Bạch Tuyết Ca

Chương 47:



Trong thành Biện Đô, ngoại trừ vùng lân cận Phàn Lâu ra, những nơi khác cứ độ giờ Nhân Định là sẽ lần lượt tắt đèn. Sau khi một dãy cửa tiệm dọc bờ sông đóng cửa, Châu Đàn sai Hà Tinh và Thủy Nguyệt mang vải vóc và trang sức mà hai người mua hôm nay lên xe ngựa. Hạ Tam và người đánh xe ngồi ngoài cầm cương, cả đoàn đi thẳng về phủ trước.

Hai người dạo chơi trên đại lộ sông Biện cả buổi chiều. Lúc đêm xuống, họ lại ăn hai chén đồ ngọt ở quán hàng nhỏ dọc bờ sông. Sau khi sai tùy tùng đi khỏi, Châu Đàn dẫn Khúc Du xuống bờ sông từ một con đường nhỏ vắng vẻ.

Dưới cây cầu Thập Nhị của sông Biện, nơi bóng tối dày đặc giăng đầy dưới mái vòm, một người vận đồ đen đang chèo một chiếc thuyền nhỏ chỉ có một ngọn đèn mờ chờ sẵn ở đó.

Sông Biện đã không còn vẻ nhộn nhịp như một hai canh giờ trước, đèn hoa ven sông đã tắt đi nhiều, chỉ còn người bán hàng rong về muộn đang dọn dẹp quầy hàng. Khúc Du ngồi ở mũi thuyền, cúi đầu nhìn thấy một vầng trăng sáng lạnh phản chiếu xuống dòng nước sông Biện.

Thuyền nhỏ lặng lẽ đi qua khu phố còn vang tiếng người, để lại một vệt nước trên mặt sông tối đen. Châu Đàn ngồi xuống bên cạnh nàng mà không nói lời nào. Nàng không hiểu vì sao lại nghĩ đến một câu trong Luận Ngữ: “Nếu đạo lý không thi hành được, ta sẽ cưỡi bè vượt biển.”

Việc Châu Đàn muốn làm nhiều đến thế. Giả như không thành công, liệu có người nào ngồi cùng chàng trên chiếc bè gỗ trôi nổi trên biển hay không?

Mặt nước lay động. Xuân Phong Hóa Vũ Lâu vẫn chưa tắt đèn lướt qua trước mắt hai người. Khúc Du nhìn dải lụa đỏ bay phấp phới trên mái lầu, đột nhiên hỏi: “Ta luôn muốn hỏi vì sao chàng lại có tiếng tăm là người háo sắc?”

“Ham mê sắc đẹp” trong sử sách phần lớn là được suy đoán từ vài câu thơ ph*ng đ*ng trong Xuân Đàn Tập. Hiện giờ Châu Đàn vẫn chưa viết mấy câu thơ đó, nhưng nàng đã nghe phong thanh về tin đồn không đáng để phó thác của đối phương trước khi xuất giá.

Nhưng xem xét kỹ, Châu Đàn thậm chí còn chính nhân quân tử hơn cả chính nhân quân tử. Diệp Lưu Xuân nói với Khúc Du, nàng và Châu Đàn đã quen nhau từ khi còn ở Lâm An. Sau này khi nàng mới đến Biện Đô, Châu Đàn còn giúp đỡ nàng ấy nhập hộ tịch ở Kinh Đô Phủ. Mặc dù vậy, hai người vẫn tỏ ra xa lạ như không hề quen biết, mỗi lần nói chuyện đều nhàn nhạt.

Chàng tới Xuân Phong Hóa Vũ Lâu đa phần là mượn chỗ hội họp bằng hữu. Hình bộ ít thấy nữ tử, thị nữ trong nhà gặp Châu Đàn đến đầu cũng không dám ngẩng. Khi dự tiệc thì thường có nữ tử bàn luận về vẻ ngoài của chàng. Nay chàng đã thành hôn, không ai dám đến bắt chuyện. Theo Cao Vân Nguyệt tiết lộ, ngay cả trước đây khi chưa thành hôn, các cô nương đến làm quen cũng luôn bị chàng khuyên quay về bằng lời lẽ lạnh nhạt.

“Lúc ta vừa đỗ trạng nguyên, suýt chút nữa bị một đám lão đại nhân bắt đi ngay dưới bảng vàng.” Châu Đàn im lặng rất lâu mới mở lời, giọng chàng nhàn nhạt, mang theo chút tự đắc tinh tế không thể nhận ra. “Khi đi qua nội phố hoàng thành, con gái lớn của Tể phụ cúi đầu nhìn ta, làm rơi trâm cài bộ dao* vào lòng ta. Nàng có biết chuyện này không?”

*Bộ dao là tên một loại trâm cài tóc có tua rua, kiểu trang sức cài tóc rất được phụ nữ thời cổ ưa chuộng.

Khúc Du cười: “Ta có nghe qua. Trạng Nguyên Lang phủ hoa qua phố trước, trâm cài bộ dao nghiêng rớt từ tường thành. Quả là giai thoại, ngàn năm phong lưu thay Châu Đại nhân.”

Cảm ơn thân hữu Vân Nguyệt đã cung cấp chuyện buôn.

Châu Đàn nhẹ nhàng lắc đầu: “Tin đồn này sai rồi.”

Khúc Du ngẩn ra: “Hả?”

“Là trâm ngọc, không phải bộ dao. Vả lại, vị Tể phụ lúc đó là lão sư ta, lão sư không hề có con cái, lấy đâu ra con gái lớn?” Châu Đàn cười khổ: “Chỉ là tin đồn quá lớn. Người làm rơi trâm ngọc từ tường thành năm đó là con gái của Tể phụ sau này.”

“Vậy… chẳng phải là con gái của Phó Khánh Niên sao?” Khúc Du khẽ mở miệng, ngạc nhiên nói: “Quý phi?”

Châu Đàn không phủ nhận cũng không khẳng định: “Lão sư muốn giúp ta từ chối hôn sự, nhưng ta lại không muốn để lão sư làm kẻ ác thay ta. Thêm vào đó, ngưỡng cửa Nhậm gia suýt chút nữa bị giẫm nát bởi những người mai mối đến cầu thân. Đón rồi lại tiễn, ta không chịu nổi sự phiền phức đó, liền dùng một hạ sách.”

Khúc Du đoán được đại khái: “Chàng viết hai bài thơ diễm tình rồi để lộ ra ngoài?”

“Ta… không muốn cưới thê. Khi còn chưa thành hôn tuổi trẻ ph*ng đ*ng một chút, tuy bị chê bai nhưng không tổn hại đến đại cục.” Châu Đàn phủi tay áo rộng của mình bên cạnh nàng, giọng nói có chút nghèn nghẹn: “Hành động này quả nhiên có hiệu quả. Trong nửa tháng, người mai mối giảm đi rất nhiều. Sau đó ta được điều ra ngoài địa phương nhậm chức. Khi vừa trở lại triều chưa lâu thì chính là gặp phải án Nhiên Chúc.”

Chàng không nói tiếp, nhưng Khúc Du đã hiểu ý chàng. Sau án Nhiên Chúc, tiếng tăm Châu Đàn thối nát. Không còn văn thần thanh liêm nào chịu gả con gái cho chàng, con gái võ tướng cũng không thích trượng phu như vậy. Cao Tắc tuy có ý, nhưng chung quy vẫn do dự hồi lâu, mãi không hạ quyết tâm.

Châu Đàn nay đã đến tuổi nhược quán*. Đức Đế luôn có ý muốn ban hôn để ràng buộc chàng nhưng lần nào cũng bị Châu Đàn từ chối. Cho đến khi chàng bị ám sát, Đức Đế mới nắm được cơ hội, tùy tiện ban một mối hôn sự xuống.

*Tuổi nhược quán là cách gọi cổ xưa chỉ nam giới 20 tuổi, đánh dấu giai đoạn thanh niên mới trưởng thành, bắt đầu đội mũ quan để biểu thị đã có danh phận và trách nhiệm trong xã hội, một nghi lễ quan trọng trong văn hóa Trung Quốc xưa. 

“Quý phi ban hôn, một là để cắt đứt ý niệm của Cao gia, hai là kỳ vọng nhà ta không yên ổn, rối như tơ vò. Nếu không xảy ra loạn thì cũng như ý muốn của bệ hạ, muốn tìm chút gì đó để ràng buộc ta.” Gió sông lạnh lẽo, Châu Đàn cởi áo choàng ngoài khoác lên người nàng. “Nàng là con gái sử quan, lại có tài danh, đáng lẽ phải ghét kẻ gian tà, thậm chí không chịu được sỉ nhục, tự sát trước khi về nhà phu quân. Họ đã nghĩ như vậy, chỉ là nàng…”

Chỉ là ngay cả Châu Đàn cũng không ngờ, nàng vượt ngoài dự đoán của mọi người, khi bước qua cửa hoàn toàn không có yêu hận, thậm chí vì giấc mơ mơ hồ kia mà mang chút thiện cảm khó nói thành lời đối với chàng. Hai người từng bước đi đến ngày hôm nay, nói ra đều thấy khó tin.

Nhưng Khúc Du vẫn chưa hiểu: “Muốn tìm chút gì đó để ràng buộc chàng là ý gì?”

Châu Đàn dừng lại một chút: “Giả như… trong cung và ngoài triều đều biết ta và phu nhân tình cảm thắm thiết, bệ hạ, Quý phi, Phó tướng, thậm chí Thái tử và Chấp chính muốn ta thỏa hiệp, chỉ cần động tay vào nàng, vào phụ thân nàng, vào Khúc gia. Thủ đoạn của họ nhiều vô kể, tâm tư khó lường. Ta có thể lên kế hoạch rồi hành động sau, nhưng những người nếu bị tổn hại trong đó thì lấy gì mà bù đắp được?”

“Phải rồi, cũng giống như Nhậm gia vậy.” Khúc Du cũng im lặng. “Lúc đó nếu để họ biết chàng tốn hết tâm cơ gom tiền bạc, nhờ người lo liệu trong ngục thì hoàn cảnh của Nhậm đại nhân e rằng còn có lần thứ hai, thứ ba.”

“Trong yến tiệc, ta ít khi ngồi cùng nàng. Củng thị gây khó dễ với nàng, ta cũng không thể đứng ra bảo vệ nàng.” Châu Đàn vịn mép thuyền, ánh mắt dao động: “Lần trước nàng đến Đông Môn đón ta đã là không nên. May mắn là Thái tử tin vào tin đồn thị phi, cho rằng đó chẳng qua chỉ là bề ngoài.”

Chàng quay đầu lại, ánh mắt in bóng cụm đèn hoa đang dần xa: “Nàng khi đó… xót xa thanh danh của ta, ta lại chỉ hận nó cháy chưa đủ dữ dội.”

Khúc Du siết chặt chiếc áo choàng ngoài trên người, vừa định đáp lời thì thấy Châu Đàn đột nhiên đứng dậy, đỡ nàng vào trong khoang thuyền. Trên án có bút và mực đơn giản, xung quanh tĩnh mịch, chỉ có tiếng nước róc rách.

“Nói ra thì ta đã lâu lắm không viết thơ rồi.”

Châu Đàn dùng chiếc chặn giấy bạch ngọc đè tờ giấy xuống, nhấc bút chấm mực. Khúc Du muốn giật lại cây bút, nhưng không ngờ Châu Đàn lại phủ bàn tay mình lên tay nàng

Nàng không biết có phải đã nghe thấy tiếng tim đập của mình không, chỉ thấy Châu Đàn ở cự ly gần ngay trước mặt, mượn ánh đèn lờ mờ cầm tay nàng viết chữ lên giấy. Khúc Du thất thần một lát, quay đầu lại liền thấy dưới ánh đèn một dòng thơ quen thuộc.

“Cửa son rèm gấm vang ca múa,
Lầu ngọc men say chẳng thoả lòng.”

Nhưng câu thơ này không phải là bài thứ hai trong Xuân Đàn Tập, là bài thơ ướt át nhất từng được viết dưới ngòi bút Châu Đàn sao! Sao lại viết ra trong tình cảnh này chứ?

Nàng tròn mắt nhìn Châu Đàn nghiêm chỉnh cầm tay nàng, viết ra hai câu sau mà nàng nghe quen đến độ thuộc làu.

“Gối lên thân ngọc hương nồng dịu,
Tay nâng hương sắc, phủ màn say.”

Viết xong, Châu Đàn xoa xoa tay nàng, nửa ngày không nói gì, cũng không biết có phải vì xấu hổ với lời lẽ diễm tình ấy không. Khúc Du đưa tay sờ lên giấy, lẩm bẩm: “Nhưng mấy câu thơ này không phải nên được viết vào dịp Thất Tịch ư…”

Bài thơ này tên là Thất Tịch dao dạ đề Xuân Phong Hóa Vũ vi huân (Đêm dài thất tịch ngà say đề thơ tại Xuân Phong Hoá Vũ), vì sao lại xuất hiện ở đây! 

Lời vừa thốt ra, Khúc Du đã thấy không ổn, liền vội vàng sửa lời: “À, ý ta là nói, bài thơ này nghe như thể sáng tác khi nam nữ hoan lạc vào những dịp lễ như Thất tịch vậy.”

Châu Đàn khựng lại một chút, cầm tay nàng đề tên cho bài thơ này.

Đêm dài Thất Tịch đề thơ tại Xuân Phong Hóa Vũ.

Nghĩ một lát lại thêm hai chữ ‘vi huân’. (Ngà say)

Khúc Du hoàn toàn ngây người. Châu Đàn buông tay nàng ra, nhặt tờ giấy hoa tiên lên gấp lại: “Không sao. Hôm khác sai Hắc Y để bài thơ này lưu truyền ra ngoài. Bất kể có phải Thất Tịch hay không, tựu chung đều có thể thêm cho ta chút tiếng xấu bạc bẽo… Nàng nếu gặp người ta nhắc tới cũng không cần phản bác.”

Nàng nhất thời không biết nên nói gì, nhưng thuyền nhỏ đã va vào bậc đá bên bờ, rung mạnh một cái. Hắc Y ở đuôi thuyền nói: “Đại nhân, đến nơi rồi.”

Lúc xuống thuyền, nàng thấy gò má Châu Đàn hơi ửng đỏ, không biết có phải vì trong khoang thuyền quá ngột ngạt không, trông chàng quả thực giống như cái tên của bài thơ đó.

Ngà say.



Bành Việt khác với những quan chức quan trọng có xuất thân từ thế gia huân quý như Phó Khánh Niên. Trước đây hắn ta không ở Biện Đô, cũng không có đất đai nhà cửa. Phường Hiển Minh tấc đất tấc vàng, có giá mà không có chợ. Hắn ta không mua được nhà ở đó nên phủ đệ được dựng ở phường Xương Lạc phía hạ lưu sông Biện.

Phường Xương Lạc là khu vực giới tân quý tộc ưa chuộng. Bên trong phường không phân chia rạch ròi như phường Hiển Minh, thường có các gia đình giàu có xây phủ đệ thành từng khu. Vì đất rộng người thưa, các nhà cũng không ở gần nhau.

Ví dụ như ngôi nhà gần nhất xung quanh Bành phủ cũng cách nửa dặm. Con hẻm này chỉ có một hộ gia đình, cho dù gây náo động long trời lở đất, người ngoài e rằng cũng khó lòng biết được.

Châu Đàn đã điều các thị vệ Hình bộ canh gác đi từ sớm. Khúc Du tiến lại hai bước, nàng vốn nghĩ Châu Đàn sẽ dẫn nàng trèo tường, chui hầm, tìm một cửa nhỏ, nhưng không ngờ đối phương lại dẫn nàng đi thẳng vào từ cửa chính.

“Sao chàng lại đi vào từ cửa lớn?”

Châu Đàn thấy nàng cởi chiếc áo choàng ngoài trên người ra, liền đón lấy vắt trên tay, nghe vậy lấy làm lạ hỏi: “Không đi cửa chính, không lẽ phải trèo tường ư? Ta thì trèo được nhưng nàng có trèo được không?”

Khúc Du ngây ra: “Nhưng chàng đường hoàng đi vào như vậy…”

“Không sao.” Châu Đàn chỉ ra sau: “Cửa lớn Bành phủ bị Hình bộ niêm phong. Ta sai Hắc Y mang theo niêm phong của Hình bộ đến. Đợi khi nàng và ta rời đi, bảo hắn dán lại là được.”

Nàng vừa đi vừa nói: “Vậy thì cái này tính là trộm cắp kiểu gì?”

Châu Đàn đáp: “Không để người khác biết chúng ta từng đến, lại muốn mang đồ đi, chẳng lẽ không gọi là trộm?”

Hai người bắt đầu tìm kiếm từ chính sảnh Bành phủ. Hắc Y không biết tìm đâu ra một chiếc đèn lồng cầm tay. Khúc Du nhận lấy cầm trong tay, hắn liền cúi đầu lui xuống.

Trước đây khi Bành Việt bị lưu đày, hắn rời đi vô cùng vội vàng. Đức Đế không tịch thu gia sản, hắn vội vàng cuộn hết những vật quý giá của mình đi. Những thứ còn lại thì bị thiếp thất và nô tỳ bỏ trốn chia nhau hết. Phó Khánh Niên còn từng phái người lén lút đến lục soát phủ. Mỗi căn phòng đều tan hoang, đổ nghiêng đổ ngả.

Khúc Du cẩn thận xách đèn tránh chiếc biển hiệu rơi xuống ở cửa, cùng Châu Đàn bước vào thư phòng của Bành Việt. Đây hẳn là nơi quan trọng nhất của hắn ta.

“Trước đây Phó Khánh Niên đến tìm, không thu hoạch được gì, thứ này nhất định không ở vị trí bình thường.” Châu Đàn che đỡ cho nàng tránh một cái giá sách lung lay sắp đổ trong phòng. “Câu thơ đó…”

“Gương trời hạ xuống trăng soi, mây dâng kết ngọn lâu đài biển khơi…” Khúc Du lẩm bẩm: “Có lẽ chúng ta nên tìm tranh chữ và sách tập phù hợp với ý thơ này trước.”

Nhưng thơ họa cất giữ trong thư phòng Bành Việt cũng không ít. Tuy ông ta đã mang đi rất nhiều, nhưng trục tranh đã đóng khung vẫn chất đống trong một chiếc chum sứ thanh hoa.

Châu Đàn mở trục tranh xem kỹ dưới ánh đèn. Khúc Du thì đi vòng quanh trong phòng hai vòng, ngay cả trần nhà cũng đã quan sát qua, cũng không biết còn chỗ nào có thể giấu đồ nữa.

Nàng lơ đãng bước qua tấm bình phong đổ rạp trước cửa, muốn đến khung cửa xem thử. Vô tình cúi đầu liếc qua, lại lập tức phát hiện chỗ mấu chốt: “Châu Đàn, chàng lại xem thứ này đi!”

Châu Đàn quay người cúi đầu, thấy trên tấm bình phong phủ đầy bụi có in một vầng trăng cũ kỹ gần như không thể nhìn thấy.

Khúc Du tiện tay lấy một cuốn sách bên cạnh, phủi một hồi trên tấm bình phong. Nàng phát hiện toàn bộ hoa văn của tấm bình phong là một dải núi xanh trùng điệp, sông lớn cuồn cuộn chảy qua chân núi, trên trời treo một vầng trăng, đề mấy chữ gần như không nhìn rõ.

Nàng cúi sát hơn một chút, phát hiện nét bút mực đen thành một khối ở chỗ lạc khoản, viết trên đó chính là bài thơ Độ Kinh Môn Tống Biệt.

“Tấm bình phong này làm bằng lụa mỏng, tuy có thơ ở đây nhưng làm sao có thể giấu đồ?” Châu Đàn cùng nàng xem xét kỹ, ngạc nhiên nói: “Những chữ này viết nguệch ngoạc, có lẽ là Bành Việt tự đề, cốt để nhắc nhở mình đồ ở chỗ nào.”

Khúc Du nhờ Châu Đàn giúp đỡ, dựng tấm bình phong đó lên.

Nàng đi vòng quanh bình phong quan sát kỹ, nhưng lại chú ý thấy trên mặt đất cách đó không xa có một khoảng khá sạch sẽ. Trên mặt đất in một vết hằn giống như đế gỗ của bình phong. Chắc chắn tấm bình phong này ban đầu được đặt ở đó, chỉ là khi có người lục soát mới bị dịch chuyển chỗ.

Hai người đặt bình phong trở lại vị trí cũ. Châu Đàn lách người đi qua trước nó, ngay lập tức phát hiện điều kỳ lạ: “A Liên, nàng xem.”

Khúc Du chui qua, phát hiện phía sau vị trí in hình mặt trăng trên bình phong vừa vặn là một chiếc gương đồng đặt trong thư phòng.

Nàng lập tức nhận ra có điều không ổn: “Bành Việt là nam nhân, sao lại đặt gương đồng giữa thư phòng?”

Chiếc gương đồng này treo trên tường, khi lục soát phủ nó chỉ bị lật ngược lại chứ không hề di chuyển chỗ.

“Gương trời hạ xuống trăng soi…”

Khúc Du tiến lại gần nhìn chiếc gương, lật ngược gương đồng lại. Châu Đàn nhìn ra sau qua tấm bình phong lụa mỏng, đột nhiên lùi sang một bên: “Trùng hợp quá…”

Hai người vào mà không đóng cửa phòng. Ánh trăng đêm nay vừa tròn vừa đẹp, một vầng trăng tròn xuyên qua chiếc bình phong lụa mỏng ở cửa, chiếu một góc vào trong gương đồng.

Hai người đứng chờ một lát. Mặt trăng từ từ lặn về tây, phản chiếu hoàn toàn vào trong chiếc gương đồng nhỏ bé đó. Ngay khi nó dần dần rời khỏi mặt gương đồng, trên bức tường tối om trong phòng đột nhiên phản chiếu ra một vệt sáng rực rỡ.

Khúc Du lập tức bước tới. Trên bức tường đó vẫn còn dấu vết, chắc chắn từng treo thứ gì đó.

Chân nàng đá phải một bức tranh cũ bị vứt xuống trong lúc lục soát phủ. Nàng mở ra xem, là một bức Hải Thị Thận Lâu. (Ảo ảnh trên biển)

Nếu treo bức tranh này lên, vừa vặn sẽ che đi vệt sáng đó.

Châu Đàn đưa tay dò xét hai phần, dùng sức ấn vào vệt sáng đó khiến bức tường lõm sâu xuống. Bên tai vang lên tiếng trục xoay, trên mặt đất dưới bàn thư án, bỗng nhiên hiện ra một hố nhỏ nông.

“Cơ quan thật tinh xảo.” Khúc Du tặc lưỡi khen ngợi: “Nếu chúng ta đến không đúng lúc, chắc chắn không thể phát hiện ra. Bởi thế nên Bành Việt có chỗ dựa không sợ hãi. Phó Khánh Niên phái thủ hạ đến lục soát, nhất định khó lòng tìm thấy.”

Châu Đàn vươn tay lấy một chiếc hộp gỗ trong lỗ hổng ra. Là một chiếc hộp Lỗ Ban,* được chế tác vô cùng tinh xảo và phức tạp, nhưng chàng lại có vẻ rất quen thuộc. Khúc Du chứng kiến đôi tay chàng nhanh chóng gạt các cơ quan xung quanh chiếc hộp, không lâu sau đã tháo rời nó ra.

*Đây là một loại hộp cơ quan được đặt theo tên của Lỗ Ban, một thợ thủ công và nhà phát minh lừng danh thời cổ đại Trung Quốc. Nó có cấu tạo nhiều cơ quan phức tạp (chốt ẩn, trượt, xoay, đẩy, vặn…). Không thể mở bằng cách thông thường – người dùng phải giải mã hoặc tìm đúng cơ chế để mở được nó.

Nàng muốn đưa tay sờ thử, nhưng Châu Đàn nhắc nhở: “Cẩn thận, trong hộp Lỗ Ban này có mũi tên nhỏ, e rằng sẽ làm người bị thương.”

Khúc Du vội vàng rụt tay lại, nhìn thấy chàng quả nhiên lấy ra một cuốn sổ tay từ trong hộp. Bìa đã cũ rách, giống như bị xé ra từ một nơi nào đó. Trên đó viết “Bản vẽ kiến trúc Chân Như Cung do chỉ dụ xây dựng”. Trang đầu tiên kẹp một bản phác thảo tinh xảo của thợ thủ công.

Trên các trang được đóng lại phía sau, chữ viết xiêu vẹo giống như chữ viết trên tấm bình phong kia, rõ ràng không phải do cùng một người viết với bìa. Châu Đàn tùy hứng lật hai trang, ngạc nhiên nói: “Ta vốn tưởng hắn chỉ có bản sao của sổ tay này, không ngờ hắn lại trộm được bản gốc trang phác thảo xây dựng của Vô Chuyên tiên sinh, thế nên mới khiến Phó Khánh Niên căng thẳng như vậy. Thứ này hữu dụng hơn nhiều so với những bức thư nửa hư nửa thực trong tay Đỗ Huy.”

Khúc Du tuy không hiểu bản vẽ kiến trúc đó, nhưng loáng thoáng có thể hình dung được. Ngoại trừ đo đạc mặt đất, Công Thâu Vô Chuyên còn cố ý vẽ một mật thất hình thuyền ở dưới cùng của bản phác thảo, kết nối qua miệng giếng Nam Uyển, vô cùng bí mật.

“Chờ đã, mật thất này… đã có sẵn từ lúc xây dựng, chứ không phải được mở ra trong lần trùng tu sau vụ hỏa hoạn.” Khúc Du nhìn chằm chằm một lát rồi đột nhiên cất lời: “Vậy thì vụ hỏa hoạn Nam Uyển năm đó, hẳn không liên quan gì đến mật thất này. Nếu Quý phi muốn mượn chỗ tư thông thì cần gì phải bày ra vụ hỏa hoạn làm chi?”

Châu Đàn nói: “Hỏa hoạn có lẽ là để lấy cớ sau này nói Chân Như Cung ồn ào, phong thủy không tốt?”

Chàng chỉ vào bản đồ nói: “Hèn gì bệ hạ buộc phải lấy lý do xây lại cung điện để đào xới toàn bộ Chân Như cung lên. Mật thất này lớn như vậy, không làm thế thì không tìm thấy được.”

Khúc Du ngẩn người: “Nếu như không hề có chuyện tư thông thì sao… Bệ hạ rốt cuộc có tìm thấy thi thể nam nhân dưới Chân Như cung không?”

Châu Đàn im lặng: “Chuyện này, e rằng thế gian này chỉ có mình bệ hạ biết thôi.”

Nàng ở trong dòng lịch sử rối ren này, cứ tưởng mình đã khám phá ra bí mật lịch sử, nhưng càng đi sâu tìm đường, sương mù lại càng nhiều. Tuyên Đế và Triệu quý phi tình cảm nồng thắm, có mấy bức thư kia dẫn dắt, nàng luôn tưởng Lưu tướng là một nhân vật chính trực, nhưng hôm nay khi nhìn thấy bản vẽ, nàng đột nhiên bị dội một gáo nước lạnh.

Liệu có phải nàng đã nghĩ sai không? Ví phỏng… căn bản không hề có chuyện tư thông, Chân Như cung lúc mới xây đã có mật thất. Lưu tướng sau khi biết chuyện đã nghĩ ra một mưu kế thâm độc, tung tin đồn nhảm để Tuyên Đế nghi ngờ huyết thống của Tống Sưởng. Giống như Phó Khánh Niên sau khi thấy bản vẽ Chân Như Cung đã lập tức nghĩ ra quỷ kế lật đổ Cố Chi Ngôn. Giết người không thấy máu, đảng tranh đáng sợ chính là ở điểm đó.

Dẫu ở bên cạnh Châu Đàn, nàng cũng không cách nào vén sạch màn sương mù lịch sử, huống hồ là những lời đồn thổi và câu chuyện thực thực hư hư, thật thật giả giả này.

“Chúng ta đi thôi!” Châu Đàn cẩn thận gói lại đồ vật, vươn tay tháo chiếc gương đồng đó xuống, quyết đoán nói: “Ta sai Hắc Y kéo tấm bình phong này ra hậu viên đốt đi, tro tàn thì quét xuống hồ. Trạch phủ này không thể phong tỏa được bao lâu, bệ hạ chắc sẽ ban thưởng cho người khác. Ta và nàng tìm được chỗ này thật sự là may mắn. Phó Khánh Niên trước đây lục soát không kỹ, đợi trạch phủ được ban cho người khác rồi mới đến tìm, chẳng khác nào múc nước bằng rổ tre.”

“Chàng hiện đã nắm trong tay điểm yếu của ông ta rồi, giờ chàng tính làm gì?” Khúc Du hỏi: “Bệ hạ muốn thu hồi quyền hành pháp. Vụ án này hung thủ rốt cuộc là như Kinh Đô Phủ phán quyết hay như chàng điều tra đều phụ thuộc vào một ý nghĩ của bệ hạ. Chàng và Chưởng lệnh Kinh Đô Phủ, nhất định có một người phải bị tế trời. Nếu ta là Phó Khánh Niên, mấy ngày này đã hiểu rõ ý của bệ hạ, hẳn là sẽ cố gắng sắp xếp bằng chứng mới chứng minh chàng đang quét sạch kẻ đối lập để bệ hạ bảo vệ ông ta mà bỏ rơi chàng.”

Châu Đàn dẫn nàng cưỡi ngựa về phủ. Tiếng vó ngựa vang vọng cộp cộp trong ngõ hẻm đã yên tĩnh. Trong tiếng gió, nàng nghe Châu Đàn nói: “Phu nhân nếu là nam nhi, chắc chắn là nhân tài trong chốn quan trường.”

“Ông chủ Ngải hôm nay còn khen ta chắc chắn là tay buôn bán giỏi mà.” Khúc Du cười một tiếng, nói: “Tại sao nhất thiết phải là nam nhi chứ? Ta là thân nữ nhi nhưng những thứ này vẫn làm được như thường.”

Châu Đàn im lặng một lát rồi nói: “Nàng nay đã có phu quân, nếu qua lại thân mật với Bách y quan ta có thể không bận tâm, nhưng chỉ sợ thế gian ngoài kia sẽ làm tổn hại thanh danh của nàng. Trong sản nghiệp của Châu phủ cũng có cửa tiệm ở mặt tiền sông Biện. Nếu nàng có hứng thú thì cứ tới xem nhiều hơn.”

“Được.” Khúc Du đồng ý ngay, cười tủm tỉm nói: “Nếu đã vậy, lần sau ngoài việc mời Bách y quan chữa bệnh, lúc ta gặp hắn sẽ bắt hắn giả gái.”

Châu Đàn lại không nói gì nữa.



Tống Thế Diễm trở về phủ từ cung khi đã là giờ Nhân Định.

Đức Đế có chín hoàng tử. Ngoại trừ trưởng hoàng tử và ngũ hoàng tử chết yểu, chỉ có cửu hoàng tử do Quý phi sinh ra là được sủng ái nhất. Hôm nay là sinh thần ba tuổi của cửu hoàng tử. Hắn ta phải cười bồi ở yến tiệc trong cung, đến nỗi hai má cũng cứng đờ.

Hắn ta biết rõ, phụ hoàng thực ra cũng không yêu thương cửu đệ này bao nhiêu. Sự sủng ái này chỉ vì đệ ấy còn nhỏ tuổi. Nhỏ tuổi nên ôn hòa vô hại. Năm xưa phụ hoàng cũng từng sủng ái hắn, sủng ái ngũ đệ và lục đệ như thế.

Phó Khánh Niên cùng hắn đi đến trước cửa cung, lời lẽ khách sáo: “Cung tiễn điện hạ.”

Tống Thế Diễm nhếch môi cười: “Phó tướng đi thong thả.”

Hai người lướt qua nhau dưới tường đỏ lạnh lẽo, gần như có thể ngửi thấy mùi rượu tỏa ra từ người đối phương.

Thái tử phi đón hắn ta ở cổng phủ, nàng đã chuẩn bị canh giải rượu và cháo kê. Tống Thế Diễm uống vài ngụm, nhận ra mùi vị của cháo hôm nay khác với mọi ngày, liền hỏi thêm một câu: “Đây là do đầu bếp trong phủ làm?”

“Đây là do thiếp hôm nay đến tiệm ăn bên ngoài sông Biện nhờ người làm.” Giọng Thái tử phi ôn thuận như thường lệ: “Điện hạ yên tâm, thiếp đã sai người kiểm tra qua rồi. Mà nói ra cũng thật trùng hợp, hôm nay ở tiệm đó, thiếp lại gặp Thị Lang phu nhân.”

Gia yến sinh nhật cửu hoàng tử Thái tử phi không đi cùng vì nàng vốn dĩ thân thể yếu ớt, sáng nay lại gặp chứng tức ngực. Y quan khám qua nói không nên uống rượu hay ăn nhiều.

“Ồ?” Tống Thế Diễm hứng thú hỏi: “Thị Lang phu nhân… Nàng có trò chuyện với nàng ta không?”

“Thị Lang phu nhân có lòng nhiệt tình, còn chọn cho thiếp nhiều công thức món ăn.” Thái tử phi ấn vào trán hắn nói: “Điện hạ nói không sai, nàng ấy quả nhiên là người dễ hòa hợp.”

“Ừm.”

Trong phòng đốt trầm hương nồng đậm, ngửi vào khiến người ta buồn ngủ. Tống Thế Diễm gần đây luôn cảm thấy tinh thần mệt mỏi. Sau yến tiệc rượu hôm nay lại càng bồn chồn vô cớ. Đúng lúc này, móng tay của Thái tử phi vô ý khẽ lướt qua trán hắn ta, giống như đột nhiên ném một mồi lửa, Tống Thế Diễm tối sầm mặt đứng dậy, giơ tay tặng nàng một cái tát trời giáng.

Thái Tử Phi bị cái tát mạnh này hất ngã xuống đất. Đám nô tài xung quanh đang bưng chậu đồng, cầm khăn lập tức quỳ rạp xuống đất. Thị vệ ngoài cửa ho khan hai tiếng, rồi mới quỳ lết rút lui ra ngoài.

“Thiếp… hầu hạ không chu đáo…” Thái Tử Phi quỳ trên mặt đất run rẩy, ngay cả giọng nói cũng run rần: “Xin điện hạ giáng tội.”

Tống Thế Diễm cười khẩy một tiếng, không đáp lời, thong thả ăn hết chén cháo trong tay, rồi mới vươn tay đỡ nàng dậy.

Da Thái tử phi trắng trẻo, cái tát của hắn ta đã để lại một vết hằn đỏ rõ ràng bên má nàng. Tống Thế Diễm v**t v* gương mặt nàng trìu mến, cười như không cười nói: “Thật đáng thương. Quỳ làm gì, cô nhìn mà xót, lại đây cô thoa thuốc cho nàng.”

“Phiền điện hạ rồi.” Thái tử phi cụp mắt nói.

Nàng lấy lọ thuốc trị thương từ ngăn kéo bên cạnh ra, cung kính đưa tới rồi quỳ phục dưới chân Thái tử, lặng lẽ ngẩng đầu lên.

Hắn ta lười biếng nhận lấy, giống như một trò đùa ác ý, đổ thẳng bột trắng đó lên mặt nàng. Bột thuốc bay tứ tung, Thái tử phi không dám ho, nhịn đến má đỏ gay.

Tống Thế Diễm giơ tay ném cái lọ đi, vỗ vỗ mặt nàng một cách sỉ nhục: “Cữu cữu là đại tướng quân bình định tây chinh, các ca ca nàng ra trận giết địch cũng là nam nhi máu lửa. Sao nàng lại thích quỳ đến thế?”

Nói xong câu này, hắn ta hình như nhớ ra điều gì đó: “Cùng là nữ tử, có người ngay cả nô bộc trong nhà quỳ xuống cũng thấy khó chịu, nàng lại quen thuộc đến thế. Hai lạng xương cốt, quả nhiên là ti tiện.”

Thái tử phi cúi đầu không nói gì. Ngoài cửa phòng lại truyền đến ba tiếng gõ cửa. Tống Thế Diễm gõ gõ lên bàn, lập tức có người bước vào, như không nhìn thấy cảnh tượng bên trong, ngắn gọn và gấp gáp nói: “Điện hạ, phía sông Biện xảy ra chuyện rồi.”

Tống Thế Diễm nheo mắt lại.