiếu kỳ, hỏi: “Cớ sao huynh lại đổi miệng gọi là Châu phu nhân rồi?”
Những lời sau đó, nàng đã đi xa hơn đôi chút, chỉ nghe láng máng Bạch Sa Đinh ư hử cằn nhằn: “Hừ, chẳng phải vì có người…”
Châu Đàn đã tìm cho nàng một chỗ đứng chính thức tại Hình bộ. Nàng đến Hình bộ liền phải như người khác, vào hậu đường sổ sách chấm danh. Trước kia Lật Hồng Vũ trực đêm, chính là người chuyên quản việc này ở hậu đường. Khúc Du mỗi lần tới đều có thể gặp hắn, khiến nàng nghi ngờ hắn ngủ luôn ở hậu đường Hình bộ mà không về nhà.
Nàng khoanh một vòng tròn vào chức vị ‘Ti luật’ trong sổ. Lật Hồng Vũ bị thu bút, lập tức bắt đầu tỏ ra thân quen mà chuyện trò cùng nàng: “Huynh đệ, đã lâu không gặp. Huynh có biết gần đây ta nghe được tin tức động trời nào không? Hôm nọ ta về nhà, tẩu tẩu nhà ta nói trong tiệc có gặp tân phu nhân của Châu đại nhân đấy!”
Khúc Du suýt nữa ngã lăn khỏi ghế.
Lật Hồng Vũ hoàn toàn không hay biết, vẫn đang hăng hái kể tiếp: “Tẩu tẩu ta nói Châu phu nhân tuy tuổi còn nhỏ, song khí phách thông thân chẳng tầm thường, lại đẹp tựa tiên nữ giáng trần. Tẩu ấy vì hiểu lầm mà tranh cãi vài câu với đối phương, nào ngờ Châu phu nhân lại chẳng hề phật lòng, còn xin lỗi tẩu tẩu ta, khiến tẩu tẩu ta phải hổ thẹn vô cùng… Chậc, huynh nói xem Châu đại nhân có vị phu nhân như vậy, cớ sao vẫn còn lưu luyến hoa phố liễu hẻm?”
Trò chuyện chuyện phiếm với một đồng liêu Hình bộ mà nàng còn chẳng biết tên, Khúc Du càng chắc chắn, tên này quả thực là thiếu tâm nhãn.
Tuy nhiên, nàng không ngờ Củng Ngọc Oánh sau khi về lại đánh giá nàng cao đến vậy. Xem ra lần trước tại tiệc cố nhịn không đáp trả là đúng đắn, nữ tử đều thích bộ chiêu thức lấy lùi làm tiến này, lời này quả nhiên không dối người.
Thế là Khúc Du thuận miệng đáp lấy lệ vài câu: “Thật ư? Chẳng ngờ Châu đại nhân lại có diễm phúc như vậy! Phải rồi, ta nghe nói Lương An đại nhân lúc tiễn tiên Điển Hình Tự Khanh ra khỏi thành đã bị giặc cướp tấn công. Khổ thay, khổ thay! Bên ngoài thành Biện Đô chẳng được yên bình cho lắm, Lương đại nhân lẽ ra nên đem theo nhiều bề tôi hơn mới phải.”
Lật Hồng Vũ buồn bã nói: “Chính là như vậy. Dù bệ hạ trọng thưởng, song người chết rồi thì chẳng thể sống lại được. Nay ta cũng đã chuyển sang dưới trướng Châu đại nhân, không biết Châu đại nhân có dễ chung sống hơn không?”
Khúc Du đang định ra cửa, chợt nhớ đến lời nàng viết trên tấm bình phong trước đó, bèn quay lại, vừa tiếp tục tán gẫu với Lật Hồng Vũ, vừa khuỵ gối xuống xem xét kỹ lưỡng.
Tấm bình phong thứ hai nay cũng sắp kín chữ. Câu hỏi nàng viết trước kia chữ vừa nhỏ lại vừa ở nơi kín kẽ, vốn tưởng Bạch Tuyết tiên sinh hẳn là chẳng thấy được, ngờ đâu đối phương vẫn trả lời, nét chữ xen lẫn trong một đống lời lẽ vụn vặn đời thường nhưng lại có vẻ rất trang trọng.
Nàng hỏi, sử sách mênh mông như biển, làm sao có thể nhìn thấy được bản chất thật của con người?
Đối phương đáp lại chính là lời của Trang Tử mà nàng vừa mới nghe cách đấy không lâu: “Ngàn năm sau sẽ gặp được một vị đại thánh nhân, người hiểu được điều ấy. Thời gian ấy không dài gì, chỉ như từ sáng tới chiều mà thôi.”
Khúc Du sững sờ, đầu ngón tay lướt qua tấm bình phong, hơi run rẩy. Vừa rồi đối thoại cùng Khúc Thừa, nàng còn chưa có cảm giác này, nhưng khi nhìn thấy nét chữ trâm hoa tiểu khải của Bạch Tuyết tiên sinh viết ra câu ấy, trong tâm trí nàng lập tức hiện lên một cảnh tượng.
Dường như vẫn là Lâm An ngày xuân trong giấc mộng đã thấy. Hoa hạnh bị gió xuân làm lay động, bay lả tả xung quanh thân mình. Nàng cúi đầu nhìn mình, thấy mình mặc chiếc áo khoác măng tô màu xanh trong tủ quần áo trước đây mà nàng vẫn luôn yêu thích nhất. Năm đó khi linh hồn xuyên qua sử sách đến nơi này, dường như nàng cũng đang mặc chính chiếc áo ấy.
Mặt trời lặn về phía tây. Trên sườn đồi cách nàng một con suối nhỏ, có một một bóng người thân bạch y đang đứng đó. Mọi thứ vừa chân thật lại vừa hư ảo. Gió nâng vạt y phục rộng của người ấy, người ấy xoay mình lại giữa ánh chiều tà như vàng nóng chảy, đôi đồng tử màu hổ phách nhạt vẫn sáng ngời, trong suốt.
Khúc Du đứng nguyên tại chỗ, thần thờ nhìn Châu Đàn phía đối diện. Chàng vẫn còn rất trẻ, đáy mắt không hề có ám ảnh, u uất. Chàng mỉm cười nhàn nhạt, cứ thế đứng yên ở đó, không tiến lại gần nàng một bước.
Bên tai nàng vang lên tiếng trang sách xào xạc hỗn loạn. Ngay khoảnh khắc ánh mắt hai người giao nhau, nàng bỗng cảm thấy mình thực sự đã hiểu rõ con người này.
Hai người chẳng ai thốt ra một lời, nhưng không biết trực giác từ đâu tới, nàng cảm thấy mình chính là người hiểu rõ đối phương nhất trên thế gian này… và đối phương cũng như vậy.
Rõ ràng có một dòng suối ngăn cách giữa hai người suốt hơn ngàn năm không gian thời gian dài đằng đẵng, nhưng họ lại gặp nhau một cách hoang đường mà chân thật ở nơi đây, vượt qua thời gian, vượt qua không gian. Nàng nhặt ra một bông hoa hạnh trong Xuân Đàn Tập, chỉ cần đọc những con chữ của chàng, nhắm mắt lại là có thể gặp gỡ.
Chân trời tan biến thành gang tấc, ngàn năm thoạt như một cái chớp mắt.
Trang Tử cô độc từ lúc sinh ra đến khi lìa đời, khát khao vạn đời sau gặp được thánh nhân. Nhưng nàng đã đến đây, thế nên sớm chiều gặp gỡ đã chẳng còn là hư không nữa.
—
“Ngàn năm sau sẽ gặp được một vị đại thánh nhân, người hiểu được điều ấy. Thời gian ấy không dài gì, chỉ như từ sáng tới chiều mà thôi”
Tít: Tác giả có chia sẻ là câu này có rất nhiều cách giải thích nhưng tác giả chọn tham khảo chủ yếu cách diễn giải của 2 người là Vương Tiên Khiêm và Tiền Mục. Có thể hiểu rằng: Người hiểu được*/tri kỷ thì khó tìm, vạn đời mới gặp một lần, như sớm chiều trôi qua.
*Người hiểu được ở đây có thể hiểu là người có khả năng lý giải, hoặc người biết thông suốt, thấu hiểu vấn đề / con người khác. Một người có khả năng thấu cảm, nhìn ra bản chất thật của người đối diện.
Nghĩa chính xác của bản thân từ này nó sẽ phụ thuộc vào văn cảnh và cách hiểu của người giải nghĩa.