Ba Mươi Năm Làm Phi

Chương 84



Đêm ấy gió mưa mịt mùng, dường như muốn trút sạch cái lạnh còn sót lại của cuối xuân. Trước khi ngủ, Hoàng đế ngậm trong miệng thứ cao thuốc đen do Chu Minh điều chế. Nửa bên mặt của ngài sưng còn cao hơn lúc trước. Ngài đứng trước gương soi hồi lâu, vẻ mặt do dự, ngắm nghía mãi một lúc mới chịu cho người vào hầu hạ rửa mặt súc miệng.

Ở bên ngoài, Hà Khánh và Lương An đều cho rằng đêm nay Hoàng đế sẽ ‘tiết hỏa’, nên từ sớm đã truyền người của Kính Sự Phòng tới chờ ở Dực Khôn Cung. Nào ngờ thái giám Kính Sự Phòng đứng ngóng dưới hành lang đến tận nửa đêm, mới thấy Trương Đắc Thông tự tay xách một chiếc đèn nhỏ đi ra, phất tay ra hiệu với hắn.

“Thế nào, răng của Vạn Tuế gia sưng đến mức ấy mà vẫn…”

“Muốn bị cắt lưỡi à?”

“Không dám, không dám.”

Nói xong hắn vội cúi đầu, liên thanh thưa: “Nô tài xin cáo lui…”

Lại một lần nữa bị đuổi đi trong bộ dạng xám xịt. Người của Kính Sự Phòng thật sự không hiểu nổi, chuyện phòng the của đế phi trong Tử Cấm Thành vốn là việc không thể hoàn toàn giấu kín trước sau mọi người. Ở các cung khác, họ đến làm việc đều rất thong dong, xử sự tự nhiên. Chỉ riêng tại Dực Khôn Cung thì lúc nào cũng cảm thấy gò bó, hết lần này đến lần khác vấp phải trở ngại, trong lòng sinh ra đủ điều kiêng dè.

Dẫu sao bọn họ cũng là thái giám. Phần lớn không hiểu rằng, t*nh d*c tuy là bản tính trời sinh, thứ khiến người ta khó mà nhẫn nhịn, nhưng một khi gặp được người mà mình trân trọng nâng niu, thì lại trở thành biết nhẫn, biết kính, từ đó mới có niềm vui.

Hoàng đế thích cái tầng ý thức mơ hồ của cô trong chuyện phòng the, không khinh bạc, cũng chẳng nịnh nọt. Dựa vào thân thể ấm áp của cô, nửa chân thành, nửa hoang đường mà tùy ý bộc bạch với ngài.

Nhưng tầng ý thức ấy, cũng giống như chính con người Vương Sơ Nguyệt, mong manh vô cùng. May mà sau mấy năm, tuy Hoàng đế không tự nhận ra, nhưng dần dần đã mò mẫm ra được cách để bảo vệ tầng ý thức ấy.

Còn việc ngài đã dò dẫm ra bằng cách nào, và từ khi nào dò dẫm ra được, thì lại là một chuyện vô cùng khó nói. Đêm đó, Vương Sơ Nguyệt nghe tiếng mưa rơi suốt cả một đêm. Thỉnh thoảng lại nghe Hoàng đế vì đau răng mà khẽ hít khí.

Ngài hẳn là bị Hạ Lâm chọc tức không nhẹ. Trên đường trở về, Vương Sơ Nguyệt còn đang nghĩ, phải làm thế nào mới có thể tạm thời giữ được Hạ Lâm dưới cơn thịnh nộ của ngài. Nhưng bây giờ xem ra, dường như cũng chẳng cần phải tính toán nữa.

Dưới ánh đèn nhỏ yếu ớt ngoài cửa, Hoàng đế nhắm mắt nằm yên bên cạnh cô. Hôm nay tay chân của ngài quy củ hơn bất cứ khi nào, một chút t*nh d*c cũng không chịu vương lên người cô.

Vương Sơ Nguyệt biết Hoàng đế đau răng thì không thể ngủ được. Nhưng suốt cả một đêm, ngài cũng không hề động đậy, vẫn giữ tư thế nằm ngửa thẳng thớm, cứng rắn cùng cô chịu đựng cho đến tận khi trời sáng.

Canh tư, mưa tạnh.

Những giọt mưa lẻ loi từ trên cây rơi xuống, tí tách vào vũng nước dưới hành lang. Con hoàng oanh vàng trong tán lá, sau khi nhuận cổ họng suốt cả đêm, cuối cùng cũng cất tiếng hót vang, tiếng kêu lanh lảnh miễn cưỡng xua tan cơn mệt mỏi của hai người.

Hoàng đế mặc triều phục chỉnh tề, đi đến Càn Thanh Môn nghe triều.

Ngày hôm đó ngự môn thính chính, Công bộ tâu báo việc công trình trị thủy sông Vĩnh Định đã hoàn thành, ngôi chùa Huệ Tế trên núi Thạch Cảnh Sơn ở thượng nguồn cũng đã bắt đầu khởi công. Hoàng đế nghe xong vô cùng vui mừng, cơn bực bội do Hạ Lâm nghẹn lại trong ngực trước đó cũng tan đi, ngay cả cơn đau răng cũng tạm thời bị ép xuống.

Sông Vĩnh Định vốn là con sông lớn nhất của kinh thành. Người đời tin rằng vạn vật trong tự nhiên đều có linh. Các bậc đế vương tiền triều vốn có tục ‘phong thiện’, phong tước cho những vật trong thiên nhiên như danh sơn, đại hà, cây cối… Có thứ được phong quan, có thứ được phong thần.

Khi còn là thân vương, Hoàng đế từng nhiều lần thay tiên đế tuần tra công trình trị thủy sông Vĩnh Định. Thậm chí để xác nhận công trình, giữa ngày đại hàn còn giẫm lên những mảnh băng vụn mà lội xuống sông. Đó là những trải nghiệm vững vàng của Hoàng đế thời niên thiếu.

Cũng là sự công nhận của triều đình Đại Thanh đối với ngài trong một giai đoạn nào đó. Vì vậy sau khi đăng cơ, việc trị thủy sông Vĩnh Định vẫn luôn khiến Hoàng đế đặc biệt lưu tâm.

Nhưng con sông này năm nào cũng chẳng yên ổn. Dẫu cho dân chúng sinh sống bao đời ở kinh thành gọi nó là “mẫu thân hà”, cũng vẫn không át nổi một cái tên hồ đồ khác của nó, Hồn Hà.

Khi tiên đế còn tại vị, có một năm vào tháng bảy, do mưa lớn liên tiếp nhiều ngày, sông Vĩnh Định đánh vỡ đê lớn gần cầu Lư Câu, nước theo hào thành tràn thẳng vào các cửa Chính Dương, Sùng Văn, Tuyên Vũ, Tề Hóa (nay là Triều Dương Môn). Khu vực Tuyên Vũ Môn nước sâu đến năm thước, lũ dâng tràn qua hào thành, cuốn trôi cầu cống, tiếng nước vang như sấm, thế nước ào ạt như thác đổ.

Quanh các cửa thành Tuyên Vũ, Triều Dương, rất nhiều thi thể người chết đuối ngoài thành theo dòng nước trôi vào trong. Đường phố ngập nước, quan viên không thể cưỡi ngựa, có người phải ngồi trên những chiếc chậu gỗ lớn mà chèo đi vào triều. Còn phía hạ lưu cầu Lư Câu như Trường Tân đ**m, Lương Hương, cũng đều bị nước lũ nhấn chìm. Hơn hai mươi ngày sau nước mới rút.

Vương Sơ Nguyệt từng nghe Hoàng đế nhắc đến chuyện ấy: năm đó tiên đế đích thân lên Ngọ Môn thị sát tình hình thiên tai, mở quốc khố để cứu tế dân bị nạn.

Còn chính Hoàng đế khi ấy thì gần như lăn lộn trong bùn lầy nước đục suốt hơn một tháng. Năm đó ngài mười sáu tuổi, rất nhiều tâm tính còn chưa kịp nảy nở, cứ như vậy mang theo bản tính chân thật và lòng thương xót mà trực diện với cảnh tượng thảm khốc của thủy tai. Chính điều ấy khiến ngài hạ quyết tâm phải trừ tận gốc họa lũ của sông Vĩnh Định.

Hơn mười năm tiếp theo, Hoàng đế cùng các đại thần Công bộ nhiều lần “đấu phép” với con sông này. Đoạn đê từ phía nam Thạch Cảnh Sơn đến cầu Lư Câu có thể nói là tu sửa rồi lại vỡ, vỡ rồi lại sửa. Chỉ riêng việc xây dựng hai bờ đê ấy, triều đình đã chém đầu tới hai vị Tuần phủ Trực Lệ. Cuối cùng vào đầu mùa hạ năm nay, “Vĩnh Định Đại Đê” mới hoàn thành.

Công bộ dâng tấu báo việc này, Hoàng đế vô cùng vui mừng, dự định đích thân đi tuần tra công trình đại đê. Vương Thụ Văn và Trình Anh đều mong Hoàng đế xuất cung.

Thập Nhất đang quỳ giữ tang ở Ninh Thọ Cung, còn Vương Sơ Nguyệt thì tự cấm túc mình. Trong cung bắt đầu xử trí những người tung ra lời đồn khó nghe, nhưng cũng chỉ miễn cưỡng giữ được vẻ bình lặng bên ngoài. Hoàng đế lần này rời cung, chuyện tiền triều ra sao tạm chưa nói, nhưng người trong hậu cung hẳn cũng sẽ bớt sinh chuyện, dần dần nguội lòng đi. Như vậy cuộc sống của con gái ông cũng không đến nỗi quá khó khăn.

Nhưng trong lòng ông vẫn vô cùng lo lắng.

Con gái ông vốn nặng tình. Chuyện tuyết rơi trước Càn Thanh Cung hôm ấy vẫn còn rõ mồn một. Ngay cả ông cũng không dám chắc, Vương Sơ Nguyệt có còn bất chấp ân sủng và địa vị hiện tại, mà dấn thân vào vũng nước đục của vị vương gia hồ đồ kia hay không.

Dấn vào thì cũng đành. Điều đáng sợ là Vương Thụ Văn tuyệt đối không tin rằng đàn ông nhà Ái Tân Giác La có thể dung được lương tâm của con gái ông. Càng không tin trái tim u mê tái nhợt của Thập Nhất có thể hiểu được tấm lòng thiện ý hiếm hoi ấy của con gái ông.

Rốt cuộc cũng chỉ là bị phụ bạc mà thôi. Càng nghĩ ông càng tuyệt vọng. Dù sao hôm đó tại Dưỡng Tâm Điện, cảnh tượng Thập Nhất và Hoàng đế giương cung bạt kiếm đối đầu, ông đã nhìn thấy rõ ràng từng chút một.

Mười đầu ngón tay của Thập Nhất từng bị tạt (*), tuy nhiều năm đã lành, nhưng vẫn khiến người nhìn kinh hãi. Y mặc một thân áo bào xanh thẫm không thật sự hợp với thân hình hiện tại của mình. Toàn thân gầy đến mức chỉ còn lại bộ xương. Vậy mà khi diện kiến quân vương vẫn không quỳ, còn buông lời phạm thượng.

(*) Tạt: tức dùng hình cụ ép gãy ngón tay

Khiến Vương Thụ Văn lúc ấy sợ đến mức lo Hoàng đế chỉ cần không kìm được một chút thôi, sẽ lập tức sai Đồ Thiện chém đầu y. Thế nhưng Hoàng đế chỉ ngồi sau án gỗ, gương mặt âm trầm, một lời cũng không nói. Sau khi nghe Vương Thụ Văn kể lại chuyện này, Trình Anh im lặng suốt nửa chén trà, rồi mới nói: “Thập Nhất gia vẫn là Thập Nhất gia của ngày trước. Còn Vạn Tuế gia… thì thay đổi không ít.”

Lúc nói câu ấy, hai người vừa xuống kiệu ở Đông Hoa Môn, cùng nhau đi về phía Càn Thanh Môn.

Hôm ấy gió khá lớn, thổi bay những sợi tơ liễu còn sót lại của mùa xuân, khiến mắt người ta hơi cay.

Trình Anh dụi dụi mắt, thấy phía trước có hai người đang chậm rãi bước đi. Một người thân hình hơi béo, một người gầy trơ xương, nhìn qua đã thấy dáng dấp của hạng học giả bụng đầy thơ sách, thịt thà trên người đều bị sách vở bào mòn.

Vương Thụ Văn dừng bước, Trình Anh cũng theo đó mà dừng lại.

“Sao không đi nữa?”

“Để Thuần Thân Vương và vị tiên sinh của ngài ấy đi trước.”

Trình Anh ngẩng đầu nhìn về phía trước, vô thức khoanh tay lại.

“Hai người này nhìn… sao mà tiêu điều quá.”

Vương Thụ Văn khẽ cười.

“Không tiêu điều sao được? Trước đó chính là Trương Hiếu Nho dâng tấu xin Hoàng thượng thực hành ‘Chu Tử bát đức’, đặc xá cho Thập Nhất gia hồi cung chịu tang. Vì việc này, lão Trương suýt nữa đã mất mũ quan, phải cáo lão hồi hương. Ông ta và Thuần Thân Vương hẳn đã chờ đợi cuộc đối đầu giữa Hoàng đế và Thập Nhất gia này rất lâu rồi.”

Trình Anh bật cười một tiếng: “Kết quả lại không như ý họ.”

Nói rồi ông chép miệng một cái, tiếp lời:

“Nếu Thập Nhất gia quay về kinh chọc giận thiên uy, ép Hoàng thượng thật sự phải giết y trong thời gian tang của Thái phi, thì có lẽ đám Bạch Mạo Vương gia trong tông thất Mãn Thanh (ý chỉ những nghị chính vương sau khi Hội nghị Nghị chính Vương Đại Thần dần suy tàn, mất thực quyền; tư liệu lịch sử có thể tham khảo chính sách tập trung quyền lực trung ương của Ung Chính) cũng có thể theo Thuần Thân Vương mà náo loạn một phen.

Vương Thụ Văn lại cất bước đi tiếp.

“Sau khi Cung Thân Vương từ chức, rời khỏi Hội nghị Nghị chính Vương, người còn có thể nói được vài lời trước mặt Hoàng thượng chỉ còn lại Thập Nhị gia. Hội nghị Nghị chính Vương… giờ đây ngay cả Khoa đạo hội cũng không vượt qua nổi, chỉ còn cái danh mà chẳng còn thực quyền. Trương Hiếu Nho cả đời vì người đệ tử đã ngồi trên ngôi Thái tử hơn mười năm kia mà dốc cạn tâm huyết suốt bao năm, đến nay ngay cả tông thất Mãn nhân cũng đem ra tính toán, rốt cuộc vẫn công cốc. Nếu bảo tôi dùng một câu để phê bình, thì vẫn là ba chữ.”

Trình Anh hỏi: “Ba chữ nào?”

“Không nhìn thấu.”

Trình Anh bật cười, đưa tay chỉnh lại đỉnh mũ quan trên đầu.

“Vương lão à, ông cũng thật cay độc. Bây giờ phụ tử nhà họ Vương các ông đã trở thành bậc cổn cổn chi thần, ở bên giường rồng, chẳng lẽ ngay cả chỗ trải chiếu cho lão Trương Trạng nguyên cũng không chừa lại sao?”

Vương Thụ Văn liếc nhìn Trình Anh một cái, bình thản nói: “Sao ông biết, ông ta không phải là cầu nhân đắc nhân?”

“Ý ông là sao…”

“Trương Hiếu Nho đi con đường làm quan khác với chúng ta. Ông với tôi cầu quan vị danh tiếng. Còn Trương Hiếu Nho ấy à, có lẽ dốc trọn đời mình, chỉ muốn làm một cô thần cố chấp đến cùng.”

Trình Anh sững lại.

Gió trên đường canh tư thổi thẳng vào mặt, mạnh đến nỗi chuỗi triều châu trên ngực ông cũng bị thổi rung lên lách cách. Ông vội đưa tay giữ lại, ngẩng đầu nhìn hai người phía trước, gần như bị gió thổi đến cong cả lưng.

“Cô thần… sao tôi nghe từ này thấy quen quen.”

Vương Thụ Văn nói: “Hiện nay Hoàng thượng, cũng là cô thần của tiền triều.”

Nói xong, ông kéo lê đôi chân già vì hàn thấp, lững thững bước lên phía trước trong gió.

Trình Anh còn đứng ngây ra giữa cơn gió lạnh, hồi lâu mới vội vàng đuổi theo, vừa chạy vừa lầm bầm một câu: “Cái lão già mắt độc địa.”



Hoàng đế rời cung đi tuần tra sông Vĩnh Định, tạm dừng chân tại Thạch Cảnh Sơn. Trong cung vốn phần lớn mọi việc đều xoay quanh Hoàng đế. Nay ngài vừa đi, Nội vụ phủ cùng Kính Sự Phòng đều rảnh rỗi hẳn. Đến giữa tháng, trong kinh thành lại xảy ra một chuyện không lớn cũng không nhỏ.

Đích phúc tấn trước kia của Hạ Lâm, Phú Sát thị phát điên chạy ra ngoài, điên cuồng xông vào nghi trượng của Hoàng đế, suýt nữa bị thị vệ chém đầu ngay tại chỗ. Sau đó lại dùng những lời điên dại mà vu vấy Vương Sơ Nguyệt.

Chuyện này nhìn qua tưởng như rất lớn, nhưng chỉ trong chớp mắt đã bị ép xuống. Trong dân gian thậm chí không dấy lên nổi một gợn sóng.

Hoàng đế căn bản không rảnh để ý việc ấy. Khi đó thậm chí ngài còn không cho nghi trượng dừng lại, chỉ truyền một câu: không cho Tam Ty nhúng tay, trực tiếp ném người vào Ngũ Thành Đốc Sát Viện. Khi người đã đến sông Vĩnh Định rồi, ngài mới truyền về một câu, cứ tại Đốc Sát Viện mà định tội, không cần chuyển sang nơi khác.

Câu nói ấy vô cùng lạnh lùng. Ý tứ bên trong rõ ràng là đem nàng, cháu ngoại của Lễ Thân Vương, con gái đích xuất của Trấn Quốc Công xử trí như dân thường.

Các quan chủ sự trong Đô Sát Viện đều là người trẻ tuổi, không dính dáng gì đến tông thất Bát Kỳ. Lời của Hoàng đế lại nói rõ ràng như vậy, bọn họ nào dám chậm trễ. Mắt thấy đã sắp định tội kiêu thủ (*).

(*) Kiêu thủ: chém đầu rồi treo lên bêu

Lễ Thân Vương chẳng còn tâm trí giữ thể diện bậc trưởng bối nữa, vì mạng sống của đứa cháu ngoại này mà đích thân chạy tới Thạch Cảnh Sơn. Còn Trấn Quốc Công thì tìm đến Thập Nhị gia.

Hôm ấy Thập Nhị đang ở nha môn Nội vụ phủ nghe bẩm báo. Nghe đến đoạn sau, lông mày hắn đã nhíu chặt lại.

“Dừng dừng, ngươi ra khỏi Nội hoàng thành, đến phủ Vương đại nhân một chuyến, nói rằng bản vương mời ông ấy tới đây, có việc cần bàn.”

Quan chủ sự thưa: “Vương gia, ngài quên rồi sao? Vương lão đại nhân đã theo Vạn Tuế gia xuất cung đi tuần tra đê sông rồi.”

Thập Nhị vỗ trán một cái. “Chậc, trí nhớ của bản vương thật tệ.”

Quan kia lại hỏi: “Vậy… phủ Lễ Thân Vương và phủ Trấn Quốc Công bên kia, chúng ta nên trả lời thế nào?”

Thập Nhị xoa xoa trán.

“Trả lời cái gì? Chúng ta dám trả lời cái gì? Con đàn bà điên không biết sống chết này…”

Hắn từ nhỏ lớn lên bên cạnh Hoàng đế, chịu ảnh hưởng tính tình của huynh trưởng, tu dưỡng vốn rất tốt. Lúc này nhất thời không nhịn được, suýt nữa buột miệng nói ra lời khó nghe.

“Ngươi quay lại đây. Chuyện này nhất định, nhất định phải giấu cho bằng được Thập Nhất gia ở Ninh Thọ Cung. Nếu không… e là sẽ xảy ra đại họa.”

Nói xong hắn lại vỗ trán.

“Thôi, bản vương tự mình vào cung một chuyến. Người của phủ Trấn Quốc Công mà đến, cứ nói Ninh Thọ Cung có việc, bản vương vào cung xử lý rồi.”

Vị quan kia nói: “Gia à, Ninh Thọ Cung ra vào toàn là các vị cáo mệnh phu nhân, vương phi bên ngoài. Không nói người khác, riêng phúc tấn của Cung Thân Vương thôi, e cũng không nghe lời ngài đâu.”

Thập Nhị vừa chỉnh lại y phục vừa đi ra ngoài.

“Không giấu được cũng phải giấu. Giờ này phúc tấn của Cung Thân Vương đã xuất cung chưa?”

“Canh giờ này chắc là chưa. Cung Thân Vương hẳn đang ở Đắc Thắng Môn kiểm tra việc diễn luyện khiêng đòn (*).” 

(*) Diễn luyện khiêng đòn: tức kiểm tra quân binh, diễn luyện đội ngũ vũ trang

Thập Nhị đáp một tiếng: “Được. Bản vương đi tìm ông ấy.”