Ngô Bôn chắp tay sau lưng, bước đi trên hành lang, Hà Nguyên Khải theo sát bên cạnh. Hắn ta ngoái nhìn vườn một cái, chợt nhớ ra điều gì, bèn hỏi: “Tên Châu Đàn tới từ Biện Đô kia, cùng với phu nhân của hắn hôm nay đã tới dự tiệc chưa?”
Hà Nguyên Khải đáp: “Đã gửi thiếp mời, nhưng không rõ liệu họ có đến không.”
Ngô Bôn “hừm” một tiếng, cười bảo: “Ta còn tưởng hắn là nhân vật sừng sỏ thế nào, ai ngờ nói không tới xã giao thì quả thật không tới xã giao, cứ thế ung dung nghỉ ngơi bấy lâu, ngày ngày cùng phu nhân nhàn du chơi bời. Hắn tới Nhược Châu để tiêu khiển thư thả hay sao?”
Hà Nguyên Khải rủ mắt, nịnh hót: “Những quan lại kinh thành ấy nào hiểu được việc biên cương, tới đây rồi vẫn phải nghe theo đại nhân. Chờ đến khi hắn thực sự nhậm chức, đại nhân chỉ cần hăm dọa vài lời, e rằng hắn sẽ sợ hãi mà buông tay ngay, chẳng dám quản nữa.”
“Ngươi nói phải.” Ngô Bôn tỏ vẻ khoan khoái: “Nhưng ngươi vẫn phải để mắt tới hắn một chút. Người ta nói quan lại kinh thành đặc biệt là văn thần, tâm tư khúc khuỷu, uốn lượn nhất, vạn nhất những gì hắn đang làm chỉ là đang giấu tài thì sao?”
“Hắn ở Nhược Châu đất lạ người xa, dù có đang quan sát đại nhân thì cũng làm nên sóng gió gì được chứ?” Hà Nguyên Khải khinh miệt nói: “Đại nhân và Vương tướng quân là chỗ thông gia thân thiết, tại chốn này lại có binh có quyền. Dù hắn có thật sự như lời đồn, là nhân vật hô mưa gọi gió ở Biện Đô đi nữa thì nay có thể làm được gì? Ngay cả khi chúng ta…”
Hắn làm một cử chỉ như tay chém xuống, cười nói: “Cũng chẳng ai cứu nổi đâu.”
“Hôm nay nếu hắn tới, chúng ta sẽ thử hắn một lần cuối.” Ngô Bôn nói, một bên má hắn ta có một nốt ruồi lớn, thỉnh thoảng hắn ta lại vô thức đưa tay lên sờ. “Bất kể Châu Đàn là thực sự sợ hãi hay cố tình giả bộ như vậy, chỉ cần hắn biết điều một chút, Nhược Châu này vẫn có thể dung chứa được cái mạng nhỏ của hắn.”
Hai người vừa trò chuyện vừa đi đến cuối hành lang, một binh sĩ tới cúi mình chào, nói: “Bẩm lão gia, Châu đại nhân kia đã dẫn gia quyến tới rồi ạ.”
“Vừa nhắc tào tháo, tào tháo đã tới.” Hà Nguyên Khải khom lưng lui sang một bên, cười đưa tay, dùng giọng điệu hát tuồng lượn lờ cất tiếng: “Đại nhân, mời.”
“Tên lẻo mép.” Ngô Bôn cười mắng một câu.
Bên này, Châu Đàn và Khúc Du bước xuống từ xe ngựa, nắm tay nhau đi vào trong phủ. Khúc Du chỉ dẫn theo Hà Tinh, còn Châu Đàn thì chỉ mang theo Hắc Y. Hai binh sĩ đứng gác cổng Ngô phủ để kiểm tra thiếp mời, thấy Hắc Y mang mặt nạ trên mặt, liền ngập ngừng chặn lại: “Vị đại nhân này, xin làm ơn tháo mặt nạ ra rồi hẵng vào phủ.”
Hắc Y lạnh lùng nói: “Mặt nạ này đã hàn chặt trên mặt ta, trừ phi chết đi mới có thể tháo xuống.”
Châu Đàn ho khan một tiếng, giải thích với thái độ ôn hòa: “Tên thuộc hạ này của ta nhiều năm trước gặp hỏa hoạn, một lòng cứu ta nên đã bị hủy dung. Từ đó về sau luôn mang mặt nạ, không bao giờ tháo ra, cũng là sợ dọa đến người khác.”
Hai binh sĩ nhìn nhau, có vẻ hơi do dự, nhưng giọng Hắc Y khàn đặc khó nghe, quả thực rất giống người bị hỏng giọng trong hoả hoạn. Sau một hồi phân vân, cuối cùng họ vẫn giơ tay cho phép họ vào phủ.
Khúc Du thấy một trong hai binh sĩ rời cổng vội vàng vào trong nhà, hình như là để báo tin, liền kéo tay Châu Đàn xuống thấp hơn: “Ngô Bôn điều quan binh đến canh gác trong phủ, phải chăng là quá mức cảnh giác? Hắn ta đây là làm việc xấu nên trong lòng bất an chăng?”
“Trong thành Nhược Châu, kẻ muốn giết tên cẩu quan này chắc chắn không ít.” Châu Đàn nhìn thẳng phía trước, thản nhiên đáp: “Sư phụ ta hồi đầu năm nhận được thư tín đã có ý định ra tay, điều người đến Nhược Châu để giải quyết hắn ta. Khi đó… đã tìm đến đồng môn của ta, lệnh điều động cũng đã ban ra, chỉ là Bành Việt và Phó Khánh Niên ở triều đã đè nén công văn của Lại bộ. Chẳng bao lâu sau, lại xảy ra án Nhiên Chúc…”
Châu Đàn mím môi: “Ngày hôm sau, đồng môn của ta đã chết trong ngục. Khi ấy, bệ hạ thậm chí còn chưa hề động sát tâm. Bọn ngục tốt tàn bạo trong chiếu ngục bị Phó Khánh Niên mua chuộc, những thủ đoạn đó, e rằng nàng khó có thể tưởng tượng nổi.”
Trước kia, chàng thường xuyên gặp ác mộng, nhắm mắt lại là có thể nhớ về bàn tay của các đồng môn vươn ra từ biển máu núi xương, có tên ngục tốt cười quái dị, ấn mặt chàng xuống vũng máu, rồi đóng chiếc đinh đầu tiên vào vai chàng.
Mỗi lần hồi tưởng đều khiến người ta dựng tóc gáy.
Thế nhưng, từ khi trở về từ núi Kinh Hoa, mỗi ngày Khúc Du đều sai người treo một chiếc đèn lồng bên ngoài Tùng Phong Các. Chàng nằm trên giường, mở mắt ra vừa vặn có thể nhìn thấy ánh sáng vàng ấm áp qua lớp giấy cửa sổ. Từ đó về sau, ác mộng cũng dần vơi đi.
Khúc Du ôm chặt cánh tay chàng, hồi tưởng: “Vết thương hình tròn trên xương bả vai chàng cũng là do họ dùng hình mà thành sao? Dùng hình gì vậy? Ta thấy đến giờ vẫn chưa lành hẳn, khi đó hẳn là vô cùng thảm khốc, có thể hình dung được.”
Châu Đàn nghiêng đầu sang, khẽ mỉm cười. Trước kia chàng vốn không thích cười, chỉ là Khúc Du thường khen chàng cười lên rất đẹp, chàng cũng muốn nàng vui lòng hơn: “Nói ra sợ dọa đến nàng.”
Khúc Du đáp: “Ta không sợ đâu.”
Châu Đàn nhượng bộ: “Vậy tối về ta sẽ kể cho nàng nghe.”
Chàng đưa tay ho một tiếng, rồi tiếp tục câu chuyện dang dở: “Sau đó, ta lần lượt lật tung từng kẻ đã dùng hình, từng quan viên đã đàn hặc*, phàm là kẻ nào mang trên mình án cũ nhiều năm, ta đều bắt họ về Hình bộ, trả lại những gì họ đã gây ra.”
*Cụm từ đàn hặc đã xuất hiện nhiều trước đó nhưng quên giải thích để mọi người hiểu. Đàn hặc có nghĩa là buộc tội và lên án một quan lại hoặc người có chức quyền trước triều đình vì có hành vi sai trái, vi phạm pháp luật hoặc đạo đức.
Khúc Du “à” một tiếng đầy hàm ý.
Châu Đàn cảm thấy giọng mình có chút cay đắng: “Thôi, không nói với nàng những chuyện này nữa. Chỉ là, việc ta bị họ gán cho cái tội danh ‘vu oan giá họa’ kia quả thực cũng không oan chút nào, ta chính là cố ý…”
Chàng chưa nói hết, Khúc Du đã ngắt lời: “Phì! Họ trước kia vốn mang trên mình án cũ, đã thực sự làm điều ác. Chàng lật án cũ ra, bắt người theo hình luật thì tính là vu oan giá họa gì? Lũ người xấu ấy làm ác còn tìm cách thoát tội, chàng thì hay rồi, còn ở đây tự nhận thêm tội danh cho mình.”
Nàng với vẻ mặt phẫn nộ tiếp tục cùng chàng bước tới, lải nhải than phiền: “Nói đi nói lại, vẫn là vấn đề của hình luật và quyền hạn của bộ phận chấp pháp… Những người này đều từng làm điều ác, nhưng chưa từng bị trừng phạt. Án bị ém ở đó, nếu không có chàng, e rằng tất cả đều đã thoát tội. Hình bộ đáng lẽ phải đặt ra các pháp lệnh chi tiết về trách nhiệm và giám sát. Điển Hình Tự giờ đây như hữu danh vô thực, còn có thể giúp ai kêu oan được đây? Đám người trong triều đầu óc toàn là tranh đoạt quyền lực, phe phái. Trước đây ta và Chỉ Lăng từng gặp, ngay cả bà lão đi sắm sửa cho Lưu gia cũng thấy tìm quan phủ kêu oan là vô dụng. Cứ như thế này, làm sao mà được…”
Nàng nói một tràng dài mới nhận ra hình như mình đã nói quá nhiều, liền ngượng nghịu im bặt. Châu Đàn khẽ ngạc nhiên xoa tóc nàng, nghiêm nghị nói: “Trong triều chỉ thiếu những người như nàng thôi… Nếu phu nhân có thể vào triều làm quan, ắt sẽ là một văn thần thanh liêm như Triều Từ.”
Khúc Du được chàng khen có chút ngượng, vội vàng chuyển đề tài: “Đúng rồi, chàng vừa nói những chuyện này…”
“Ta nói những chuyện này là để nàng biết, cho dù Ngô phủ này có là hang rồng ổ cọp thì nàng cũng không cần phải lo lắng.” Châu Đàn thì thầm: “Người bên cạnh nàng, mới là kẻ đáng sợ nhất trong toàn phủ. Ở Hình bộ lâu như vậy, trừ phi ta muốn, bằng không không ai có thể uy h**p được ta.”
Giọng chàng bình tĩnh, lãnh đạm, như thể đang kể một chuyện hết sức bình thường, nhưng sự ngạo mạn và tự tin trong lời nói gần như tràn lan ra ngoài. Khúc Du ngẩn ngơ nghĩ, thực ra nàng cũng chưa từng lo lắng.
Dẫu sao, có lẽ Châu Đàn đã quên mất, kế hoạch ngày hôm nay rõ ràng là do nàng và Châu Đàn cùng nhau bàn bạc mà ra.
Hai người đi đến trước chính sảnh liền nghe thấy một tràng tiếng nam nhân cười nói. Ngô Bôn thấy Châu Đàn tới, liền đích thân đi từ xa ra đón: “Tiểu Châu đại nhân! Vừa nãy ta còn cùng mọi người nhắc đến ngài, không ngờ hôm nay ngài lại nể mặt đến thế, dẫn phu nhân cùng tới… Trong sảnh nam nữ phân chia riêng biệt, ta sẽ sai người dẫn phu nhân đến chỗ nữ quyến nhé.”
Khi nhìn thấy người trong chính sảnh, Khúc Du liền nhanh chóng nhặt chiếc quạt cầm tay lên che mặt. Nàng giơ quạt lên làm một điệu bộ tinh nghịch, Châu Đàn rủ mi mắt xuống ngầm ý bảo nàng đi, nàng liền làm ra vẻ khách sáo nói: “Làm phiền Ngô đại nhân rồi.”
Ngô Bôn lúc nãy chỉ nhìn thấy loáng thoáng Châu Đàn dẫn theo một nữ tử dáng vẻ yểu điệu, chưa kịp nhìn rõ mặt. Khi ra đón vốn muốn nhìn kỹ hai lần, không ngờ nữ tử đến từ Biện Đô lại giữ lễ đến vậy, lập tức đưa tay che mặt.
Cách lớp quạt lụa mỏng, hắn ta lờ mờ thoáng thấy dung nhan đối phương, lập tức cảm thấy lòng xao xuyến. Lại thêm giọng nói của đối phương lại vô cùng êm tai, khiến hắn ta không kìm được vui vẻ nói: “Thiếu phu nhân khách khí quá.”
Châu Đàn dường như nhận ra ánh mắt của hắn ta, sắc mặt lạnh đi, lập tức cất bước đi vào trong sảnh. Ngô Bôn có chút tiếc nuối nhìn thêm hai lần rồi đuổi theo Châu Đàn quay vào trong sảnh.
Khúc Du thì dẫn theo Hà Tinh, được một tiểu thị nữ dẫn đến một căn phòng bên cạnh.
Hôm nay là sinh thần ba mươi tuổi của phu nhân Ngô Bôn, tên Vương Di Nhiên. Ngô Bôn ở Nhược Châu nói một không hai, huynh trưởng của Vương Di Nhiên lại là Vương Cử Thiên, đương nhiên mọi người đều nịnh bợ. Hầu hết các nữ quyến có máu mặt trong thành Nhược Châu đều đã tề tựu đông đủ.
“Lão phu nhân nhà thiếp hôm qua còn nói thân thể không khỏe, không thể tới dự tiệc sinh nhật của phu nhân, bảo thiếp mang một đôi vòng ngọc phỉ thúy đến tạ lỗi. Nói rằng đây là hàng tốt ở Lương Châu, mong Tri Châu phu nhân chớ chê.”
Vương Di Nhiên ủ rũ ngồi trên ghế, một phu nhân trung niên hơi tròn đầy đang luyên thuyên nói, mặt đầy ý cười: “… Con trai, cháu trai thiếp đều đang dưới trướng Vương tướng quân, còn mong phu nhân chiếu cố nhiều hơn.”
Vương Di Nhiên miễn cưỡng nặn ra một nụ cười: “Đương nhiên rồi, Trung tướng phu nhân khách sáo quá.”
Người được bà gọi là Trung tướng phu nhân ngồi trở lại ghế, cười rạng rỡ kéo người hai bên trò chuyện, uống trà. Đang nói chuyện, bỗng nhiên nhắc đến Khúc Du: “Vừa nãy có người nói, nương tử của vị Thông phán đại nhân mới tới nhậm chức kia cũng đến rồi. Ôi chao, vị này nghe nói xuất thân là quý nữ Biện Đô, tầm mắt cao hơn trời, nhưng cuối cùng vẫn phải nể mặt Tri Châu phu nhân chúng ta, vội vàng đến đây. Vừa hay, thiếp cũng muốn xem, cô nương lớn lên trong chốn giàu sang phú quý Biện Đô kia, có gì khác biệt so với chúng ta không?”
“Chúng ta so với người Biện Đô đương nhiên là lũ nhà quê biên cảnh thô kệch, không đáng để mắt tới.” Một phu nhân khác bên cạnh bà cười nói: “Chỉ sợ vị quý nữ này không chịu nổi phong sương khổ cực nơi Nhược Châu, khinh thường chúng ta thôi.”
Trong sảnh vang lên một tràng cười, Khúc Du vừa mới đi đến trước sảnh, liền nghe thấy một tiếng cười the thé: “Trước đây ta gửi thiếp mời đi đạp thanh* đều bị nàng ta từ chối. Mặc kệ nàng ta là ai, còn muốn làm cao ở Nhược Châu này sao? Ta đây muốn xem xem, Biện Đô có thể nuôi dưỡng ra mỹ nhân thế nào, chẳng lẽ tùy tiện bắt một người lại còn xuất sắc hơn cả đệ nhất cô nương thành Nhược Châu nhà Tả lĩnh* hay sao?”
*Đạp thanh ở đây còn có nghĩa là du xuân, dạo chơi ngắm cảnh mùa xuân, thường là ra ngoài đồng cỏ, núi non khi tiết trời ấm áp và cỏ cây đâm chồi nảy lộc. Đây là một phong tục truyền thống của người Trung Quốc vào mùa xuân, đặc biệt là vào Tiết Thanh Minh.
*Trong nhiều quân đội thời phong kiến, binh lính được chia thành các đạo quân cánh trái (tả), cánh phải (hữu), trung quân. Người đứng đầu cánh trái gọi là Tả lĩnh, chỉ huy đạo quân bên cánh trái.
Cô nương họ Tả kia hành lễ phía sau mẫu thân mình, kiêu ngạo nói: “Thẩm Thẩm quá khen rồi.”
Nàng còn chưa xuất hiện, sao đã kéo về nhiều sự thù ghét đến vậy? Trước kia ở Biện Đô, tiếng thơm bay xa cũng không thấy mấy ai dám mạo phạm. Củng Ngọc Oanh không ưa nàng cũng chỉ là vì chuyện đánh trống không kêu oan hợp với đức hạnh nữ nhi.
Những cảnh thường thấy trong kịch, kiểu nữ nhân đối chọi, nàng thật sự hiếm có cơ hội đích thân trải nghiệm.
Nghĩ đến đây, Khúc Du bỗng cảm thấy đầy hứng thú. Nàng khẽ ho một tiếng, giơ chiếc quạt che trước mặt, dùng bước chân hoa sen nhẹ nhàng tao nhã, kiểu đi mà Cao Vân Nguyệt đã đích thân thị phạm khi chê nàng đi đứng tùy tiện, uyển chuyển mà bước vào.
Trong sảnh lập tức im lặng như tờ.
Nàng giơ quạt, không nhìn thấy nét mặt của mọi người, bèn khẽ khom gối, ôn tồn nói: “Mấy hôm trước mắc phong hàn đau ốm, đã làm lỡ hẹn với lời mời của các phu nhân, nay ta xin được tạ tội tại đây.”