Phủ đệ của Phó Khánh Niên tọa lạc tại phường Hiển Minh, một nơi gần hoàng thành nhất trong Biện Đô. Phường Hiển Minh vốn là nơi quần tụ của bậc phú quý, mà Phó gia lại là một thế gia trâm anh lẫy lừng. Phủ đệ Phó gia rộng đến mức bắc ngang qua hai bên đường, lại chẳng xa cổng phường là bao.
Khúc Du thiu thiu ngủ trong xe ngựa. Mãi một lúc sau, nàng mới đợi được Châu Đàn vén rèm bước vào.
“Cô không nên đến đây.” Chàng nói.
Khúc Du lập tức tỉnh táo hơn đôi chút, vội đáp: “Ta đã đến Lưu phủ tra xét, bản khẩu cung đó quả thực có chỗ đáng ngờ. Vụ án này nếu là Phó Khánh Niên cố tình bày ra cái bẫy hãm hại ngài thì ngài định xử trí ra sao?”
Châu Đàn vẫn nhíu mày nhìn nàng, khẽ nói: “Phó quý phi chỉ hôn cô cho ta, vốn là mong cô khinh thường ta, để thêm chuyện chướng tai gai mắt cho ta mà thôi. Vụ án rơi lầu hôm bữa, cô đã đứng đầu cáo kiện, e rằng đã khiến bọn họ chú ý rồi. Giờ đây, nếu cô còn một lòng giúp đỡ ta…”
Khúc Du thấu hiểu lời ẩn ý, song nàng vẫn giữ im lặng. Châu Đàn ngước mắt nhìn nàng, chỉ thấy đối phương mặt thoáng ngưng trọng, trầm ngâm nói: “Ta cứ ngỡ ngài chiêu mộ ta vào Hình bộ thì đã coi ta là người nhà.”
Tiếng chuông ngựa ngoài xe vẫn kêu vang, nhưng trong khoang xe chợt tĩnh mịch. Châu Đàn lặng thinh hồi lâu, rồi bất giác cất giọng gọi một cái tên mà chàng chưa từng gọi: “A Liên…”
Nàng thuở trước vốn không có tên tự, bạn bè từ xưa đến nay đều gọi là “Du Du”, chỉ có Doãn Tương Như từng gọi nàng vài tiếng “A Liên”.
Cái tên vốn nghe chẳng có gì khác lạ, chẳng hiểu vì sao khi được Châu Đàn gọi lên, nàng bỗng cảm thấy tim đập như trống giục. Có lẽ bởi chữ ‘Liên’ vốn đã hàm chứa ý ái muội, khi chàng khép mở môi răng, tự nhiên mang theo một nỗi quyến luyến dịu dàng.
*Liên (怜) – mang nghĩa thương xót, yêu mến.
Châu Đàn sau khi gọi cái tên ấy xong dường như cũng có phần không tự nhiên, chàng đưa tay ho khan một tiếng, che giấu rồi tiếp lời: “Ta nay tiến không được sự tín nhiệm của quân vương, lùi không được cái nhìn thiện cảm của Tể phụ, những điều Chấp chính cùng Thái tử mong cầu, cũng chẳng phải điều ta nguyện. Sinh tồn trong chốn này, tình cảnh chẳng khác nào lần đầu nàng gặp ta dưới ánh nến năm xưa.”
“Ta từng nghi ngờ nàng, cũng từng thử dò xét nàng, thậm chí từng muốn lợi dụng nàng, sau này lại thôi. Nàng cam lòng vì sinh dân mà đòi lại công đạo, điều ta có thể bù đắp cũng chỉ là một hai phần. Nàng là người thuần khiết chân chính, đáng lẽ phải tìm được một người đồng lòng, đúng như điều nàng từng ước nguyện: tự do, kết bạn, ghé thăm non nước kỳ vĩ, sống một đời tự tại phóng khoáng.”
Những lời nàng vô tình thổ lộ lúc đôi bên mới quen biết, lại được đối phương khắc cốt ghi tâm từng câu từng chữ rõ ràng đến vậy.
“Ta điều nàng vào Hình bộ là vì nàng từng đứng dưới trống Đăng Văn mà hỏi rằng công đạo ở nơi đâu, nàng lại có hứng thú vô cùng với luật pháp, ta nghĩ, đây hẳn là điều nàng hằng mong mỏi. Nhưng việc liên quan đến bản thân ta, tuyệt không đơn giản như nàng tưởng tượng. Quan trường, bể hoạn, bè phái tranh chấp, sơ sẩy một ly là tai họa giáng xuống cả nhà. Ví như vụ án của Lưu thị, ta vốn tưởng chỉ là minh oan cho cố hữu của nàng nên mới dám để nàng nhúng tay. Khi thấy cáo trạng, ta liền biết mình đã lầm.”
“Thế nên chàng vội vàng đuổi ta về phủ, không muốn ta tiếp tục quan tâm?” Khúc Du bình ổn nhịp tim, tiếp lời: “Đáng tiếc…”
“Đáng tiếc nàng quá đỗi thông tuệ.” Châu Đàn cười khổ: “Ta vẫn nhớ, nàng từng ở nơi ngoại ô kinh thành hỏi ta có cam tâm tình nguyện nguyện chết vì tuẫn đạo hay không. Nếu ta chỉ có một mình, tự nhiên là chẳng sao cả, nhưng nếu còn có nàng vậy ta phải làm sao đây?”
Chàng nhìn nàng, thành khẩn vô cùng, bất lực vô vàn mà khẽ hỏi: “Ta nên làm thế nào đây, A Liên?”
Chàng hiếm khi có khoảnh khắc chủ động tỏ ra yếu thế như vậy, Khúc Du nghe khẩu khí của chàng, chỉ cảm thấy lòng chấn động, không nhịn được thốt ra lời, có lẽ vốn dĩ nàng đã nghĩ như thế từ lâu: “Nhưng ta chưa từng nghĩ sẽ cùng chàng hòa ly.”
Châu Đàn khựng lại: “Nàng…”
“Từ ngày ta gả cho chàng, ta chưa hề có ý nghĩ ấy. Lời lẽ chàng lạnh nhạt, ta làm ra vẻ giận dỗi, chẳng qua là giận chàng không thành thật với ta. Nay dẫu chàng vẫn không chịu thổ lộ rõ mọi việc, nhưng ta cũng sẽ không dối mình nữa. Ta đến nơi này… những điều cầu mong, suy nghĩ, không gì không liên quan đến chàng. Việc chàng muốn làm, ta nguyện cùng chàng kề vai sát cánh.”
Luật pháp Đại Dận.
Người biên soạn Tước Hoa Lệnh.
Cuộc biến pháp cô độc và đầy bi thương ấy.
Người đứng sau Xuân Đàn Tập, vị cô thần bạch y nàng gặp trong giấc mộng đứng trên sườn dốc lịch sử khiến nàng rung động bởi bản chất thật của con người.
Dẫu cho bản thân nàng cũng không hề hay biết, nhưng vào cái ngày nàng quyết tâm nghiên cứu hình luật Bắc Dận thì đã định trước không thể thoát khỏi mối liên hệ với người trước mặt này.
Nàng tự cho là công bằng khách quan, nhưng vì bị từ ‘nịnh thần’ trong sử sách tác động nên luôn không muốn thừa nhận Châu Đàn mới chính là linh hồn trong mọi sự dò xét kiếm tìm của nàng.
Thế nên dù nàng chỉ hứng thú với người vô danh kia, nhưng nàng vẫn học thuộc Xuân Đàn Tập không sót một chữ.
Thế nên Châu Đàn đã cho nàng vạn lần cơ hội trốn chạy, nàng vẫn kiên định theo dấu vết lịch sử mà ở lại bên chàng, thắp cho chàng một ngọn đèn le lói trong đêm mưa cô tịch nơi miếu cũ, cũng là để soi rọi sự bối rối trong lòng mình.
Giờ đây nàng cuối cùng cũng dám nói, nàng chính là ‘thánh nhân‘ mà Châu Đàn đã gặp gỡ hàng vạn năm sau. Có lẽ từ lúc nàng xuyên không đến nơi này chính là để nhìn rõ cuộc đời của chàng dưới màn sương mù ấy.
Nàng đã đi qua cây cầu nguy hiểm của đối phương, không muốn ngày sau này phải dùng mặt nạ xấu xí mà đối đãi. Nàng muốn đối với chính bản thân và chàng, đều thành thật hơn một chút.
Châu Đàn cúi đầu, hốc mắt hơi đỏ hoe, biểu cảm trên mặt như là kinh hỉ, lại như là bàng hoàng, giọng run run: “Từ nay gian nan hiểm trở…”
Khúc Du vén tay áo, chủ động và kiên định nắm lấy tay chàng. Bàn tay ấy lạnh như ngọc cốt*, nhưng nàng lại nở một nụ cười rạng rỡ.
*Trong tiếng Hán ‘ngọc cốt’ có nghĩa là ‘xương ngọc’, chỉ riêng xương cốt mịn như ngọc, vừa cứng nhưng cũng vừa dịu hoà, hàm ý chỉ người có dáng vẻ rắn rỏi kiên cường, đẹp đẽ, thanh khiết, tao nhã.
“Từ nay gian nan hiểm trở…”
“Sẽ có trượng lê ca hành.”
“Ta nào sợ chết, chỉ sợ chưa từng cố gắng hết sức mà sống… Ngày ấy chàng cửu tử nhất sinh, chẳng tiếc mang tiếng xấu mà bò ra khỏi chiếu ngục, chẳng phải cũng vì lẽ này sao?”
Châu Đàn hầu như bị hơi nóng từ lòng bàn tay đối phương thiêu đốt, chàng theo bản năng muốn rút tay lại nhưng Khúc Du như lần trước vẫn nắm chặt lấy tay chàng. Chàng không dám nhìn thẳng vào ánh mắt ấy, chỉ nói: “Ta không biết mình có thể thành công hay không.”
Khúc Du cười nói: “Nhưng ta biết.”
Đối phương im lặng rất lâu, nàng nắm lấy bàn tay ấy, nhớ lại sự lạnh nhạt, nghi ngờ thuở trước, cũng nhớ lại sự cảm động, chấn động. Cuối cùng chỉ còn lại sườn núi dưới ánh tà dương rực rỡ như vàng nung chảy, nàng tin rằng mình đã nhìn thấy ‘chân thực’.
Khúc Du nhắm mắt lại, hồi tưởng lần đầu tiên đọc Xuân Đàn Tập, đời người trăm năm như dòng chảy, vinh hoa phú quý như tro lạnh. Ban đầu nàng vốn muốn dùng chữ ‘bi khái’ trong Nhị Thập Tứ Thi Phẩm để đề tựa, song khi đặt bút lại viết thành hai chữ ‘khoáng đạt’.*
*Bi khái: Buồn thương cảm khái. | Khoáng đạt: Rộng lớn thấu suốt.
“Người sống trăm năm, cách nhau là bao?
Vui vẻ thì ngắn, buồn khổ lại nhiều.
Thà nâng chén rượu tiêu điều,
Ngày trôi êm giữa mây bay, dây rừng.
Hoa bên mái cỏ nở bừng,
Mưa thưa khẽ ghé, nhẹ dừng rồi qua…”
“Cạn rượu chẳng đề chừa vơi
Chống gậy rong ruổi, cất lời ca vang.
Đời người rồi sẽ lìa xa.
Nam Sơn hùng vĩ, cao vời còn đây.” — Tít dịch thơ.
Một cảm giác vô cùng kỳ lạ, nàng biết rõ Châu Đàn cả đời ngắn ngủi, truân chuyên, chí nguyện không thể bày tỏ, cuối cùng chết trong cảnh lụn bại. Thơ của chàng lẽ ra phải phẫn nộ bất bình, ưu tư trằn trọc, nhưng nàng đọc lại thông suốt, giữa từng câu chữ mà cảm nhận được sự siêu thoát của chàng.
Châu Đàn hành sự cả đời, tuy không có được kết cục tốt đẹp, nhưng không hề hối hận. Cũng giống như chàng hiện tại, rõ ràng biết đường đi phía trước gian nan, nhưng điều chàng làm vẫn chỉ là cố gắng hết sức không liên lụy những người quanh mình, không hề có ý lui bước.
Nàng xuyên qua thời không, thân cô thế cô, đặt sống chết ngoài tai, chỉ để giải mối hoài nghi. Chàng ở trong thế giới này, lại cũng như nàng, vì lý tưởng mờ mịt chưa rõ ràng phía trước mà dâng hiến cả đời.
Khúc Du thầm nghĩ, lời đề tựa của nàng quả nhiên không hề sai sót.
“Đời người rồi sẽ lìa xa.
Nam Sơn hùng vĩ, cao vời còn đây.”
Phường Hiển Minh cách phủ đệ của Châu Đàn không xa, đôi bên trò chuyện một lát đã đến đầu ngõ. Trời đã ngả màu hoàng hôn, xe ngựa vừa dừng lại Khúc Du liền nghe thấy tiếng bước chân dồn dập đang nói điều gì đó, ngay sau đó Hắc Y vén rèm xe.
Ánh mắt hắn lướt qua bàn tay đang nắm chặt của hai người, hít sâu một hơi, lập tức bẩm: “Phu nhân, đại tiểu thư của Chấp chính Cao gia mời phu nhân đến Phàn Lâu hội ngộ.”
Cao Vân Nguyệt tìm nàng vào lúc này, lại gấp gáp đến thế, chẳng rõ vì cớ gì.
Khúc Du liếc nhìn Châu Đàn một cái, vừa định đáp lời, Hắc Y đã tiếp tục nói: “Cao cô nương bảo rằng, nếu Châu Đại nhân có ở đó cũng có thể cùng đi. Trong tay nàng có được một vật, liên quan mật thiết đến vụ án của đại nhân.”
Khúc Du kinh ngạc nhìn Châu Đàn, thấy sự kinh ngạc trong mắt đối phương, bèn nói: “Vậy chúng ta lập tức lên đường, Hắc Y, ngươi đánh xe đi.”
Hắc Y đáp: “Tuân lệnh.”
Cao Vân Nguyệt dẫu là khuê trung thiếu nữ, nhưng nàng và Cao phu nhân thường lui tới Phàn Lâu, cũng là khách quen. Lúc bước vào, Khúc Du thấy thị giả lật tấm biển đề Khánh Xuân Trạch.
Nhã gian trước đây Châu Đàn thường lui tới tên là Lưu Hương Khách. Đông lầu thường tiếp đãi các bậc văn nhân sĩ tử, tên nhã gian đều lấy từ các loại từ bài, quả là thú vị.
Song nàng không kịp phân tâm nghĩ nhiều, Cao Vân Nguyệt sau bình phong nghe tiếng nàng tiến vào, lập tức khẽ giọng sai các tỳ nữ xung quanh lui hết. Khúc Du thấy cửa đóng lại sau lưng mình, Cao Vân Nguyệt khi này mới bước ra từ sau tấm bình phong.
Nàng cầm quạt, cung kính thi lễ với Châu Đàn: “Châu đại nhân…”
Thiếu nữ chưa xuất giá vốn không nên gặp nam nhân bên ngoài, nhưng Cao Vân Nguyệt và Khúc Du là khuê mật chốn khuê phòng, hành động này cũng không xem là quá khuôn phép.
“Cô lấy được vật gì mà lại gấp gáp gọi ta đến?” Khúc Du kéo nàng ngồi xuống, khẩn thiết hỏi.
Cao Vân Nguyệt chẳng kịp hàn huyên cùng nàng, bèn lấy ra một chiếc hộp hình con thuyền từ phía sau.
“Mẫu thân ta tín phật, mỗi tháng ta đều cùng mẫu thân chọn một ngày đến chùa Tụ Thanh trên núi Đình Sơn dâng lễ phật. Hôm nay khi bọn ta cùng xuống núi, một đứa trẻ ăn mày đã liều chết chặn xe, nói muốn gặp ta.”
Châu Đàn nhận lấy chiếc hộp trong tay nàng, có chút kinh ngạc: “Chiếc hộp này được rèn từ sắt nguyên chất, nếu không có chìa khóa, ắt không thể mở được, e rằng dù dùng dao cắt hay lửa đốt, cũng khó mà biến dạng.”
“Đúng vậy!” Cao Vân Nguyệt nói: “Ta lấy làm lạ, bèn cho gọi đứa trẻ đó. Kết quả nó lại giao vật này cho ta, nói là tiểu phu nhân Đỗ gia nhờ nó chuyển hộ. Đỗ Huy chỉ có một con trai là Đỗ Cao Tuấn, vật này hẳn là Liên Hề gửi gắm. Đứa trẻ ăn mày ấy bảo, nó từng được Liên Hề vô tình cứu giúp. Hôm đó, nó thấy Liên Hề xuống kiệu trước cửa Đỗ phủ, thân thể có thương tích và giao lại vật này, chỉ dặn rằng nếu bản thân xảy ra chuyện, hãy đợi ở đường lên núi Đình Sơn, chờ ta hoặc cô đi ngang qua thì trao lại.”
“Ta vướng bận yến tiệc ngày thu nên tháng này tới chùa Tụ Thanh trễ vài hôm, cô bận rộn việc vặt, không hề đi qua, thế cho nên đó giờ mới nhận được vật này của nàng ấy. Ta nghĩ vật này ắt có liên quan đến nguyên nhân nàng ấy chết nên đã mạo muội mời cả Châu đại nhân cùng đến.”
Châu Đàn lắc lắc chiếc hộp trong tay, không nghe thấy tiếng kim loại va chạm, có lẽ bên trong là thư từ. Chàng nhíu mày, bỗng hỏi: “Cao cô nương, việc này cô có đề cập với Cao đại tướng công chưa?”
Cao Vân Nguyệt lắc đầu: “Ta nhận được trên đường xuống núi còn chưa kịp về phủ đã mời nhị vị phu thê hai người đến nơi này. Ta nghĩ Liên Hề làm việc cẩn trọng như vậy, lại chỉ tin tưởng hai ta, e người ngoài biết sẽ làm hỏng thanh danh sau này của nàng ấy. Ngay cả mẫu thân hỏi ta cũng chỉ nói đứa trẻ ăn mày đó từng được ta ban ơn, nay bệnh nặng đến cầu xin. Ta đã sắp xếp cho nó rồi, nếu ngài muốn gặp, lát nữa ta sẽ sai một tên chạy vặt dẫn đường.”
“Cao cô nương cẩn trọng, ta sẽ sai người đưa nó về phủ.” Châu Đàn cúi đầu nói.
Khúc Du sờ vào chiếc chìa khóa giấu trong tay áo mình, liếc nhìn Châu Đàn, không lấy chìa khóa ra.
Cao Vân Nguyệt nhìn ra ngoài vài lần rồi đứng dậy: “Ta lấy cớ với mẫu thân là xuống xe mua chút điểm tâm, giờ cũng nên hồi phủ rồi. Vật này ta không mở được, có lẽ Châu Đại nhân có cách. Liên Hề làm sao ngờ được, vụ án này lại giao vào tay phu quân của cô. Nhị vị nếu cần trợ giúp, có thể sai người đến Cao phủ tìm ta bất cứ lúc nào.”
Khúc Du mở cửa tiễn nàng: “Đa tạ.”
“Khách khí gì chứ!” Cao Vân Nguyệt búng nhẹ lên trán nàng, vội vã rời đi nói: “Vụ án này xong xuôi, cô dẫn Xuân nương tử mời ta tới uống rượu mới phải đạo. Khi đó chúng ta sẽ cũng bái cho Liên Hề một phen.”
“Nếu thực có thể minh oan cho nàng ấy, cũng coi như không uổng một kiếp tri giao.”