Đại Lão Phân Thần

Chương 184



Ở đạo môn trung, Chung Ly Quyền, Lữ Động Tân hai vị tổ sư, bị tôn sùng là Toàn Chân ( đan đỉnh ) phái người sáng lập.

Nên phái nhất cụ đại biểu tính kinh điển, đương số đề danh vì Chung Ly Quyền thuật, Lữ Động Tân tập 《 chung Lữ truyền đạo tập 》, cùng với Chung Ly Quyền, Lữ Động Tân truyền 《 linh bảo tất pháp 》.

Hiểu biết này hai bộ làm người đều biết, hai người là tác phẩm hai tập; dùng hiện đại thuật ngữ tới nói, người trước chủ yếu là trình bày công lý bộ phận, người sau tắc càng có rất nhiều tự thuật công pháp.

Chúng nó hấp thu nho, thích tư tưởng, hệ thống mà trình bày đan đạo toàn bộ quá trình lý luận cùng phương pháp, đặt Đan Đỉnh Phái lý luận cơ sở.

Chung Lữ phái nội đan tu luyện đem nhập thánh siêu phàm phương pháp tu luyện, xưng là “Tam thừa phương pháp”, tức: Tu “Người tiên” tiểu thừa phương pháp, tu “Địa Tiên” trung thừa phương pháp, tu “Thiên tiên” Đại Thừa phương pháp.

Đương đại học giả Lý đại hoa giáo thụ từng đối này “Tam thừa phương pháp” làm quá giản yếu quy nạp cùng phân tích, như sau:

Tiểu thừa công pháp thành tựu người tiên. Này pháp có bốn môn:

1. “Xứng đôi âm dương”. Lấy tâm so thiên, lấy thận so mà, thiên dương mà âm, lòng dạ vì dương, thận thủy vì âm. Tu cầm đương nhiều hút thiên địa chi chính khí lấy nhập, thiếu hô chính mình nguyên khí lấy ra, sử trong ngoài chi khí phối hợp, tích khí sinh dịch, dịch nhiều mà sinh khí, khí dịch tương sinh, âm dương xứng đôi.

2. “Tụ thềm ngăn nước hỏa”. Lấy ngày năm gần đây, lấy một ngày khí chi tụ tán so một năm tiết xuân hạ thu đông. Mặt trời mọc hợp cấn quẻ, này khí hơi, đương khoác áo tĩnh tọa, tuyệt niệm vong tình, hơi làm dẫn đường, lấy dưỡng nguyên khí; ngày nhập hợp càn quẻ, này khí tán, đương vào nhà tĩnh tọa, tắt thở súc ngoại thận, lòng dạ, thận khí, ngoại thận khí ba pha hợp mà làm một, lấy tụ nguyên khí.

Vô dịch tụ khí sinh dịch, có dịch tắc luyện dịch sinh khí —— tụ hỏa; lâm triều nuốt tân ma mặt, thủ túc đệ tương duỗi khuất —— tán hỏa ( lại danh tiểu luyện hình ).

3. “Giao cấu long hổ”. Lấy tử ngọ là lúc so đông hạ chi tiết, giờ Tý hợp khảm quẻ, thận trong nước khí sinh; buổi trưa hợp ly quẻ, lòng dạ trung dịch sinh. Thận thủy sinh khí tắc khí trung có thật thủy, dương trung tàng âm; lòng dạ sinh dịch tắc dịch trung có chân khí, nãi âm trung tàng dương.

Kinh “Hoàng bà” ( tì trung thật dịch ) môi giới tác dụng, khiến cho tâm thận tương giao, do đó nước lửa đã tế, long ( chân khí ) hổ ( thật thủy ) giao cấu. Nếu trừu thêm hợp, hỏa hậu vô kém, 300 ngày dưỡng liền thật thai thành đại dược ( “Hoàng mầm” ), đây là “Luyện chất đốt người, triều nguyên siêu thoát chi vốn cũng”.

4. “Thiêu luyện đan dược”. Ly quẻ long hổ giao cấu vì “Hái thuốc”, càn quẻ “Lặc dương quan” ( hiếp bụng ) tiến hỏa vì “Thiêu luyện”. Tiến hỏa tắc có “Hỏa hậu”, hỏa hậu thêm đến tiểu chu thiên số vì “Tiểu chu thiên”, thêm đến đại chu thiên số vì “Hỏa hậu chu thiên”.

Đương tuyệt tích u cư, tâm tồn nội xem, nội cảnh không ra, ngoại cảnh không vào, đó là dụng tâm thể nghiệm và quan sát khí ở trong cơ thể lên xuống lưu chuyển, không thể tạm ly với nói.

Trung thừa công pháp thành tựu Địa Tiên. Này pháp chia làm tam môn:

1. “Khuỷu tay sau phi kim tinh”. Lại rằng “Trừu chì”, sử thận trung khí sinh bệnh can khí. Cần năm trung chọn nguyệt ( đông chí chi tiết ), giữa tháng chọn ngày ( giáp ngày ), buổi trưa chọn khi ( giờ Tý ), này tam khi hợp khảm quẻ, tự khảm quẻ thủy, hành cầm đến cấn quẻ, thận khí giao bệnh can khí, đến tốn quẻ tu ngăn.

Này quá trình ở tiểu thừa công pháp cơ sở thượng tiến hành, tức trải qua hái thuốc ( hạ điền phản trung điền ), thiêu dược tiến hỏa ( trung điền phản hạ điền ), rồi sau đó khuỷu tay sau phi kim tinh nhập não ( hạ điền phản thượng điền ), đó là sử thuần dương chi chân khí đâm quá tam quan, tiến vào bi đất. Cố lại xưng là “Tam nguyên cách dùng”, hoặc “Sau thăng”.

2. “Ngọc dịch hoàn đan”. Thận dịch bay lên với tâm, cùng lòng dạ tương hợp mà qua trọng lâu, thành ngọc trì chi tân. Nuốt chi, tự trung điền mà nhập hạ điền, là vì hoàn đan, lại xưng “Trước nuốt”. Nếu tự trung điền mà nhập tứ chi vì luyện hình, lại xưng “Sậu mã nổi lửa, ngao du vũ trụ”. Này công pháp ở phía trước thải bổ ( hái thuốc trám xi-măng hoàn ) cơ sở thượng tiến hành, tức chờ dược toàn thai kiên thai viên lúc sau, đi thêm “Hoàn đan luyện hình”.

3. “Kim dịch hoàn đan”. Trước khởi hành ngọc dịch luyện hình, mới xuất hiện hành phi kim tinh nhập não, tự thượng phục giảm xuống mà nhập hạ điền, nãi vì kim dịch hoàn đan, lại xưng “Sau nuốt”. Hoàn đan lúc sau phục khởi như trước, từ dưới lên trên, biến mãn tứ chi, xưng kim dịch luyện hình.

Đại Thừa công pháp thành tựu thiên tiên. Này pháp chia làm tam môn:

1. “Triều nguyên Luyện Khí”. Mộc hỏa kim thủy thổ ngũ hành chi khí sinh với thổ, gan tim phổi thận tì ngũ tạng chi khí bắt đầu từ tì, luyện ngũ hành ngũ tạng dị khí lấy ch·ế·t nguyên, sử âm trung chi dương, dương trung chi âm, âm dương trung chi dương toàn “Thượng triều nội viện, tâm thần thông với Thiên cung”.

Này quá trình tên gọi tắt “Năm khí triều nguyên”, “Tam dương tụ đỉnh”, thật tức Luyện Khí lấy thành thần. Bởi vì là từ chúng về một, cố lấy “Định tức” vì muốn, tức diệt tâm tức lự, trong ngoài ngưng tịch, không lấy một vật giới này ý.

2. “Nội xem trao đổi”. Lấy khí nỗi nhớ nhà, lấy tâm vận khí, nội xem không ngoài cứu, xem thần không thấy hình, rồi sau đó khí cùng thần thủ, hình thần đã chuẩn bị.

3. “Siêu thoát phân hình”. Này pháp “Cần là trước công kế tiếp thấy nghiệm đang lúc”, chọn u cư, một y nội xem tĩnh tọa, thần nhập khí thai, khí Toàn Chân tính, hình thần đều diệu, dời thần nhập thánh. Tới rồi cái này trình tự, tắc có thể nói huyền hồ này huyền. Bất quá chung Lữ cũng chỉ ra: “Phàm hành này pháp, cổ kim ít có thành giả.”