Khúc Du khoác quan bào bước vào hậu đường Hình bộ đã lâu ngày không gặp, Lật Hồng Vũ theo lệ đưa bút tới, ngẩng đầu lên nhìn thì sững sờ.
“Ngươi, ngươi ngươi ngươi…”
Khúc Du nhận lấy bút, vẽ vòng tròn điểm danh vào danh sách bên tay, mỉm cười với hắn: “Tiểu Lật, đã lâu không gặp.”
“Ngươi không phải, không đúng… Hóa ra ngươi chính là!!!”
Lật Hồng Vũ nói năng lộn xộn vài câu, cuối cùng mới chợt hiểu ra: “Nghe nói tiểu Châu… không đúng, nghe nói thê tử của Châu tể phụ muốn vào hậu đường Hình bộ đốc tra hình luật, ngươi nhất định là vị quý nhân đó rồi! Ta tên là Lật Hồng Vũ, ca ca là lĩnh đầu ở Tả Lâm Vệ, Châu phu nhân… không đúng, hình như không nên gọi như vậy. Ta vừa thấy ngài đã cảm thấy vô cùng quen thuộc, sau này xin chiếu cố một hai…”
Khóe miệng Khúc Du giật giật.
Hóa ra cái gọi là chợt hiểu ra mà nàng nghĩ cũng chẳng phải là chợt hiểu ra.
Nàng đặt bút xuống, thở dài một tiếng, nhìn về phía bình phong vẫn luôn được đặt ở hậu đường Hình bộ: “Năm đó chính Tiểu Lật đã kể tỉ mỉ cho ta về chuyện bình phong này, xa cách nhiều năm, cố nhân tương phùng mà lại không nhớ sao.”
Lật Hồng Vũ nhíu chặt mày suy nghĩ một lát, lại nhìn nàng một cái, như thể bị ý nghĩ của chính mình dọa sợ, rụt rè thăm dò hỏi: “Tiểu huynh đệ có phải là người ngày đó…”
Khúc Du mỉm cười gật đầu.
Lật Hồng Vũ mở to mắt “chậc” một tiếng: “Nói như vậy, khi tiểu Châu đại nhân còn ở Hình bộ, phu nhân đã… Phu nhân quả là kỳ nữ đương thời! Ta lại hoàn toàn không nhận ra!”
Khúc Du bất đắc dĩ, chuyển sang hỏi: “Điều luật của Tể phụ đã đưa đến Hình bộ chưa?”
“Đến rồi, đến rồi.” Lật Hồng Vũ nói: “Ta dẫn phu nhân… à không, tiểu Khúc đại nhân đến lấy văn thư quan duyệt.”
Vài ngày trước, Châu Đàn đã đơn phương thỉnh quốc ấn của hoàng đế trong khi không một ai trong Chính Sự Đường đóng ấn, chính thức ban bố luật lệnh bãi bỏ luật cũ.
Từ khi Đại Dận lập quốc, thiên tử và sĩ đại phu luôn cùng nhau trị bình thiên hạ. Triều đại Đức Đế xảy ra án Nhiên Chúc, không khó để tưởng tượng sẽ bị sử sách đời sau chửi rủa đến mức nào.
Hiện nay Minh Đế đăng cơ, chính quyền tuy đã tạm thời ổn định triều đình bằng trận đại chiến bình định Tây Cảnh, nhưng Minh Đế thực sự còn trẻ, mọi người đều tự hiểu trong lòng, đại quyền nằm trong tay Chính Sự Đường đã được di chiếu chỉ đích danh phụ chính.
Châu Đàn vượt qua ba người còn lại trong Chính Sự Đường trực tiếp sửa luật, rõ ràng là muốn tập trung quyền lực độc đoán.
Tướng quyền đang cân sức với quân quyền và sĩ đại phu của Đài Gián.
Trong triều và ngoài kinh dần dần có thêm lời đồn, nói Tô Triều Từ vì chuyện biến pháp đã cãi nhau lớn với Châu Đàn trong Chính Sự Đường, không vui vẻ gì mà tách ra, hai vị Tể – Chấp cân sức như nước với lửa.
Lạc Kinh Luân khéo léo nhất, xin cáo bệnh không ra ngoài. Thái Anh giữ thái độ trung lập, im lặng. Tống Thế Huyên thì không hề nghi ngờ ủng hộ luật lệnh mới của Châu Đàn, cho dù trên điều luật chưa có phụ ấn của ba người còn lại trong Chính Sự Đường, cũng không chút do dự mà phê chuẩn.
Chấp chính Tô Triều Từ xuất thân thế gia trở thành đối tượng than phiền của mọi người.
Trong vài ngày, khách đến thăm nối tiếp không dứt, Tô Triều Từ cũng không từ chối, kiên nhẫn tiếp đón từng người, mời đối phương vừa uống trà vừa than thở nhưng lại không nói một lời nào.
Có người không kìm được, căm phẫn dâng trào tại sảnh đường: “Châu Đàn kia rõ ràng là mượn danh biến pháp để thâu tóm quyền lực, Chính Sự Đường đã không thể ràng buộc, cứ thế này, chẳng phải lại sắp xuất hiện một Tể phụ chuyên quyền sao? Tể phụ của tiền triều gương còn sờ sờ đó, ông ta cũng mượn danh biến pháp, cuối cùng gây nguy hại cho bệ hạ, người thần cùng phẫn nộ!”
Tô Triều Từ đặt chén trà trong tay xuống, thản nhiên nói: “Chờ thêm chút nữa.”
Chờ đi chờ lại, lại không thấy có hành động gì.
—
Khúc Du xoa xoa trang sách hình luật mới sửa bên tay, luôn cảm thấy vô cùng bất an.
Nàng nhớ lại khi Tước Hoa Lệnh bãi bỏ luật cũ ban bố, Châu Đàn đang cùng nàng đánh cờ trong màn trướng.
Gió đêm thổi tung màn giường, nước cờ của Châu Đàn hung hãn, nàng trước đây còn xem hiểu, bất kể là đối phó với Bành Việt hay Phó Khánh Niên, Châu Đàn đều giả vờ đi nước cờ này để đối phương sản sinh ảo giác khinh thường.
Tiểu tử còn hôi mùi sữa, trẻ người non dạ, ỷ vào có chút tài tình liền ảo tưởng có khả năng thông thiên, đễ dàng sụp đổ.
Cho đến khi phát hiện sự hấp tấp đó chỉ là âm mưu được bao bọc tinh vi thì đã không kịp nữa rồi.
Lần này hoàn toàn khác so với trước, nàng nhìn ngang ngó dọc cũng không nhìn ra nước cờ hậu của Châu Đàn.
Thế là nàng cầm quân trắng do dự rất lâu, cuối cùng chỉ nói ra một câu: “Ván cờ này của chàng, sắp thua rồi.”
Châu Đàn không hề động đậy chân mày, mỉm cười hỏi: “Thua thì sao?”
Khúc Du nhất thời nghẹn lời: “Chàng đánh cờ chẳng lẽ không phải vì muốn thắng?”
Châu Đàn lắc đầu: “Đánh với người khác thì đúng là vậy, đánh với phu nhân thì không.”
“Đánh với phu nhân là để nàng vui, thua còn có ý nghĩa lớn hơn thắng.”
Nghĩ đến đây nàng chợt rùng mình, cảm giác lạnh lẽo như ngập đầu ùa lên từ sống lưng, giống như giữa mùa đông bị người ta dội thẳng nước lạnh có vảy băng từ trên đầu xuống.
Châu Đàn thông hiểu sử sách, trừ việc không thể tiên đoán tương lai, chàng nắm rõ kết cục của những người thi hành biến pháp trước đây như lòng bàn tay. Cho dù không có lập trường của nàng đứng từ một ngàn năm sau nhìn xuống, chàng cũng biết cuộc biến pháp này gần như không thể thành công.
Minh Đế còn quá trẻ, từ nhỏ đã được giáo dục Nho đạo đế vương mà trưởng thành, nuôi chí làm một hoàng đế yêu dân như con giống Tuyên Đế.
Đó là nói theo chiều hướng tốt.
Nói theo chiều hướng xấu chính là Minh Đế tuy dựa vào Trác Chu đại tướng quân đánh trận Định Tây mà uy chấn bốn phương, nhưng dù sao thời gian ngồi ở vị trí tối cao còn quá ngắn, không có khí phách giết phạt quả quyết, cũng không có căn cơ của thế gia đại tộc.
Sức uy h**p của hoàng đế chưa đủ, Chính Sự Đường chia năm xẻ bảy. Tô Triều Từ tuy giao hảo với chàng, nhưng mang trên vai trách nhiệm của cựu quý tộc phía sau, không thể toàn lực ủng hộ.
Lạc Kinh Luân và Thái Anh khác biệt với Tô Triều Từ và những người còn lại trên triều đình. Hai người này kinh nghiệm lâu năm, nhìn thoáng qua liền thấy điều luật biến pháp của Châu Đàn nếu được thúc đẩy bằng thủ đoạn mạnh mẽ, nhất định sẽ thực sự mang lại phúc lợi cho bách tính.
Nhưng họ sẽ giữ im lặng không nói.
Nói trắng ra, thi hành biến pháp vốn dĩ là mạo hiểm phạm thiên hạ đại bất kính. Hai người Thái và Lạc dù yêu nước thương dân đến đâu, cũng là người hưởng lợi từ tập đoàn văn quan.
Đừng nên trông mong vào người đã có lợi ích buông tay.
Vậy thì…
Nàng chớp mắt chậm rãi suy nghĩ, nhưng lại cảm thấy chưa bao giờ mình tỉnh táo như lúc này.
Kể từ khi Đại Dận lập triều, từ khóa khó lòng tránh khỏi chính là ‘tập đoàn văn quan’. Do phong khí trọng văn khinh võ, tập đoàn văn quan của Dận triều phát triển hơn bất kỳ triều đại nào trước đó.
Và khi văn quan trong triều có ý kiến trái ngược nhau, nhất định sẽ dẫn đến một hậu quả.
— Đảng tranh.
Từ Đại Chu tiền triều của Đại Dận bắt đầu, đảng tranh đã chớm nở. Sự diệt vong của Hậu Chu phần lớn không thể tách rời khỏi đảng tranh kéo dài không dứt.
Sau khi Dận Thủy Đế khai quốc, đảng tranh tuyệt tích. Đó là bởi vì Thủy Đế thủ đoạn cứng rắn và có một danh tướng tên là Lưu Tranh. Lưu Tranh đã lập công lớn khi Thủy Đế khai quốc, vua tôi kính trọng nhau quý mến nhau suốt đời, là một giai thoại hiếm có.
Lưu Tranh ở triều, nói một không hai. Thủy Đế tại vị, văn thần tâm phục khẩu phục, không ai dám làm càn.
Kể từ khi Thủy Đế qua đời, đảng tranh liền vượt qua tập đoàn văn quan, chính thức trở thành từ khóa khắc sâu nhất trong lịch sử Đại Dận.
Truy cứu nguyên nhân… Các vị hoàng đế vì muốn nắm giữ quyền lực, thao túng quyền thuật, đều tôn trọng thuật ngự hạ ‘dị luận tương giảo’* của Hàn Phi Tử.
*Chính sách ‘dị luận tương giảo’ bắt đầu từ thời Tống Chân Tông, với mục đích khiến các sĩ đại phu hình thành những quan điểm chính trị khác nhau, từ đó kiềm chế lẫn nhau, qua đó củng cố quyền lực của hoàng đế.
Nói cách khác, chức vị Chấp chính được thiết lập ban đầu trong Chính Sự Đường chính là để đối đầu với Tể phụ.
Thời kỳ Dận triều, tập đoàn hoạn quan chưa được bồi dưỡng trỗi dậy, chủ yếu là văn nhân tự đấu đá. Để cân bằng triều cục, không để bất kỳ ai có cơ hội thâu tóm quyền lực, hoàng đế ngầm cho phép, thậm chí khuyến khích Tể – Chấp đảng tranh.
Đức Đế buông thả cuộc tranh đấu giữa Cao Tắc và Phó Khánh Niên, chính là như vậy.
Sau Thủy Đế, người nắm giữ Tướng quyền có thể khiến cả triều đình tâm phục khẩu phục như Lưu Tranh trong vài trăm năm lịch sử Đại Dận chỉ đếm trên đầu ngón tay. Khi Cố Chi Ngôn còn tại vị, phong khí trong triều được xoay chuyển, gần như bình ổn. Nhưng ông vì án Nhiên Chúc mà nhanh chóng rút lui khỏi vũ đài lịch sử.
Sau Lưu Tranh và Cố Chi Ngôn, vài trăm năm Đại Dận chỉ còn lại một người còn uy h**p đến thế.
Là ai?
Mồ hôi lạnh của Khúc Du chảy dọc góc trán, không kìm được siết chặt trang sách trong tay.
… Là Tô Triều Từ.
Trang đầu của lịch sử Bắc Dận về nhân vật phong lưu và danh thần truyện* là Tô Triều Từ, xuất thân thế tộc Tô gia ở Biện Đô. Bảng nhãn năm Vĩnh Ninh thứ mười hai. Không lâu sau khi ra làm quan, phụ thân bất ngờ qua đời. Thời gian chịu tang bị Châu Đàn ‘gian nịnh’ lúc đó đã không hòa hợp với hắn nên cố ý áp chế vài năm, cho đến khi Châu Đàn bị giáng chức, hắn mới trở về triều.
*Nhân vật phong lưu: nhân vật tài năng, lỗi lạc, phong nhã hoặc kiệt xuất. / Danh thần truyện: truyện/ký chép về các bậc danh thần, trung liệt, có công lao.
Khi ở triều, Tô Triều Từ thanh liêm trung chính, cương trực, không chịu khuất phục. Sau khi Minh Đế đăng cơ, vì là Đế sư nên được phá lệ vượt cấp thăng làm Chấp Chính Tham Tri, trở thành nhân vật thứ hai trong Chính Sự Đường.
Sau khi Châu Đàn lần thứ hai bãi Tướng, rời khỏi Biện Đô, Tô Triều Từ chính thức bái Tướng, bắt đầu chưởng quản mọi việc trong Chính Sự Đường.
Năm sau, Tô Triều Từ thu hồi quyền lực trong Chính Sự Đường, bãi bỏ phần lớn điều khoản trong Tước Hoa Lệnh.
Mùa xuân chưa qua, Châu Đàn liền bệnh chết ở Lâm An, không còn khả năng trở lại triều nữa.
Từ đó về sau, Tô Triều Từ trở thành Tể phụ được vạn người kính trọng dưới triều Minh Đế, trên dưới kính phục, vua tôi tương trợ cả đời. Dù sau đó không thu nhận đệ tử nào nữa, nhưng khi hắn qua đời, văn nhân thiên hạ đều thương tiếc. Hoàng đế đích thân tiễn đưa linh cữu, bách tính tôn kính chen chúc khắp phố Ngự.
Thịnh thế dưới thời Minh Đế, ngoài Trác Chu đại tướng quân đánh trận nào thắng trận đó, một nửa phải quy công cho Tô Triều Từ đã triệt để chấm dứt đảng tranh cho Minh Đế trong hai mươi năm tại vị.
Không lâu sau khi Tô Triều Từ qua đời, cuộc chiến Tể – Chấp sống lại, Minh Đế có lòng trấn áp nhưng không được, phong khí tiếp tục lan tràn qua mấy triều đại kế tiếp.
Sau đó, thiết kỵ của bộ tộc du mục phía bắc tiêu diệt Tây Thiều tiến xuống phía nam. Mạt Đế dời đô, Bắc Dận diệt vong trong đảng tranh và chiến hỏa.
Nếu không có Tô Triều Từ và Trác Chu đại tướng quân, triều đại Tuyên Đế không thể cứu vãn và triều chính bị Đức Đế hủy hoại trong chốc lát, cộng thêm mối lo ngại Tây Bắc âm thầm rình rập, thiên tai đại hạn hán bốn năm năm sau đủ để Bắc Dận diệt vong sớm một trăm năm.
Biến pháp là để thu ngân, siết chặt luật lệ, chỉnh đốn quan lại, giám sát cải cách quân binh.
Trước Tuyên Đế không phải không có người thi hành biến pháp, nhưng cuộc biến pháp do Quý tể phụ chủ trì còn thảm khốc hơn Châu Đàn. Đảng tranh mới cũ đánh nhau tối tăm mặt mũi, triều đại sụp đổ, Tây Thiều thừa cơ xâm lược, cướp mất mười một thành.
Những vùng đất Tiêu Việt thu hồi năm đó chính là thất thoát vào thời điểm này.
Nếu Châu Đàn rút kinh nghiệm từ người đi trước, một lòng muốn thúc đẩy việc này thì sau khi bái Tướng nên khổ tâm bố trí mười mấy năm, xây dựng danh tiếng của mình, cân bằng các bên trong triều cục, sau đó tiếp tục rèn luyện điều luật pháp quy.
Tước Hoa Lệnh nàng đã đọc vô số lần. Nó vốn xuất phát từ nàng, xuất phát từ thứ nàng mang về từ một ngàn năm sau. Nó vượt qua thời đại, phá vỡ quy luật, tuy mỗi điều đều trúng vào tệ nạn thời cuộc, chữ nào chữ nấy đều như châu như ngọc, nhưng hạn chế trong lịch sử hiện tại, nhất quyết không thể thực hiện.
Châu Đàn có nhìn ra không?
Nếu chàng nhìn ra, tại sao vẫn hoàn toàn không sửa đổi điều luật của nàng cho phù hợp với hiện tại mà lại áp dụng y nguyên?
Bên tai dường như là Lật Hồng Vũ đang gọi nàng. Mà nàng lại hoàn toàn không nghe thấy giọng nói của đối phương.
Trong hư vô, nàng mở mắt, nhìn thấy giáo viên hướng dẫn ngồi trước màn hình, giọng người truyền ra từ loa phóng thanh mơ hồ không rõ, đầy tạp âm.
“… Nói đến người Tô tể phụ cả đời nên cảm ơn nhất, hẳn là kẻ thù chính trị của ông ấy.”
“Đúng vậy, chính là Châu Đàn. Tôi biết có vài bạn nghi hoặc, nhưng cái tên Châu Đàn này sử liệu ghi chép quá ít. Nếu bảo tôi dùng một câu để đánh giá ông ấy, tôi nghĩ nên là…”
Chính sự thông suốt hai thời kỳ Dận triều.
Châu Đàn soạn thảo và ban bố Tước Hoa Lệnh, kỳ thực không mong đợi chúng có thể nâng đỡ tòa nhà sắp đổ, chỉ là những điều luật này đã được chàng thúc đẩy bằng thế sấm vang chớp giật, nhất định sẽ trở thành đối tượng người đời sau nghiên cứu lặp đi lặp lại.
Chàng đã liệu tính không sai chút nào, Tước Hoa Lệnh tuy vô dụng ở đương thời, nhưng nội dung bên trong đã có ảnh hưởng sâu sắc và không thể xóa nhòa đối với việc định ra pháp điển đời sau.
Không cầu mua danh.
“Văn thần cầu là gì? Là danh tiếng trước khi chết và sau khi chết! Bọn họ nhắm mắt lại chẳng buồn nghe tiếng khóc than tứ phía, chỉ chăm chăm nhìn vào bệ hạ, nhìn vào quyền lực, thậm chí còn mong có một ngày được chết can giữa triều, máu nhuộm cột đình để lưu danh thiên cổ!”
“Danh vọng quyền lực, vàng bạc bổng lộc, những thứ này có đáng là gì?”
Kẻ tiểu nhân chân chính.
“Việc có thể tự mình thực hiện lời hứa và lý tưởng của mình, đối với ta quan trọng hơn bất cứ điều gì.”
Bậc quân tử chân chính.
Màn giường được làm bằng nguyệt sa, trên cửa sổ giấy in bóng hoa hạnh. Gió thổi qua liền khiến bóng hoa lay động lờ mờ trên gương mặt vị Tể phụ trẻ tuổi.
Chàng cụp mi mắt, cười rất dịu dàng.
“… Thua còn có ý nghĩa lớn hơn thắng.”
Lần đầu đọc Nịnh Thần Truyện, nàng đã viết chú giải bên cạnh vài dòng ít ỏi liên quan đến Châu Đàn.
“Đắm say trà đạo, cờ nghệ, mọt sách ma thơ, nửa đời lao lực, cuối cùng tất thảy đều hóa hư ảo mộng tưởng.”
Nàng vô cớ thuộc lòng Xuân Đàn Tập, lời chú từ ‘bi khái’ trong Nhị Thập Tứ Thi Phẩm được đổi thành ‘khoáng đạt’.
“Người sống trăm năm, cách nhau là bao?
Vui vẻ thì ngắn, buồn khổ lại nhiều.
Thà nâng chén rượu tiêu điều,
Ngày trôi êm giữa mây bay, dây rừng.
...
Đời người rồi sẽ lìa xa.
Nam Sơn hùng vĩ, cao vời còn đây.” — Tít dịch thơ.Hóa ra, nửa đời tâm huyết đó không phải là ‘mộng huyễn’, nàng chưa từng nghĩ, có lẽ Châu Đàn… đã thực hiện lý tưởng của mình rồi.
Sau đó, mọi âm thanh tan biến.
“Phu nhân, phu nhân, có người gõ trống lớn của Hình bộ, muốn kiện cáo luật lệnh mới!”
“Phu nhân…”
Lật Hồng Vũ tiến lên một bước, đỡ Khúc Du suýt ngã trước bàn. Nàng ngẩng mặt lên, sắc mặt trắng bệch hơn cả tuyết mới.
Hắn vốn định gọi thêm một tiếng, nhưng lại nghe Khúc Du cười khẽ.
Nàng dường như không nghe thấy mọi âm thanh xung quanh, cười vài tiếng, ôm ngực thổ ra một ngụm máu.
Lật Hồng Vũ kinh hãi thất sắc, vội vàng đẩy cửa ra ngoài gọi người.
Khúc Du quỳ gối xuống mặt đất lạnh lẽo, tay theo bản năng vịn vào góc bàn liền chạm vào tấm bình phong Châu Đàn để lại ở đây khi giả danh Bạch Tuyết tiên sinh năm đó.
“Bạch Tuyết Ca… tiễn người… hồi kinh.”*
Nàng ngây dại lẩm nhẩm, nước mắt từng giọt từng giọt rơi xuống mu bàn tay.
“Núi đường vòng vèo chẳng thấy quân...
Trên tuyết chỉ còn dấu vó ngựa.”Hóa ra… lại là ý nghĩa này.
——
Bạch Tuyết Ca… tiễn người… hồi kinh.
Đây là một câu xuất phát từ bài thơ Bài ca Tuyết trắng tiễn Vũ phán quan về kinh đô của tác giả Sầm Tham.
Nội dung chính bài thơ miêu tả mùa đông khắc nghiệt nơi biên ải Tây Bắc: tuyết dày, gió buốt, rét dữ. Cảnh tiễn biệt bạn bè giữa thiên nhiên hùng vĩ, tình bạn sâu nặng của người lính – quan nơi biên cương. Khí phách hào sảng của con người đời Đường.
Đặc biệt tình cảm bạn bè trong bài thơ này không phải là tình bạn bè văn nhân nhàn tản hay tri kỷ ngâm thơ uống rượu bình thường mà nó là tình bạn của những người cùng gánh trách nhiệm quốc gia, cùng sống trong hoàn cảnh sinh tử khắc nghiệt.
Khi Võ phán quan được về kinh, đây là cơ hội, là vinh dự, là bước tiếp theo của sự nghiệp. Tình bạn thể hiện ở chỗ người ở lại không ghen tị, không níu chân, không bi lụy. Thể hiện cho việc đối phương biết cách đặt tiền đồ của bạn, đại cục quốc gia lên trên cảm xúc của bản thân. Tình bạn này được đặt trong dòng chảy lớn của thời đại mà không thu nhỏ thành cảm xúc cá nhân.
Đọc tiếp mọi người sẽ rõ diễn biến truyện liên quan tới Châu Đàn và Tô Triều Từ và liên tưởng tới tình bạn trong bài thơ này. Bởi vì sự đánh đổi và hy sinh của Châu Đàn thật sự là quá nhiều cho Đại Dận mà không cầu mưu bất kỳ một điều gì cho bản thân, dẫu có phải gánh trên mình danh tiếng thối nát đến tận cuối đời cũng cam lòng không oán thán.