Đại chiến kết thúc, thiên hạ khôi phục thái bình, tội thần đã đền tội, công thần đương được thưởng.
Tại Anh Quốc công phủ, Anh Quốc công và nhị công tử Lục Nhai đều nhận được ban thưởng trọng hậu từ triều đình. Riêng với đại phòng, bên cạnh việc Lục Trạc được truy phong vang dội, mẫu thân hắn là Hạ thị cũng được tứ phong làm Nhất đẳng Cáo mệnh Phu nhân. Ngụy Nhiêu nhờ có đại công vạch trần tội ác thông đồng với địch của Hàn gia, được sắc phong làm Vũ An Công chúa, ngay cả A Bảo mới hơn một tuổi cũng dựa vào chiến công của phụ mẫu mà được phong làm Bảo Hoa Quận chúa.
Thế nhưng, có ban thưởng bao nhiêu vinh hiển đi chăng nữa, cũng chẳng thể đổi lại một Lục Trạc trở về.
Anh Quốc công, người từng uy phong lẫm lẫm dẫn quân đánh lui Tây Khương năm nào, phảng phất như già đi mười tuổi chỉ sau một đêm. Ông vẫn gánh vác chức vị chủ tướng Thần Võ quân trên danh nghĩa, nhưng đã bàn giao toàn bộ việc chỉnh đốn và quản lý quân vụ cho Tứ gia và Lục Nhai. Vị tướng già chinh chiến mấy chục năm rốt cuộc cũng cởi bỏ chiến giáp, lựa chọn lưu lại trong phủ để làm bạn với lão thê. Anh Quốc công Phu nhân cả đời đã tiễn đưa ba người con trai, bây giờ đến lượt trưởng tôn ra đi trước. Lão phu nhân thương tâm thì thương tâm, nhưng người đã ở tuổi xế chiều, trải qua quá nhiều sinh ly tử biệt nên càng dễ nghĩ thoáng hơn. Lúc này, điều bà lo lắng và quan tâm hơn cả chính là tâm trạng của Hạ thị và Ngụy Nhiêu.
Trông Ngụy Nhiêu có vẻ rất ổn.
Ngoại trừ ngày hạ táng Lục Trạc, nàng chưa từng rơi một giọt nước mắt nào trước mặt người khác. Dù cho Hạ thị có khóc đến chết đi sống lại trước mặt, Ngụy Nhiêu vẫn có thể tâm bình khí hòa mà nhìn. Thuở ban đầu nàng còn dịu giọng an ủi vài câu, nhưng về sau nhận ra có an ủi thế nào cũng vô dụng, Ngụy Nhiêu liền lười nói những lời sáo rỗng ấy nữa. Nàng chỉ bảo Mã ma ma bế A Bảo đi nơi khác, tránh để con gái bị tiếng khóc than của Hạ thị làm cho kinh sợ.
Hạ Vi Vũ cũng đã dẫn theo hài tử trở về phủ bầu bạn. Ngụy Nhiêu không có đủ kiên nhẫn để dỗ dành Hạ thị, nhưng Hạ Vi Vũ thì có.
Anh Quốc công Phu nhân rất đau lòng cho nỗi thống khổ mất con của Hạ thị, nhưng Hạ thị có thể khóc ra thành tiếng, có thể phát tiết ra ngoài thì vẫn là trạng thái bình thường. Đợi bà khóc đủ rồi, thời gian trôi qua rồi cũng sẽ nguôi ngoai và bình phục lại. Ngược lại, người khiến lão phu nhân lo sốt vó lại là Ngụy Nhiêu. Đứa nhỏ này rõ ràng để ý trưởng tôn đến thế, rõ ràng đã vì hắn mà vạn dặm xa xôi tự mình xông vào chiến trường hiểm nguy, vậy mà bây giờ lại bình thản như không có chuyện gì xảy ra, ngày ngày chăm sóc A Bảo chu đáo. Càng đem hết thảy bi thống giấu kín vào trong lòng, chặn đứng mọi xúc cảm như vậy, lão phu nhân càng sợ lâu dần nàng sẽ uất ức mà đổ bệnh mất thôi.
Xuất phát từ nỗi lo lắng, Anh Quốc công Phu nhân đã gửi thư mời Thọ An Quân tới phủ.
Thọ An Quân ngày thường rất ít khi đặt chân đến kinh thành, nhưng vì đứa ngoại tôn nữ tội nghiệp này, bà đương nhiên phải lặn lội chạy một chuyến.
Khi Thọ An Quân bước vào Tùng Nguyệt Đường, Ngụy Nhiêu đang ngồi trên thảm bồi A Bảo chơi gạt những hạt bàn tính.
Đứa nhỏ A Bảo còn chưa đầy hai tuổi, hoàn toàn chẳng hiểu nổi nỗi thống khổ mất cha là gì. Con bé có lẽ còn chưa nhớ rõ được gương mặt của phụ thân mình, chỉ cần có nương thân ở bên, chỉ cần những người bạn chơi quen thuộc đều ở đó, A Bảo liền vô ưu vô lự. Con bé có thể vì nhìn thấy một chiếc lá cây bị gió thổi bay mà đuổi theo reo hò, phát ra những tiếng cười thanh thúy vui vẻ, cũng có thể vì thấy nương thân đang xem sổ sách mà quấy nhiễu đòi ngồi vào lòng nương, đòi chơi chiếc bàn tính của nương bằng được.
"Ngoại tổ mẫu, sao ngài lại tới đây?"
Thọ An Quân đã đi vào tận viện Tùng Nguyệt Đường thì Ngụy Nhiêu mới nhận được tin báo, nàng vội vàng bế con gái ra thềm nghênh tiếp.
Thọ An Quân đứng ở đầu hành lang, lẳng lặng nhìn đứa ngoại tôn nữ đang bước ra khỏi sảnh đường.
Trong thời gian diễn ra tang sự của Lục Trạc, Thọ An Quân từng đến Anh Quốc công phủ một lần. Khi đó Ngụy Nhiêu mới từ biên quan trở về không lâu, hình dung gầy gò tiều tụy, ngoài việc ít rơi nước mắt ra thì dáng vẻ chẳng khác gì những nàng dâu trẻ tuổi chịu cảnh goá bụa sớm khác. Vậy mà bây giờ chỉ mới trôi qua một tháng, Ngụy Nhiêu đã khôi phục lại khí sắc hồng hào, xinh đẹp rạng rỡ như xưa.
Tính từ thời điểm Lục Trạc chiến tử đến nay còn chưa đầy ba tháng. Hạ thị vẫn đang ngày ngày gột rửa mặt bằng nước mắt, còn Ngụy Nhiêu lại có dáng vẻ thế này. Cũng may là Anh Quốc công Phu nhân có lòng dạ nhân từ, hiền hậu nên mới lo lắng nàng cố nén bi thống mà sinh bệnh, chứ đổi lại là một vị lão phu nhân hẹp hòi, chua ngoa khác, e là đã sớm chỉ trích Ngụy Nhiêu là kẻ bạc tình bạc nghĩa, chẳng hề để tâm đến Lục Trạc rồi.
Sau khi giao A Bảo cho Mã ma ma và Bích Đào dắt đi chơi, Ngụy Nhiêu mời Thọ An Quân vào nội thất trò chữa.
"Quốc công Phu nhân lo lắng cho con, nên mới gọi ta tới xem sao." Thọ An Quân đi thẳng vào vấn đề, không hề giấu diếm điều gì.
Ngụy Nhiêu phần nào cũng đã đoán trước được.
"Nhiêu Nhiêu, trong lòng con rốt cuộc đang nghĩ thế nào, nói cho ngoại tổ mẫu nghe một chút đi." Thọ An Quân nắm lấy bàn tay của Ngụy Nhiêu, ân cần bảo.
Ngụy Nhiêu khẽ mỉm cười, nhìn những nếp nhăn ngày một hằn sâu trên mu bàn tay của ngoại tổ mẫu, nàng nhỏ giọng nói: "Còn có thể nghĩ thế nào được nữa ạ, chàng đã chết rồi. Khoảng thời gian ở thảo nguyên, hầu như ngày nào con cũng khóc. Con nhớ chàng, mắng chàng, oán hận chàng, đêm nào cũng mơ thấy chàng. Thế nhưng chết thì cũng đã chết rồi, chẳng lẽ con phải vì chàng mà khóc lóc cả một đời hay sao? Năm đó khi phụ thân qua đời, con cũng không khóc bao lâu. Mẫu thân đi rồi, con cũng chỉ những lúc đổ bệnh, chịu ủy khuất thì mới nhớ mẫu thân đến phát khóc. Đến lượt tổ mẫu qua đời, nước mắt của con lại càng thu về nhanh hơn..."
Vừa dứt lời, hai hàng lệ trong vắt đã dọc theo gương mặt trắng nõn diễm lệ của nàng mà trượt dài xuống.
Thọ An Quân lòng đầy xót thương, kéo ngoại tôn nữ vào lòng ôm chặt.
Bà hiểu rất rõ ý tứ trong lời nói của nàng.
Khi còn nhỏ đã chịu cảnh mất cha, chẳng bao lâu sau lại phải rời xa mẹ, lớn lên một chút thì bị người ta hãm hại, bị miệng đời đàm tiếu, lại còn từng bị người ám sát...
Có những người cả đời có khi chẳng phải nếm trải lấy một chuyện kinh hoàng như thế, vậy mà ngoại tôn nữ của bà, từ khi bắt đầu biết nhận thức cho đến tận bây giờ, số ngày được sống trong niềm vui trọn vẹn thực sự chẳng đáng là bao.
Một người chưa từng chịu tổn thương bao giờ, ngón tay chỉ cần bị kim châm một chút thôi cũng đã cảm thấy đau đớn khôn cùng. Thế nhưng đối với một người cứ cách một khoảng thời gian lại phải chịu một nhát dao chí mạng, thì khi đột ngột bị đâm thêm một nhát nữa, đau thì vẫn đau đấy, nhưng rồi cũng sẽ vượt qua thôi.
"Ngoại tổ mẫu, con vẫn rất nhớ chàng, nhưng con không thể vì nhớ chàng mà cứ để chuỗi ngày sống tiếp theo của mình trôi qua một cách vô nghĩa. Con vừa nhớ chàng, lại vừa muốn sống những ngày tháng của riêng mình thật tốt. Con nói như vậy, ngài có hiểu được không?"
Thọ An Quân đương nhiên hiểu.
Cha ruột mẹ đẻ qua đời, làm con cái khóc lóc thảm thiết vài ngày, đoạn đường phía sau chẳng phải vẫn phải sống tiếp đó sao? Ai quy định đã làm thê tử thì nhất định phải lấy nước mắt rửa mặt qua ngày vì người chồng đã khuất? Có người chìm đắm trong nỗi thống khổ dài lâu, có người lại tự mình vực dậy rất nhanh, điều đó không có nghĩa là thời gian bi lụy dài mới là dụng tình sâu sắc, còn ngắn ngủi chính là hư tình giả ý.
Có những người đem toàn bộ tâm tư, lực lượng ký thác vào duy nhất một người, khi người kia xảy ra chuyện, kẻ ở lại liền cảm thấy trời sập đất nứt, sống không bằng chết. Nhưng lại có những người còn phải quản lý sản nghiệp, còn phải lo lắng chăm sóc cho con thơ, bản thân họ tự khắc sẽ lý trí mà cảnh tỉnh chính mình không được phép lún sâu vào vũng lầy tăm tối. Gánh vác càng nhiều trách nhiệm, họ càng không thể để mình bị kìm hãm ở một nơi.
"Nhiêu Nhiêu nghĩ được như vậy là đúng rồi. Chuyện đâu xa, cứ nhìn việc của Lục Trạc mà xem, trong lòng mọi người ở Lục gia ai mà không đau đớn xót xa? Thế nhưng tất cả rồi cũng phải chậm rãi khôi phục lại đó thôi. Lão phu nhân đã nghĩ thoáng ra, nhị công tử cũng đã nguôi ngoai bớt. Mẹ chồng con tính tình vốn khác biệt với con, bà ấy thích khóc thì cứ để bà ấy khóc, con không muốn khóc thì cũng chẳng cần phải giả vờ giả vịt làm gì. Phía lão phu nhân, ta sẽ thay con giải thích rõ ràng." Giọng nói của Thọ An Quân tràn đầy nét từ ái, bao dung.
Ngụy Nhiêu khẽ gật đầu, tựa cằm vào bờ vai gầy của ngoại tổ mẫu, khẽ khàng nói: "Qua hết năm nay, con sẽ dẫn A Bảo dọn về phủ Công chúa để ở. Sống ở nơi này con thấy mệt mỏi quá. Người ngoài cứ nghĩ con đang thương tâm khổ sở, nên vốn dĩ đang trò chuyện vui vẻ, vừa nhìn thấy con liền phải thu liễm ý cười, rồi lại cẩn thận từng li từng tí mà dè chừng, chăm sóc con. Con không cần loại chiếu cố đó, và con cũng không muốn khuấy động bầu không khí của bọn họ. Con dọn ra ngoài sống, như vậy mới tốt cho tất cả mọi người."
Thọ An Quân cũng cảm thấy ngoại tôn nữ dọn trở lại phủ Công chúa sống sẽ tự tại, thoải mái hơn nhiều, chỉ là... "Con dọn đi rồi, mẹ chồng con nhớ A Bảo thì phải làm sao?"
Ngụy Nhiêu đáp: "Mỗi tháng con đều sẽ dẫn A Bảo trở về đây ở hai đêm. Mẹ chồng nếu muốn, bà cũng có thể qua phủ Công chúa ở cùng con."
Thọ An Quân lại hỏi: "Làm vậy thì tình cảm giữa A Bảo và các huynh đệ tỷ muội bên Lục gia liệu có bị xa cách không?"
Ngụy Nhiêu mỉm cười nói: "Nếu tính tình đã hợp nhau, dẫu cách trở xa xôi đến mấy thì vẫn cứ thân thiết, giống như con với Huệ Châu biểu muội, hay như Thế tử và mấy người huynh đệ của chàng vậy. Ngược lại, nếu tính cách vốn đã không hợp, cho dù có ở chung dưới một mái nhà thì cũng chỉ nhìn nhau mà chán ghét, tựa như con và Ngụy Thiền thôi."
Thọ An Quân nghe vậy, khẽ vỗ vỗ vai ngoại tôn nữ, có chút hổ thẹn cười bảo: "Ngoại tổ mẫu thật sự là già rồi, mấy chuyện này mà nhìn còn chẳng rõ ràng bằng Nhiêu Nhiêu nhà ta."
Ngụy Nhiêu đã nói là làm.
Năm mới vừa qua, sau khi hết tháng Giêng, Ngụy Nhiêu liền đi tìm Hạ thị và Anh Quốc công Phu nhân để thương lượng về chuyện này.
Hành động này khiến vành mắt Hạ thị lập tức đỏ hoe: "Nhiêu Nhiêu, vì sao con lại muốn dọn đi?"
Lục Trạc chỉ để lại duy nhất một mụn con gái là A Bảo, giờ con dâu lại dắt cháu nội đi mất, bà biết sống sao đây?
Đối diện với câu hỏi của Hạ thị, Anh Quốc công Phu nhân cũng nhìn Ngụy Nhiêu, muốn nghe xem nàng sẽ giải thích thế nào.
Ngụy Nhiêu nhìn thẳng vào lão phu nhân, trực tiếp nói lời thật lòng: "Tổ mẫu, phu quân là vì cứu nhị đệ mới xảy ra chuyện. Nhị đệ trong lòng lúc nào cũng tràn ngập áy náy, nhị thẩm và nhị đệ muội cũng cảm thấy hổ thẹn với con. Mỗi lần gặp mặt trong phủ, họ nhìn thấy con và A Bảo thì tâm tình đều trở nên vô cùng nặng nề. Lại thêm Tam thẩm, Tứ thẩm lúc nào cũng canh cánh trong lòng việc phải quan tâm chăm sóc con. Thế nhưng con thì đã sớm nghĩ thông suốt từ lâu rồi, mọi người cứ như thế ngược lại khiến con cảm thấy không tự nhiên và có chút gánh nặng. Cho nên con nghĩ, con dẫn A Bảo dọn đến phủ Công chúa, mỗi tháng đều đặn trở về thăm hỏi hai lần, như vậy mọi người sống đều sẽ được tự tại hơn một chút."
Anh Quốc công Phu nhân hoàn toàn thấu hiểu và đồng cảm với cảm giác này của Ngụy Nhiêu.
Tựa như năm đó khi bà mất đi những người con trai, bản thân bà vốn dĩ đã tự mình vượt qua được nỗi đau, nhưng người ngoài cứ hễ gặp bà, bất luận là xuất phát từ lòng chân thành hay chỉ là lễ tiết xã giao, đều sẽ tiến tới hỏi han, an ủi một phen. Lúc ấy bà vừa cảm thấy mệt mỏi ứng phó, lại vừa đau lòng vì liên tục bị khơi dậy chuyện thương tâm. Dứt khoát về sau bà chẳng đi đâu nữa, cứ một mình ở lỳ trong nhà cho thanh tĩnh.
Có lẽ những người có suy nghĩ như thế này ngoài đời rất nhiều, chỉ là đại đa số bọn họ ngoài việc cắn răng nhẫn nhịn thì chẳng biết trốn đi đâu. Nhưng Ngụy Nhiêu là công chúa, nàng có phủ công chúa riêng của mình, nàng hoàn toàn có thể mang theo A Bảo dọn đến đó, tận hưởng một cuộc sống bình yên không bị ai quấy rầy.
Về phần A Bảo, Anh Quốc công Phu nhân sẵn sàng giao hoàn toàn con bé cho Ngụy Nhiêu toàn quyền giáo dưỡng.
Bà đã tuổi cao sức yếu, không còn đủ tâm lực để tự tay uốn nắn một đứa trẻ. Hạ thị tuy còn trẻ nhưng tính tình nhu nhược, không gánh vác nổi trọng trách nuôi dạy A Bảo. Đem A Bảo giao vào tay Ngụy Nhiêu, Anh Quốc công Phu nhân hoàn toàn tin tưởng rằng tầm mười năm nữa, kinh thành sẽ có thêm một cô nương hoạt bát, tự tại phóng khoáng, không bị gò bó bởi lễ nghi cổ hủ mà lại trung dũng song toàn.
Ngụy Nhiêu thừa biết lão phu nhân nhất định sẽ ủng hộ mình.
Nàng lại quay sang hết lời dỗ dành Hạ thị, hy vọng mẹ chồng có thể cùng mình dọn qua phủ Công chúa sống. Nếu được như vậy, Ngụy Nhiêu cũng muốn có thêm một người thực lòng thương yêu con gái mình hết mực. Hạ thị tuy tính tình có chút thiếu sót nhưng tấm lòng dành cho A Bảo là điều không thể bàn cãi. Hơn nữa, môi trường ở phủ Công chúa rất tốt, Hạ thị dọn qua đó chắc chắn sẽ sống vui vẻ hơn, dù sao cũng tốt hơn nhiều so với việc ở lại Lục gia rồi mỗi ngày phải nhìn cảnh ba phòng khác đang êm ấm, mỹ mãn.
Hạ thị vô cùng cảm kích trước tấm lòng hiếu thảo của con dâu, thế nhưng bà đã từ chối.
Bà là dâu con nhà họ Lục. Trượng phu mang lại cáo mệnh cho bà, nhi tử cũng dùng cả tính mạng để đổi về vinh quang Nhất đẳng Cáo mệnh Phu nhân cho bà. Nếu Hạ thị chỉ vì sự thoải mái của bản thân mà dọn đến phủ Công chúa, bà sẽ cảm thấy có lỗi với trượng phu quá cố, có lỗi với nhi tử và phụ cả sự chăm sóc bấy lâu nay của lão phu nhân. Hơn nữa, đại phòng giờ đây chỉ còn lại ba mẹ con bà, con dâu và cháu nội đã đi rồi, nếu bà cũng đi nốt thì ai sẽ là người trông nom, ai sẽ còn nhớ đến đại phòng nhà họ Lục, còn nhớ đến người trượng phu và đứa con trai đã anh dũng hy sinh của bà?
Vì trượng phu, vì nhi tử, Hạ thị quyết định sẽ không đi đâu cả.
Ngụy Nhiêu tôn trọng lựa chọn của bà mẫu, nàng hứa sau này sẽ định kỳ dẫn A Bảo trở về thỉnh an các bậc trưởng bối.
Đêm đó, cả gia đình Lục gia cùng nhau quây quần bên bàn ăn. Trong bữa tiệc, Anh Quốc công Phu nhân chính thức thông báo việc Ngụy Nhiêu sẽ dọn về phủ Công chúa ở lâu dài.
Anh Quốc công nghe vậy liền gật đầu tán thành.
Đứa cháu dâu này từ trước đến nay làm việc chưa bao giờ theo quy củ. Năm đó đứa cháu đích tôn của ông khóc lóc van nài, mặt dày cầu xin Ngụy Nhiêu tái giá với nó, Anh Quốc công tuy cảm thấy cháu mình thật tiền đồ thua kém, nhưng chuyện vợ chồng trẻ "một người thích đánh, một người nguyện chịu", ngay cả lão thê của ông còn cười hớn hở xem kịch thì ông cũng lười quản. Về sau, Ngụy Nhiêu lại vì cháu ông mà lặn lội đến tận vùng thảo nguyên xa xôi, chẳng những cứu được lão nhị mà còn thay lão đại báo thù rửa hận. Anh Quốc công khắc cốt ghi tâm phần ân tình lớn lao này. Giờ đừng nói là Ngụy Nhiêu muốn hồi phủ Công chúa sống, cho dù nàng có đến ngồi uống rượu ngay trước bia mộ của cháu ông, Anh Quốc công cũng tuyệt đối không hé nửa lời trách móc.
Lục Nhai cúi đầu, trong lòng tràn đầy áy náy. Tổ mẫu đã từng đơn độc nói chuyện với hắn, đại tẩu lựa chọn rời đi chính là để nhị phòng bọn hắn có thể thong dong, nhẹ nhõm mà sống tiếp.
Nhị phu nhân lặng lẽ nhìn Ngụy Nhiêu và A Bảo.
Bà đã từng tiếp nhận Ngụy Nhiêu, rồi cũng từng ghét bỏ Ngụy Nhiêu, nhưng cho đến tận bây giờ, trong lòng Nhị phu nhân đối với vị trưởng tôn dâu này chỉ còn lại sự kính nể và cảm kích vô hạn. Bà vẫn sẽ không nuôi dạy con gái hay cháu gái mình thành người như Ngụy Nhiêu, bởi bà không có cái dũng khí và lòng can đảm kinh người ấy. Thế nhưng, sau khi chứng kiến Ngụy Nhiêu làm biết bao nhiêu chuyện kinh thiên động địa, Nhị phu nhân rốt cuộc cũng hiểu ra rằng, nữ nhân trên đời còn có một cách sống khác, và việc đi ngược lại những giáo điều quy củ cũ kỹ chưa chắc đã là sai lầm.
Bà cảm kích Ngụy Nhiêu đã cứu được con trai mình trở về, cảm kích Ngụy Nhiêu đã thay Lục gia đòi lại món nợ máu từ tay Hàn gia.
Đến cả Nhị phu nhân còn thay đổi suy nghĩ như vậy, huống chi là thê tử của Lục Nhai, Kiều thị, đối với vị đại tẩu này lại càng thêm vui lòng phục tùng, kính trọng hết mực.
Tam phu nhân trong lòng cũng có sự kính nể tương tự dành cho Ngụy Nhiêu.
Còn Tứ phu nhân thì càng không cần phải nói, từ lâu nàng đã coi Ngụy Nhiêu như muội muội tri kỷ ruột thịt, bất luận Ngụy Nhiêu đưa ra quyết định gì, nàng cũng đều một lòng ủng hộ.
.
Nơi bắc cảnh Ô Đạt xa xôi vạn dặm.
Ánh mặt trời chiều tà ngả về tây, rải những tia nắng vàng kim rực rỡ cuối ngày xuống khắp vùng thảo nguyên bát ngát mênh mông. Đám gia súc dê bò đang được những người dân du mục lùa dần vào trong chuồng.
Khói bếp bắt đầu lảng bảng nổi lên bốn phía, đã đến giờ dùng cơm tối.
Một cô bé bảy tuổi tên là Bảo Nhã đang bưng một bát sữa dê ấm áp, bước chân sáo đi vào trong một chiếc lều trướng sát vách. Trong trướng có ba chiếc thảm ngủ, hai chiếc là của các ca ca cô, lúc này họ đều đang quây quần ăn cơm bên cha mẹ ở lều chính. Còn trên chiếc thảm còn lại, có một nam nhân tóc tai bù xù, râu ria xồm xoàm đang nằm bất động.
Trên gương mặt hắn có một vết sẹo dài đến đáng sợ.
Khi cha nàng mới vác nam nhân này về nhà, hắn bị đánh đến mức mặt mũi bầm dập, vết sẹo trên mặt thì thịt lật cả ra ngoài, khiến Bảo Nhã nhìn thấy là không dám ho he một câu. Nam nhân lúc ấy hôn mê bất tỉnh nhân sự, chỉ có thể cưỡng ép đổ chút sữa dê vào miệng để duy trì mạng sống. Nhờ có sự chăm sóc tỉ mỉ của cha cô bé, vết đao trên mặt nam nhân dần dần khép miệng, không còn dữ tợn như trước, gương mặt hốc mắt sưng vù cũng đã tiêu sưng, nhìn kỹ lại thấy đường nét vô cùng tuấn tú.
Có lẽ vì nghe thấy nương khen một câu, cha nàng liền cố ý cắt tóc nam nhân thành một mớ hỗn độn, không cho nương đến gần lau rửa, cũng tuyệt đối không cho nương giúp nam nhân cạo đi hàng râu quai nón lởm chởm.
Nam nhân vẫn nằm im như khúc gỗ, toàn thân âm u đầy tử khí như mọi ngày. Bảo Nhã ngồi quỳ bên cạnh giường, động tác vô cùng thuần thục, một tay nhỏ bóp lấy cằm nam nhân, tay kia cầm muỗng múc từng ngụm sữa dê ấm áp đút vào khuôn miệng đang mím chặt của hắn.
Đút xong sữa dê, Bảo Nhã liền cầm lấy phần bột thảo dược đã được cha giã nát, cẩn thận thoa lên các vết thương trên cánh tay và bàn chân của nam nhân.
Đây là một tộc nhân được cha nàng đem về từ chiến trường. Cha nói, nam nhân này tên là A Cổ Lạp, là một kẻ mồ côi không nhà không cửa, vô cùng đáng thương.
Bảo Nhã vừa nghiêm túc bôi thuốc cho gã nam nhân tội nghiệp này, vừa thầm nghĩ hắn đã hôn mê lâu như vậy rồi, không biết liệu có còn tỉnh lại được nữa hay không.
Bỗng nhiên, ngón tay đang buông thõng bên sườn của nam nhân khẽ giật giật.
Bảo Nhã giật mình, ngước mắt lên nhìn thì thấy nam nhân đã mở mắt từ lúc nào.
Cô bé vui mừng khôn xiết, vội vàng đặt bát lớn đựng thảo dược xuống đất rồi ba chân bốn cẳng chạy bay ra ngoài gọi cha.
Lúc này, Lục Trạc cảm thấy toàn thân mệt mỏi rã rời, vô lực. Ngón tay tuy còn cử động được nhưng hai chân hoàn toàn mất đi tri giác, chẳng có một chút cảm giác nào.
Ánh mắt hắn mệt mỏi đảo qua không gian xung quanh, nhận ra đây là bên trong một chiếc lều trướng rách nát được vá chằng vá đục bằng nhiều mảnh vải thô.
Bên ngoài vang lên tiếng bước chân dồn dập, rèm cửa đột nhiên bị người ta thô bạo đẩy ra, một hán tử Ô Đạt với vóc dáng cao lớn nhưng gầy gò sải bước đi vào.
Lục Trạc vừa rồi đã cảm thấy cô bé kia trông có nét quen mắt, bây giờ nhìn thấy gã hán tử Ô Đạt này, trí nhớ của hắn rốt cuộc cũng khôi phục hoàn toàn.
"A Cổ Lạp, ngươi rốt cuộc cũng tỉnh rồi! Ta, Long Bố, đã thề sẽ không vứt bỏ ngươi lại trên chiến trường thì nhất định sẽ làm được." Hán tử Ô Đạt bước đến bên giường, cố ý đứng xoay lưng lại với thê tử cùng nhi nữ của mình, ánh mắt lộ rõ vẻ phức tạp nhìn Lục Trạc mà nói.
Lục Trạc trong lòng khẽ lay động, hắn lập tức hiểu ra tình thế bèn khàn giọng dùng tiếng Ô Đạt đáp lại một tiếng: "Đa tạ."