Sau khi dời đến Đông Cung, cả Thái tử và Lý Ngọc nương đều trở nên bận rộn hơn trước. Một người phải bắt đầu tham dự vào chính sự triều đình, một người lại phải đứng ra quán xuyến toàn bộ cung nữ của Đông Cung. Cho đến cả A Phù nhỏ tuổi cũng được Thái tử sắp xếp cho một cung nữ họ Tô vô cùng tài hoa đến để vỡ lòng, dạy chữ.
Lý Ngọc nương đặc biệt dặn dò Tô cung nữ phải dạy cho A Phù quy củ trong cung, nhất là đối với Thái tử, A Phù buộc phải học được cách kính trọng, không thể cứ mãi như ngày trước, xem Thái tử như người anh trai nhà bên rồi tùy tiện chạy tới quấy rầy Ngài.
A Phù sáu tuổi đã biết nhiều chuyện hơn thuở nhỏ. Dưới sự uốn nắn và tầm ảnh hưởng của cả mẫu thân lẫn Tô cung nữ, cô bé quả nhiên không còn chạy tới làm phiền Thái tử nữa.
Đợi đến khi Thái tử đã dần quen với cuộc sống ở Đông Cung, bước qua giai đoạn bận rộn đến tối tăm mặt mũi thuở mới sắc phong, vào một ngày trời đổ mưa, Thái tử đứng bên cửa sổ nhìn ngắm màn mưa rơi, bỗng nhiên lại nhớ đến A Phù.
Ngài liền gọi Khang công công tới hỏi: "Dạo gần đây A Phù đang làm gì?"
Khang công công cung kính đáp: "Dạ bẩm, cô bé vẫn luôn chăm chỉ đọc sách cùng Tô cung nữ, chưa từng bước chân ra khỏi Di Nhiên cư nửa bước ạ."
Đông Cung có rất nhiều viện lạc. Vì Thái tử chưa đại hôn nên Người đã đặc biệt dành riêng một viện nhỏ nằm ngay sát chính viện cho hai mẹ con Lý Ngọc nương và A Phù ở, tự tay đề bảng tên là Di Nhiên cư.
Thái tử lúc này đang rảnh rỗi liền nảy ra ý định đi xem sao. Ngài cũng không đánh động ai, chỉ mang theo Khang công công rảo bước hướng về phía Di Nhiên cư.
A Phù vừa mới học xong một canh giờ sách và đang trong giờ nghỉ ngơi. Cô bé đang đứng cạnh một chiếc chum gốm lớn nuôi cá đặt ở góc sân. Bên trong chum có thả vài nhánh thủy tiên, còn nuôi thêm hai chú cá chép đỏ nhỏ xíu.
Liễu Nhi đứng bên cạnh che dù cho cô bé. Nhác thấy bóng dáng Thái tử đang đi tới, Liễu Nhi vội vàng khẽ giọng nhắc nhở A Phù.
A Phù liền xoay người lại, cùng Liễu Nhi cung kính hành lễ với Thái tử.
Bước chân Thái tử chợt khựng lại một nhịp. Đây là lần đầu tiên Ngài nhìn thấy A Phù trịnh trọng hành lễ với mình đến như vậy. Tư thế nhún người chào của cô bé trông vô cùng bài bản và chuẩn mực, cứ như thể đã được tập luyện rất nhiều lần, không tìm ra nổi một chút sai sót nào.
Sau thoáng ngập ngừng ngắn ngủi, Thái tử ra hiệu cho Khang công công dừng bước ở ngoài, còn tự mình cầm dù, một thân một mình rảo bước đi về phía hai chủ tớ A Phù.
A Phù tuy đã biết hành lễ chỉnh tề, nhưng dẫu sao cô bé cũng đã quá thân thuộc với Thái tử, thành ra chẳng thể vờ vĩnh tỏ ra tôn kính, xa cách cho được. Cô bé ngước nhìn Thái tử với nụ cười rạng rỡ, ánh mắt trong trẻo tựa như đang nhìn người ca ca ruột thịt của mình.
Thấy vậy, tâm trạng Thái tử lại tốt lên vài phần.
Ngài tiến lại gần A Phù, nghiêng chiếc dù che bớt màn mưa cho cô bé.
Liễu Nhi rất biết ý liền lui ra xa, đến đứng cùng một chỗ với Khang công công.
"A Phù đang ngắm cá đấy à?" Thái tử hướng mắt về phía chiếc chum gốm, nhẹ giọng hỏi.
A Phù quay sang, ngoan ngoãn gật đầu.
Những hạt mưa bụi li ti không ngừng đáp xuống làm xao động mặt nước. Hai chú cá chép đỏ nhỏ xíu dường như bị giật mình, cứ bơi qua bơi lại không ngớt, hết đuổi bắt nhau lại rúc vào trốn dưới những phiến lá thủy tiên to bản, được một lát lại tung tăng bơi ra.
Thái tử lặng yên ngắm nhìn một chốc, rồi dời ánh mắt sang gương mặt của A Phù, dịu dàng nói: "Nếu A Phù thích, ta sẽ sai người bắt thêm vài chú cá chép đỏ thả vào đây cho ngươi."
A Phù không đáp lời ngay, mà lại ngây ngô hỏi ngược lại Người một câu: "Điện hạ có biết những chú cá chép đỏ này vốn dĩ sinh sống ở đâu không ạ?"
Thái tử tuy không rõ nguồn gốc cụ thể của mấy chú cá này, nhưng cá chép thì cũng là cá, nơi sinh sống quanh đi quẩn lại cũng chỉ có chừng ấy chỗ.
"Chắc là ở các đầm, hồ hoặc những vùng sông nước tương tự thôi." Thái tử đáp.
A Phù chăm chú nhìn hai chú cá đỏ dưới nước, khẽ lẩm bẩm như thể đang tự nói với chính mình: "Thần chưa từng được thấy đầm hay hồ bao giờ, chúng rộng lớn lắm phải không?"
Thái tử gật đầu, bảo: "Ở Tây Uyển có một hồ nước rất lớn. Nếu A Phù muốn xem, ta có thể dẫn ngươi đi."
Gương mặt A Phù thoáng hiện lên vẻ háo hức, nhưng rồi cô bé lại lắc đầu từ chối: "Dạ thôi ạ, mẹ thần bảo không được phép chạy nhảy lung tung."
Thái tử biết rõ tính khí cẩn trọng của nhũ mẫu nên cũng không cưỡng cầu. Người muốn đối đãi tốt với nhũ mẫu và A Phù, nhưng cũng phải cân nhắc xem họ thực sự cần điều gì. Nếu cứ gượng ép ban tặng một đặc ân khiến họ phải kinh sợ, lo lắng khôn nguôi thì lại phản tác dụng, mất đi tâm ý ban đầu.
Thái tử bèn quay lại ý định cũ, đề nghị tặng thêm cho A Phù mấy chú cá chép đỏ.
A Phù vẫn lắc đầu, khẽ nói: "Cái chum nước này nhỏ xíu hà, ngày nào chúng cũng bị nhốt ở bên trong, chắc chắn là ngột ngạt đến chết mất. Điện hạ thả chúng đi có được không?"
A Phù tuy thích ngắm nhìn những sinh vật nhỏ nhắn này, nhưng cô bé lại thấy tội nghiệp cho chúng nhiều hơn.
Trong lúc hai người đang trò chuyện, một chú cá chép đỏ bơi sát đến thành chum. Chiếc vây nhỏ nhắn, yếu ớt của nó vừa chạm vào vách gốm cứng nhắc liền vội rụt lại, quẫy đuôi bơi thẳng ra giữa dòng.
Thái tử lặng im nhìn chú cá chép đỏ nhỏ bé kia. Thoạt đầu, Ngài cảm thấy nhũ mẫu và A Phù cũng giống như hai chú cá nhỏ bị phụ hoàng và mẫu phi giam cầm bên cạnh mình. Nhưng rồi chuyển niệm nghĩ lại, bản thân Ngài há chẳng phải cũng như vậy sao?
Những bức tường cung cấm trùng trùng điệp điệp lại vô cùng nặng nề, đã giam giữ biết bao nhiêu kiếp người.
.
Mùa thu năm Thái tử mười tám tuổi, Kiến Đức đế lâm bệnh băng hà. Thái tử đăng cơ kế vị, lấy niên hiệu là Nguyên Gia đế.
Thuở mới lập làm Thái tử, Ngài đã bận rộn đến mức xoay như chong chóng, giờ đây mọi quốc gia đại sự đều đè nặng lên vai, Nguyên Gia đế lại càng bận đến mức thức khuya dậy sớm, bươn chải một nắng hai sương.
Trang phi năm xưa nay đã được tôn phong làm Thái hậu nương nương.
Dùng uy nghiêm của Thái hậu để thu xếp, chỉnh đốn một lượt các phi tần của tiên đế xong xuôi, vừa có chút thảnh thơi, Thái hậu bỗng nhiên lại nhớ đến Lý Ngọc nương.
Hôm đó, khi Nguyên Gia đế đến cung thỉnh an Thái hậu, Thái hậu nhắc đến chuyện có hai vị Thái phi đã tự sát để tuẫn táng theo tiên đế, rồi nhân đó liền đánh tiếng sang Lý Ngọc nương: "Tiên đế khi còn sống đối đãi sủng ái Lý thị chẳng thua kém gì các bậc phi tần, đáng tiếc là Lý thị lại không biết điều, không hề cảm kích. Tiên đế vừa nằm xuống, bà ta vẫn ăn ngon mặc đẹp, chẳng thấy có chút dáng vẻ bi thương nào."
Nguyên Gia đế nhìn về phía mẫu thân của mình, người hiện tại là Thái hậu nương nương.
Vẫn đang trong thời gian quốc tang, Thái hậu tuy ăn vận mộc mạc nhưng không mất đi nét ung dung, quý phái. Khóe mắt chân mày của bà đều lộ rõ vẻ đắc ý, vinh hiển của bậc mẫu nghi thiên hạ, thì có chỗ nào nhìn ra được sự đau thương, cực kỳ bi ai đâu?
Nguyên Gia đế chỉ đành giữ im lặng.
Thấy con trai không tiếp lời, Thái hậu cũng rất nhanh chóng chuyển sang chủ đề khác.
Nguyên Gia đế bận rộn xử lý chính sự suốt cả ngày dài, đến chập tối mới có được một chút thời gian rảnh rỗi, Ngài liền dời bước quay lại Đông Cung.
Quãng thời gian qua quá đỗi bận rộn, Ngài vẫn chưa nghĩ tới hai mẹ con nhũ mẫu, hiện tại họ vẫn đang ở lại trong Đông Cung.
Lý Ngọc nương vốn đã muốn diện kiến Nguyên Gia đế từ sớm, nhưng bà thừa hiểu tân đế đăng cơ sẽ bận rộn đến nhường nào nên không dám làm phiền, cứ như vậy kiên nhẫn chờ đợi cho đến khi vị hoàng đế trẻ tuổi nhớ đến mình.
Đông Cung lúc này vô cùng vắng lặng, bọn người Khang công công đều đã theo hầu đấng quân vương rời đi, chỉ còn Lý Ngọc nương và A Phù vẫn sống quy củ tại Di Nhiên cư.
Thấy Nguyên Gia đế đột ngột ghé qua, Lý Ngọc nương có chút ngẩn người, sau đó liền nhanh chóng dắt theo A Phù ra nghênh đón thánh giá.
Hai mẹ con quỳ sụp xuống mặt đất, trịnh trọng thực hiện đại lễ quỳ lạy kính cẩn đối với bậc thiên tử.
Nguyên Gia đế khẽ cong ngón tay, mỉm cười miễn lễ cho hai mẹ con.
Ba người cùng bước vào sảnh đường.
Nguyên Gia đế năm nay mười tám tuổi, ngay từ thuở còn chưa làm Thái tử, Ngài đã không còn giãi bày tâm sự với Lý Ngọc nương nữa, và bà cũng không dám xem Ngài như một đứa trẻ để đối đãi. Cho đến tận bây giờ, khi Nguyên Gia đế đã trở thành đấng quân vương, dù tuổi đời còn trẻ nhưng toàn thân đã toát lên uy nghiêm ngút ngàn của bậc thiên tử. Lý Ngọc nương khép nép cúi đầu, không dám nhìn thẳng vào Ngài.
Duy chỉ có A Phù là thỉnh thoảng vẫn lén lút ngước mắt lên nhìn Ngài vài cái.
Nguyên Gia đế cũng chẳng biết nên trò chuyện gì với nhũ mẫu, nhác thấy A Phù đang nhìn trộm mình, Ngài liền nở nụ cười: "A Phù này, khi trẫm còn là Thất điện hạ, trẫm cho phép ngươi tự do đi lại ở Vân Hải cư, khi trẫm làm Thái tử, trẫm cho phép ngươi tự do đi lại ở Đông Cung, giờ đây trẫm đã là hoàng thượng, trẫm cho phép ngươi được tự do đi lại trên khắp bờ cõi Đại Tề, bao gồm cả hoàng cung này nữa, ngươi có vui không?"
A Phù nghe vậy đương nhiên là vui mừng khôn xiết.
Lý Ngọc nương khẽ ngẩng đầu lên, dáng vẻ muốn nói lại thôi.
Nguyên Gia đế lập tức lên tiếng: "Nhũ mẫu có điều gì muốn nói, cứ thẳng thắn đừng ngại."
Lý Ngọc nương bèn quỳ sụp xuống, ánh mắt đầy chân thành nhìn vị hoàng đế trẻ tuổi: "Hoàng thượng, thuở ngài còn nhỏ, sinh hoạt thường ngày còn cần đến thần phụ hầu hạ. Nay hoàng thượng đã đăng cơ, người bên cạnh hầu cận vô số, lại có thêm Khang công công chăm lo chu toàn, thần phụ thực sự rất mực yên tâm. Thần phụ tiến cung tính đến nay đã gần hai mươi năm, giờ tuổi tác cũng ngày một cao, lòng càng thêm da diết nhớ thương con cái ở quê nhà. Khẩn cầu hoàng thượng chuẩn tấu cho thần phụ được rời cung về nhà, tận hưởng niềm vui gia đình."
A Phù thấy mẫu thân quỳ xuống, cũng ngoan ngoãn quỳ theo bên cạnh.
Nguyên Gia đế nhìn hai người trước mặt, những người đã từng sớm tối bên cạnh mình suốt bao năm qua, ý nghĩ đầu tiên lóe lên trong đầu Ngài là không muốn cho phép.
Thế nhưng, Ngài chợt nhớ lại những lời châm chọc đầy ác ý của Thái hậu dành cho nhũ mẫu vào sáng nay, rồi lại nghĩ đến hai chú cá chép đỏ nhỏ bé nuôi trong chiếc chum gốm ngày trước.
Với một vị Thái hậu vốn tính có thù tất báo như mẫu thân mình, nếu Ngài cứ kiên quyết giữ nhũ mẫu lại trong cung thì chẳng khác nào đang hại bà.
Còn A Phù lại là đứa trẻ luôn hướng tới sự tự do. Kinh thành này rộng lớn biết bao, Ngài hà cớ gì phải giam cầm cô bé trong bốn bức tường cung cấm nhỏ hẹp này?
Nguyên Gia đế khẽ mỉm cười, chuẩn tấu.
Sáng sớm ngày hôm sau, ngay lúc Nguyên Gia đế đang chủ trì buổi thiết triều thì ở phía sau cung cấm, Lý Ngọc nương đã dắt tay A Phù, bước chân ra khỏi cửa cung để trở về nhà.
Nguyên Gia đế tựa như đã lãng quên hoàn toàn hai mẹ con họ, cho đến tận nửa năm sau. Đột nhiên, Ngài hạ chiếu ban tặng Nhàn trang, một điền trang thuộc Nội vụ phủ nằm gần núi Vân Vụ cho Lý Ngọc nương, đồng thời sắc phong bà làm Thọ An quân. Ngoài ra, hoàng đế còn hào phóng ban thưởng thêm vạn lượng bạc trắng, ngàn mẫu ruộng tốt cùng một số cung nhân, trong đó có cả Liễu Nhi và Lý công công là những người thân cận mà bà đã dùng quen tay từ trước.
Lý Ngọc Nương quỳ trên mặt đất tiếp chỉ, lệ rơi đầy mặt.
.
Thọ An quân mang theo con trai cùng hai cô con gái dọn đến Nhàn trang. Người thân trong nhà thỉnh thoảng vẫn lên kinh thành để đi hội hoa đăng, đi chơi hội chùa, nhưng riêng Thọ An quân thì tuyệt nhiên không bao giờ bước chân vào kinh thành nửa bước nữa. Thuở bà mới được sắc phong, vẫn có một vài gia đình quan lại tìm cách tới lui, kết giao. Nhưng rồi theo thời gian, những lời đồn thổi ác ý ở kinh thành về mối quan hệ giữa Thọ An quân và Tiên đế ngày một nhiều lên, các phủ đệ quyền quý cũng dần ngoảnh mặt, không còn ai thèm đoái hoài tới Nhàn trang. Thọ An quân đối với chuyện này cũng chẳng mấy để ý.
Vào ngày Nguyên Gia đế đại hôn, Thọ An quân ở Nhàn trang tự mình chuẩn bị một bàn thức ăn ngon, xem như chúc mừng Nguyên Gia đế.
Các con của bà cũng lần lượt đến tuổi thành thân.
Trưởng tử Thọ An quân cưới Vương thị, một cô gái xuất thân từ gia đình nghèo khó, dung mạo xinh đẹp lại hồn nhiên, ngây thơ. Nàng dâu mới thỉnh thoảng có vài tính toán nhỏ nhặt, nhưng với một người đã dày dạn sương gió, nhìn thấu sự đời chốn thâm cung như Thọ An quân, bà lại thấy những nét tinh ranh nhỏ bé ấy quả thực rất đáng yêu.
Thọ An quân chọn cho trưởng nữ một vị thư sinh tướng mạo đường đường. Đáng tiếc, dù đã nhìn người kỹ lưỡng qua nhiều lần xem mắt, bà vẫn không thể ngờ được gã con rể này lại là một tên súc sinh đạo mạo, cứ hễ uống say vào là lộ nguyên hình. Mấy năm đầu, hắn giấu rất kỹ, đối xử với trưởng nữ vô cùng ôn nhu, chu đáo. Nhưng cưới nhau lâu ngày, hắn bắt đầu thượng cẳng tay hạ cẳng chân, dùng nắm đấm với thê tử.
Biết chuyện, Thọ An quân lập tức mang theo hộ vệ do hoàng đế ngự tứ đùng đùng nổi giận tới cửa, dứt khoát đòi bằng được một tờ hòa ly, chặt đứt mọi ân đoạn nghĩa tuyệt với tên con rể tồi tệ.
Nguyên Gia đế ở sâu trong cung cấm tựa hồ hoàn toàn không biết gì về chuyện này. Thế nhưng chẳng bao lâu sau, tên cựu con rể của Thọ An quân liền bị triều đình soi ra sai phạm trong công vụ, lập tức bị bãi quan, cách chức.
Mùa xuân năm sau, hoa nở rực rỡ khắp nơi. Nguyên Gia đế ngồi trong cung cấm đã lâu, cảm thấy bí bách nên quyết định cải trang vi hành xuất cung.
Ngài không hề thông báo một tiếng với Thái hậu, chỉ lặng lẽ mang theo hai ngự tiền thị vệ, đồng thời đích thân điểm tên hai vị thế tử của Thượng tứ quân đi cùng hộ giá ra khỏi kinh thành.
Hai vị thế tử được Nguyên Gia đế chọn chính là, một người là Thế tử của Bình Tây hầu, Thích Bình, một người là Thế tử của Anh quốc công, Lục Mục.
Cả ba vị nam tử trẻ tuổi cưỡi trên lưng ngựa đều sở hữu dung mạo vô cùng xuất chúng. Nguyên Gia đế ung dung hoa quý, khí độ thâm trầm, khó mà che giấu được uy nghiêm của bậc đế vương chốn cửu ngũ. Thích Bình thì mày rậm mắt hổ, dáng dấp cao lớn, toát lên phong phạm của một bậc đại tướng tương lai, ngược lại là Lục Mục, gã dung mạo ôn nhuận tuấn mỹ, thanh tao thoát tục, rất dễ khiến người ta nhìn lầm thành một vị quan văn yếu ớt.
Vừa ra khỏi cổng kinh thành, Nguyên Gia đế đã thúc ngựa đi đầu, thẳng hướng núi Vân Vụ mà đi.
Nhàn trang của Thọ An quân lại vừa vặn tọa lạc ngay trên con đường độc đạo dẫn lên ngọn núi Vân Vụ.
Nguyên Gia đế đã có mấy năm không gặp lại Thọ An quân. Không phải Ngài không muốn gặp, mà là bởi triều chính quá đỗi bận rộn, thêm vào đó Thái hậu lại là người lòng dạ hẹp hòi, hay để ý, Nguyên Gia đế không muốn vô tình rước thêm phiền toái cho nhũ mẫu. Thế nhưng, chuyện năm ngoái trưởng nữ Chu thị hòa ly đã làm kinh thành xôn xao một dạo, Nguyên Gia đế vẫn luôn canh cánh trong lòng, rất mực lo lắng cho Thọ An quân, không biết nhũ mẫu có vì chuyện này mà u sầu, phiền muộn hay không.
"Đến Nhàn trang." Nguyên Gia đế lên tiếng, là người đầu tiên bẻ lái cho ngựa rẽ vào con đường nhỏ dẫn tới trang viện.
Cùng lúc đó Thọ An quân vừa mới đuổi thẳng cổ một bà mối ra về.
Trưởng nữ của bà quả thật đã từng gả đi một lần, lại còn bị người ta thêu dệt, đồn thổi tai tiếng là không sinh được con cái, nhưng bà thà nuôi con gái ở bên cạnh cả đời, chứ tuyệt đối không đời nào tùy tiện gả con cho loại vớ va vớ vẩn. Có những kẻ rõ ràng là ham mồi béo bở, thèm khát cái Nhàn trang này cùng ngàn mẫu ruộng tốt được ngự tứ, thế nhưng khi đến cầu thân lại dùng giọng điệu ban ơn, bố thí, quả thực là tìm mắng!
Liễu ma ma đứng bên cạnh thậm chí còn tức giận hơn cả chủ tử. Đại tiểu thư nhà bọn họ dung mạo, tài hoa xuất chúng như thế, cái đám tục nhân bẩn thỉu kia làm sao xứng đáng!
Chủ tớ hai người còn đang vừa làm việc vừa hậm hực lẩm bẩm oán trách chuyện này, thì Lý công công đã từ bên ngoài vội vội vàng vàng chạy vào thông truyền, nói là Hoàng thượng tới rồi!
Thọ An quân nghe xong, lập tức quăng hết chuyện đám cầu thân dưa vẹo táo nứt kia ra sau đầu, nhấc vạt áo chạy chậm ra ngoài nghênh đón thánh giá.
Bà vừa mừng vừa sợ, lại lo lắng bản thân có điểm thất lễ. Vừa nhìn thấy bóng dáng Nguyên Gia đế, bà đã định "bịch" một tiếng quỳ sụp xuống. Thế nhưng Nguyên Gia đế đã nhanh tay lẹ mắt, sải bước lao lên giữ chặt lấy Thọ An quân. Đợi sau khi kéo được nhũ mẫu đứng thẳng dậy, Nguyên Gia đế mới chăm chú quan sát bà một lượt từ đầu đến chân. Thấy sắc mặt bà hồng hào, nhuận sắc, dường như năm tháng chẳng thể làm bà già đi, ngược lại so với hồi còn ở trong cung thì có phần đẫy đà, mượt mà hơn mấy phần, Nguyên Gia đế không nhịn được mà bật cười thành tiếng: "Nhũ mẫu tâm trí thảnh thơi, thân thể mập mạp ra rồi, ngược lại làm trẫm ở trong cung lo lắng suông."
Thọ An quân đỏ bừng cả khuôn mặt già. Đúng là dạo này cuộc sống trôi qua quá đỗi bình yên, êm ấm, chuyện phải lo nghĩ lại ít, làm sao mà không béo lên cho được?
Trận trêu chọc vui vẻ này của hoàng đế vô hình trung đã đập tan mọi khoảng cách và sự ngăn cách suốt mấy năm xa cách vừa qua. Giữa hai người tựa hồ lại tìm về được sự thân thiết, tự nhiên như lúc trước.
Nguyên Gia đế giới thiệu hai vị thế tử Lục Mục, Thích Bình đi cùng cho Thọ An quân.
Thọ An quân thấy phong thái của hai người này thì rất mực vui mừng. Có được những thần tử xuất sắc như vậy phò tá, Nguyên Gia đế làm hoàng thượng cũng sẽ dễ dàng hơn đôi chút.
Đám người dời bước đến sảnh đường.
Lục Mục và Thích Bình thuần túy chỉ là người đi cùng tiếp khách, chủ yếu vẫn là Nguyên Gia đế trò chuyện cùng Thọ An quân.
Nguyên Gia đế hỏi thăm về chuyện hòa ly của đại Chu thị.
Thọ An quân lúc này trông hiền hòa hơn hẳn so với khi ở trong cung. Có lẽ do tuổi tác đã cao, bà chẳng thèm che giấu điều gì mà mắng chửi gã con rể cũ một trận lôi đình, tuy không nửa lời th* t*c nhưng lại hạ nhục kẻ đó đến cực điểm. Tài ăn nói của bà xưa nay vốn tốt, nhớ năm đó khi khen ngợi Nguyên Gia đế một cách mù quáng, bà cũng có thể tâng bốc đến mức hoa trời rơi rụng.
Nguyên Gia đế vừa buồn cười trước khẩu tài của nhũ mẫu, lại vừa phẫn nộ trước việc kẻ kia bạo hành đại Chu thị.
"Lão thái quân nguôi giận, cái thằng ranh con đó, chờ ta gặp được hắn, nhất định phải cho hắn một trận đòn." Thích Bình tức giận nói.
Thọ An quân cười bảo: "Không cần, không cần, hòa ly xong là đoạn tuyệt hoàn toàn, việc gì phải để hắn làm bẩn nắm đấm của thế tử gia."
Nguyên Gia đế ngồi một lát rồi nghĩ đến A Phù. Thoáng chớp mắt, Ngài đã sáu năm không gặp A Phù, chẳng biết giờ nàng đã trưởng thành ra sao.
Nguyên Gia đế vẫn còn nhớ rõ A Phù lúc nhỏ.
Ngài từng có một người anh ruột, sau khi huynh ấy qua đời, Nguyên Gia đế không cách nào coi các hoàng tử khác là huynh đệ được nữa. Thẳng đến khi A Phù xuất hiện, Nguyên Gia đế phảng phất như có lại một người muội muội, một muội muội mà ngài có thể hoàn toàn tín nhiệm. Ngài hết lòng tốt với A Phù, A Phù cũng sẽ quan tâm ngài, đôi bên đều không cần lo lắng đối phương sẽ hãm hại mình.
Chỉ là năm nay A Phù đã mười bốn tuổi rồi, con gái lớn có khác, ngài cũng không tiện đường đột nói muốn gặp nàng.
Vẫn là Thọ An quân chủ động nhắc đến ba đứa trẻ nhà mình: "Đại lang đã đến Công bộ làm việc, còn chị em A Phù thì lên núi chơi rồi. Hai đứa nhỏ đó quả thực như đầu thai nhầm, đứa sau càng không giống con gái hơn đứa trước."
Giọng điệu của Thọ An quân tràn ngập sự bất lực.
Nguyên Gia đế không tin, trong trí nhớ của ngài, A Phù vô cùng nhu thuận, đáng yêu.
Uống cạn chén trà, Nguyên Gia đế đứng dậy cáo từ.
Thọ An quân tiễn họ một mạch ra khỏi Nhàn trang.
Nguyên Gia đế xoay người lên ngựa, chạy được một quãng xa, ngài bỗng cảm giác mà quay đầu lại. Chỉ thấy Thọ An quân vẫn đang đứng trước cửa, giống như một người mẹ tiễn con đi xa, đau đáu dõi theo bóng dáng ngài.
Ánh mắt Nguyên Gia đế chợt ấm áp.
Thời gian có thể thay đổi rất nhiều thứ, nhưng có những người, có những việc, dù qua bao lâu đi chăng nữa cũng sẽ chẳng hề đổi thay.