Ngọc Lâm dứt lời, đám quan lại vốn đang đứng tản mác trong trà xá lần lượt tìm chỗ ngồi xuống.
Nàng đứng một mình, lại có vẻ như đang ở thế cao nhìn xuống. Thấy mọi người im lặng, nàng bồi thêm một câu: “Lời của ta, xem ra cũng có lý, phải không?”
Hàn Tiệm gật đầu, đặt tay lên văn thư của Tống Ẩm Băng: “Ta không phủ nhận, nhưng bọn ta cần phải nghị bàn thêm.”
“Được.” Ngọc Lâm đáp: “Vậy nô tì không dám làm phiền các vị đại nhân nữa.” Nói đoạn nàng nhún người hành lễ: “Cũng đa tạ chư công hôm nay đã dung túng cho ta đến mức này.”
Trong đám tọa thiền bỗng có người lên tiếng: “Ngọc cô nương, Thiếu ti khấu trước đây hiền danh vang xa. Nay lâm vào cảnh này, bọn ta… thực ra đều thấy rất đáng tiếc.”
Ngọc Lâm đứng thẳng người, mỉm cười với người vừa nói: “Cũng không đến mức đó đâu.”
Nàng chậm rãi nghiêng mình nhìn ra ngoài cửa sổ: “Dù là Thiếu ti khấu hay là tiện nô, chẳng phải đều là muốn tìm lấy một chỗ đứng trong cái thành Lương Kinh này hay sao?”
Hàn Tiệm nhìn nghiêng khuôn mặt nàng, hỏi: “Cô muốn một chỗ đứng, hà tất phải đi cùng đường với kẻ ở Trấn phủ ti kia?”
Ngọc Lâm không ngoảnh đầu lại, vẫn dõi mắt theo dòng người qua lại nơi phố thị. Thấu Cốt Long được buộc ở góc phố đối diện, người ngồi dưới ngựa vẫn đang cầm nửa củ khoai nướng nàng ăn dở.
Đúng lúc đó, sau lưng Ngọc Lâm có người gọi thẳng cả họ lẫn tên nàng: “Ngọc Lâm cô nương.”
Mọi người nghe tiếng đều ngoảnh lại nhìn, chỉ thấy Ngô Lũng Nghi đang mặc thường bào, đứng trước tấm bình phong gỗ. Các quan vội đứng dậy hành lễ, nhưng Ngô Lũng Nghi thản nhiên bước thẳng về phía Ngọc Lâm, vừa đi vừa nói: “Nếu Lục khoa đúng như lời cô nói, cầu được bệ hạ hạ chiếu tự trách thì vụ án chùa Thiên Cơ sẽ trở thành không có kẻ phóng hỏa, con gái Lưu thị có thể sống, Triệu Hà Minh và Hứa chưởng ấn đều có thể thoát vây. Nhưng ở giữa chuyện này, vẫn còn thiếu một mắt xích.”
Hàn Tiệm không nhịn được hỏi: “Mắt xích nào?”
Ngô Lũng Nghi bảo: “Các vị cứ bình tĩnh, nghe ta nói hết với nàng ta đã.”
Trong phòng im bặt, tiểu đồng thêm trà cũng đi lại vội vã. Ngô Lũng Nghi ngồi xuống một chiếc ghế bên cửa sổ, nói với Ngọc Lâm: “Cô nhờ Lý Hàn Chu ở Trấn phủ ti truyền tin gọi ta tới đây, ta cũng chẳng ngại nói rõ điểm yếu hại cho cô biết.”
Ngọc Lâm cúi đầu: “Xin nghe Tổng hiến giáo huấn.”
Ngô Lũng Nghi nói: “Cô đã gõ trống Đăng Văn, tội danh tố cáo ngang hàng với mưu quốc, Pháp ti không thể không lập án. Nay dẫu bọn ta thuyết phục được bệ hạ tự trách để cứu Triệu hình thư, thì cô nói bọn ta phải làm thế nào để xóa bỏ cái án cô tố cáo Triệu Hình thư đây?”
Ngọc Lâm cười nhạt: “Còn có thể che đậy thế nào nữa?”
Đến đây, ánh mắt nàng lạnh lẽo, giọng điệu đột ngột chuyển sang châm biếm: “Ở quan trường Lương Kinh này, hễ có chuyện nhục nhã gì không che đậy được nữa thì trong thành Lương Kinh sẽ tự nhiên xuất hiện thêm một nữ nhân điên.”
Hàn Tiệm quát: “Cẩn thận ngôn từ!”
Ngọc Lâm nhìn thẳng Hàn Tiệm: “Lời này khó nghe, nhưng chuyện này trước đây ta đã thấy quá nhiều rồi.”
Trong đám quan có người không nhịn được, quát mắng: “Ngươi đây không phải là đang bôi nhọ đám người Khoa Đạo bọn ta sao? Nếu chuyện này thường xuyên xảy ra, bọn ta còn ra cái thể thống gì?”
Ngọc Lâm không đáp lời, chỉ hành lễ với Ngô Lũng Nghi: “Tổng hiến, ngài hãy tin ta, ta biết phải phối hợp với Pháp ti thế nào để diễn vai một nữ nhân điên cho đạt.”
Nói xong nàng xoay người, tà váy tung bay trong làn gió như một bóng hình thanh thoát bước ra khỏi trà xá.
Ngô Lũng Nghi đưa mắt tiễn Ngọc Lâm, bấy giờ mới nói với Hàn Tiệm: “Mưu kế nàng ta nói, các ngươi thấy sao?”
Hàn Tiệm đáp: “Là một kế có thể dùng.”
Ngô Lũng Nghi gật đầu: “Được, vậy hôm nay ta và các ngươi đạt thành một sự ngầm hiểu như thế này. Án của Triệu Hà Minh sẽ do ta và Đại lý tự hợp nghị để xóa bỏ. Các ngươi hãy khẩn trương liên danh dâng sớ lên đi.”
“Rõ.”
Lúc này trên đường phố người qua kẻ lại tấp nập, Ngọc Lâm đứng dưới lá cờ trà, đợi Trương Dược dắt ngựa tới.
“Lên ngựa.”
Ngọc Lâm lắc đầu: “Chưa đi được, tiền trà của ta chưa trả.”
Trương Dược ngoắc tay gọi tiểu đồng đang chào khách ở cửa, ném cho một túi bạc vụn. Ngọc Lâm định với tay chụp lấy nhưng vồ hụt: “Kìa, Trương Dược, chỉ là trà hoa quế thôi mà, đâu cần nhiều thế.”
Trương Dược chẳng thèm để ý, chỉ bảo tiểu đồng: “Sau này nàng ấy tới uống trà, trà phải ngon, nước pha trà phải ngọt thanh, trà bánh cũng phải tinh tế.”
Tiểu đồng ngơ ngác nhìn Ngọc Lâm và Trương Dược, rõ ràng không hiểu vì sao một người nô tì lại có thể khiến vị Chỉ huy sứ của Trấn phủ ti vốn nổi tiếng vốn keo kiệt từng đồng, chỉ có hứng thú với gỗ lại vung tiền nhiều đến vậy.
Ngọc Lâm thở dài, nghiêm túc nói: “Đây là nơi ngôn quan hay tụ tập.”
“Ta biết. Thì đã sao nào?”
Giọng Trương Dược lạnh lùng, mặt không một chút biểu cảm, nhưng chẳng hiểu sao câu nói ấy lại khiến khóe môi Ngọc Lâm khẽ cong lên.
Phải rồi, thì đã sao nào.
“Lên ngựa đi.” Trương Dược giữ chắc đầu ngựa: “Theo ta về thôi.”
Ngọc Lâm nhìn trời: “Vẫn còn sớm mà.”
“Sắp sang đông rồi, một lát nữa là trời tối ngay.”
“Được.”
Quả nhiên, vào đúng ngày Lập đông, Triệu Hà Minh đã đợi được nước cờ dẫn lối của học trò mình.
Hôm đó trời đổ tuyết lớn, Phụng Minh đế chợt nảy ý muốn ăn lẩu phong dưỡng, thiện phòng bèn nhóm nồi đồng ở Phù Bích Đình trong ngự uyển, các món ngự thiện chuẩn bị trước đó đều bị dẹp sang một bên.
Phụng Minh đế ngồi trong đình nhìn thực đơn truyền vào, thở dài một tiếng rồi tùy tay đưa cho Trần Kiến Vân. Thấy chủ tử vẻ mặt không vui, Trần Kiến Vân chẳng dám nói nhiều, trái lại Hứa Tụng Niên đang đứng bên cạnh Phụng Minh đế lại lên tiếng: “Nô tì mạn phép thưa một câu, hay là đem ngự thiện hôm nay ban thưởng ra ngoài?”
Quý nhân Hoàng Yên đang cầm đũa nhìn trời, nói khẽ: “Tuyết đang lớn thế kia, sợ là đường xá khó đi.”
Phụng Minh đế cười bảo: “Tên già kia, trẫm hôm nay bảo ngươi hầu ngự thiện là để ngươi ra ngoài hít thở một chút, lát nữa xong việc vẫn phải xích ngươi lại, ngươi đừng có mà quá càn rỡ. Ngươi và Triệu Hà Minh, kẻ nào phải chịu chết, trẫm vẫn chưa nghĩ xong đâu.”
Hứa Tụng Niên đáp: “Sống chết nô tì đều tạ ơn chủ tử, nô tì xin ngậm miệng lại để hầu hạ người dùng bữa.”
Hoàng Yên rót rượu cho Phụng Minh đế, nhỏ nhẹ: “Thực ra là thiếp nhiều chuyện, ngự thiện dẫu có nguội lạnh đi chăng nữa thì đó vẫn là ân điển của bệ hạ. Làm kẻ bề tôi, ai mà không tạ ơn lĩnh nhận.”
Phụng Minh đế không tiếp lời nàng, trái lại bảo: “Trẫm thấy cũng không cần ban thưởng ra ngoài.” Nói xong ra hiệu cho Trần Kiến Vân tiến lại gần.
Trần Kiến Vân vội bưng thực đơn quỳ dâng lên trước mắt ngài. Phụng Minh đế chỉ vào bốn món: tôm tươi tiêu giấm, thịt ngỗng ba chỉ, đĩa dạ dày cừu cùng mù tạt đậu xị và canh miến thịt ngỗng xé sợi, ngẩng đầu hỏi Hứa Tụng Niên: “Trẫm không nhớ nhầm chứ, Triệu Hà Minh thích ăn nhất là mấy món này?”
Hứa Tụng Niên vội đáp: “Bệ hạ làm sao nhầm được.”
Phụng Minh đế cười: “Trẫm cũng có tuổi rồi. Từ khi Triệu thị qua đời, trẫm và phụ tử Triệu gia không còn chuyện người nhà nữa, toàn là đạo quân thần, trẫm suýt quên mất Triệu Hà Minh còn phải gọi trẫm một tiếng ‘cô phụ’.”
*Cô phụ: Chồng của cô ruột.
Nhắc đến Triệu thị, vai Hoàng Yên đang đứng hầu bên cạnh hơi khẽ rung lên. Phụng Minh đế nắm chặt lấy bàn tay đang cầm đũa của nàng: “Ngồi xuống đi.”
“Thiếp… thiếp không dám.”
“Không dám thì đứng cho thẳng vào.”
Câu nói này khiến lưng của tất cả mọi người có mặt đều cứng đờ. Phụng Minh đế buông tay Hoàng Yên ra, cười nhạt: “Còng lưng rụt vai, trông chẳng đẹp chút nào.”
Hoàng Yên vội quỳ xuống, một câu cũng không dám nói. Phụng Minh đế cúi đầu hỏi: “Trẫm vừa nhắc Triệu thị, làm nàng sợ sao?”
“Không có…”
Phụng Minh đế nhìn bờ vai đang run rẩy của Hoàng Yên, bật cười một tiếng rồi tặc lưỡi: “Chậc, chẳng thú vị gì cả. Lui xuống đi.”
Hoàng Yên như được đại xá, đứng dậy che mặt lui xuống khỏi Phù Bích Đình, bước chân hoảng loạn, suýt chút nữa va phải Dương Chiếu Nguyệt đang vén áo bước lên bậc thềm. Dương Chiếu Nguyệt đỡ Hoàng thị xuống đài, sau đó mới quỳ xuống ở bậc thềm cuối cùng của đình.
Phụng Minh đế ăn một miếng thịt dê, ra vẻ tùy ý: “Ngươi đến đúng lúc lắm, mấy món vừa rồi ngươi bưng cho chắc, đem ban cho Triệu Hà Minh.”
“Rõ.”
Dương Chiếu Nguyệt nhận lệnh, liếc mắt nhìn Hứa Tụng Niên một cái nhưng vẫn chưa đứng dậy. Phụng Minh đế ăn thêm một miếng da đầu dê, hỏi: “Sao không cử động?”
Dương Chiếu Nguyệt cúi đầu, từ trong ống tay áo lấy ra một bản tấu sớ, giơ cao quá đầu.
Hứa Tụng Niên mắng: “Cái tên không hiểu chuyện, không thấy chủ tử đang dùng bữa sao? Thứ gì mà lại trình lên lúc này?”
Dương Chiếu Nguyệt thưa: “Nô tì đáng tội…”
Phụng Minh đế ngắt lời: “Trình lên đây, trẫm cũng ăn xong rồi.”
Dương Chiếu Nguyệt quỳ gối tiến vào đình, dâng bản sớ lên. Phụng Minh đế lật xem, ánh mắt quét qua từng dòng, sắc mặt dần trở nên sáng sủa hơn, sau đó đưa tờ sớ cho Hứa Tụng Niên: “Trẫm đã bảo mà, đám Lục khoa ngày trước ai nấy cũng viết được văn chương mỹ miều, chẳng lẽ mặc bộ quan phục thất phẩm vào là không viết nổi nữa? Trẫm thấy là tâm trí không đặt đúng chỗ thôi.” Nói rồi, ngài chỉ vào mặt sớ: “Sớ này viết rất tốt.”
Hứa Tụng Niên vừa xem vừa nói: “Đó là nhờ bệ hạ dạy bảo khéo.”
Phụng Minh đế nhướn mày: “Ngươi nói đến trận đòn kia ư? Hừ, cũng phải.”
Hứa Tụng Niên không đáp lời, quay sang hỏi Dương Chiếu Nguyệt: “Sao không thấy phiếu nghĩ của Nội các?”
Dương Chiếu Nguyệt thưa: “Đây là do Cấp sự trung Hình khoa là Hàn Tiệm và Tư quan Hình bộ Tống Ẩm Băng đích thân đưa tận tay cho nô tì ở cửa Thần Vũ Môn, Nội các… vẫn chưa xem qua sớ này.”
“Tống… gì cơ?” Phụng Minh đế hỏi lại.
Dương Chiếu Nguyệt vội đáp: “Dạ, Tống Ẩm Băng, chính là người trước đây cùng đám quan Khoa Đạo xin xá miễn cho con gái Lưu thị, tờ sớ trên tay chủ tử chính là do hắn chắp bút.”
Phụng Minh đế “ồ” một tiếng: “Hắn đã đi lại được rồi sao?”
Dương Chiếu Nguyệt thưa: “Dạ phải.”
Phụng Minh đế thở dài: “Tuyết lớn thế này mà.”
Hứa Tụng Niên và Dương Chiếu Nguyệt cùng đưa mắt nhìn ra màn tuyết ngoài đình theo lời Phụng Minh đế. Giữa hơi tuyết và hơi lò, giọng nói của Phụng Minh đế nghe chừng rất sảng khoái: “Người này hiện đang ở đâu?”
Dương Chiếu Nguyệt thưa: “Đang cùng Hàn Tiệm dẫn đầu đám Cấp sự trung Lục khoa quỳ ngoài Thần Vũ Môn, xin bệ hạ truyền kiến.”
“Truyền vào.”
“Rõ.”
Phụng Minh đế đưa một bàn tay ấn lên cổ tay Hứa Tụng Niên, ông vội dùng sức nâng đỡ ngài đứng dậy. Ngài nhìn lần cuối cảnh tuyết ngoài đình, lại lướt qua đống canh nóng thịt tươi còn thừa trên bàn, bảo Hứa Tụng Niên: “Giam cầm bao nhiêu ngày qua, mỡ màng trong bụng ngươi chắc cũng cạn rồi chứ?”
Hứa Tụng Niên cúi đầu: “Nô tì đang đợi tội, sao dám nghĩ đến chuyện đó ạ.”
Phụng Minh đế hất cằm về phía mâm thịt: “Ngự thiện ban cho Triệu Hà Minh rồi, còn chỗ này ban cho ngươi. Trẫm tới Văn Uyên Các gặp bọn họ, ngươi không cần theo hầu, cứ đứng đây mà ăn cho hết chỗ này đi.”
“Nô tì tuân chỉ.”
“Ăn xong cũng không cần vội vã quay về nơi giam giữ, cứ ở đây mà đợi, trước khi lên đèn trẫm sẽ có chỉ dụ cho ngươi.”
Nói xong, Phụng Minh đế dẫn theo Dương Chiếu Nguyệt và Trần Kiến Vân bước xuống Phù Bích Đình. Khi đến bậc thềm cuối cùng, ngài dừng bước, ngoảnh đầu gọi: “Hứa Tụng Niên.”
Hứa Tụng Niên gần như bò lăn xuống cầu thang, phủ phục dưới chân Phụng Minh đế: “Nô tì có mặt.”
Phụng Minh đế nói: “Trẫm không bận tâm việc ngươi phung phí giấy ngự phê của trẫm. Dẫu sao trẫm cũng chỉ có một đôi mắt, một đôi tay, nhiều việc trẫm không nghĩ tới nhưng ngươi lại nghĩ tới mà làm thay trẫm cũng chẳng sao. Nhưng trẫm bận tâm việc ngươi lười biếng, đem chuyện riêng của trẫm giao vào tay kẻ khác.”
Ngài chậm rãi ngồi xổm xuống, nhìn vào gáy Hứa Tụng Niên: “Tờ giấy ngự phê đó đã lọt ra ngoài thế nào, Hứa Tụng Niên ngươi rốt cuộc đã tin lầm ai, ngươi đứng ở đây mà suy nghĩ cho kỹ. Đợi đến lúc nhận chỉ dụ của trẫm, trẫm muốn ngươi nói ra một cái tên, sau đó chính tay ngươi phải xử tử kẻ đó.”
Câu nói này khiến cả Dương Chiếu Nguyệt và Trần Kiến Vân đều mặt cắt không còn giọt máu.
Phụng Minh đế đứng dậy, ngoảnh lại nhìn hai người bọn họ, dõng dạc hỏi: “Sao thế?”
Hai người nào dám trả lời. Phụng Minh đế sải bước đi qua người Hứa Tụng Niên, vừa đi vừa nói: “Trẫm nói đùa thôi.”
Nói xong lại vẫy tay gọi hai người: “Theo trẫm tới Văn Uyên Các.”