Điềm Linh Chưa Tỏ - Như Sự Sinh

Chương 2



Chương 2: Dâng tiên cốt

Ngay trước hiên quán rượu Xà Bếp, có tên điên nọ nói muốn dùng tiên cốt đổi lấy rượu.

Nhìn kỹ lại, gã nửa tỉnh nửa điên ấy lại là một kẻ ăn mày tàn phế cả tay chân. Tay trái hắn chống gậy, cổ chân phải quấn chặt mấy sợi lạt tre mỏng, cứ mỗi bước đi lại run lên bần bật. Hắn nhọc nhằn bước qua ngạch cửa, đi đến trước quầy, nói muốn rút gân rút cốt, chỉ để đổi lấy một bầu rượu hoa đào mới cất đầu xuân.

Tên chạy bàn nghe thế bèn cười nhạo: “Ba năm trước có vị Đào Hoa kiếm khách mang theo thanh bảo kiếm đệ nhất thế gian đến đây, chỉ để đổi lấy một khúc Trường Phong của kỹ nữ Liễu Yêu Yêu. Ngươi có là kẻ ăn mày muốn bắt chước người ta thì ít nhất cũng phải rửa ráy bản thân cho sạch sẽ đi đã chứ.”

Gã ăn mày nghe vậy lại cười lớn, bảo: “Kiếm có tốt đến mấy cũng chỉ là vật phàm tục, còn tiên cốt của ta là hàng thật giá thật.” Nói xong, hắn tháo những vòng băng vải quấn chặt quanh cổ tay, để lộ ra vết xương máu đáng sợ ẩn dưới lớp da thịt thối rữa và lở loét. Khách khứa xung quanh tất thảy đều lùi xa mấy thước. Tên chạy bàn cứ ngỡ hắn đến phá quán, đang định nổi trận lôi đình thì chợt thấy cổ tay máu chảy đầm đìa kia tự tỏa ra một luồng linh khí dạt dào. Bên dưới lớp máu thịt chẳng thể lành lặn ấy là cốt tủy đạo gia ngập tràn tiên khí. Giữa chốn bùn nhơ nhung nhúc ma quỷ này, nó chẳng khác nào là món ngon mỹ vị lôi cuốn mọi ánh nhìn.

Nhắc đến đường Nê Hạ này, không thể không kể tới thanh kiếm Trảm Tuyết diệt yêu trừ ma của vị tiên quân núi Doanh Đài.

Trăm năm trước, thế gian yêu ma quỷ quái hoành hành bá đạo, hai giới tiên quỷ giao tranh kịch liệt đến mức không thể phân định thắng thua. Tiên giới ngự trị trên chín tầng mây, quỷ giới xưng hùng nơi mười điện phủ. Thuở ấy, kẻ đứng đầu Quỷ giới là một vị Quỷ đạo trưởng, chỉ bằng một sợi xích khóa hồn đã dám xông thẳng lên thiên đình, giết chóc vô tội vạ, làm kinh động đến vị tiên quân mang sát khí ngút trời quanh năm ẩn dật trên núi Doanh Đài.

Tiêu Vô Âm đã đích thân rời núi, tay cầm cây phất trần sợi bạc giao đấu với tên Quỷ đạo trưởng. Nhưng đấu chỉ mới được vài khắc, vị tiên quân núi Doanh Đài đã không thể chịu nổi mùi hôi tanh dơ bẩn trên người lũ yêu ma quỷ quái, y bèn mất kiên nhẫn tuốt thanh kiếm Trảm Tuyết ra. Đường kiếm mang theo luồng sáng lẫm liệt như sấm sét từ chín tầng trời giáng xuống, quét sạch mười điện phủ, nghiền nát mười phủ quỷ thành tro bụi đất bùn. Vết kiếm chém sâu tới ngàn thước, hào quang của kiếm khí đến nay vẫn chưa hề tan biến. Hàng vạn con cháu nhà quỷ cũng từ đó bị giam hãm nơi đáy vực sâu của vết kiếm mang tên “đường Nê Hạ” này, suốt trăm năm qua không thể nào thoát ra được.

Vết chém của Trảm Tuyết găm sâu vào hồn phách và cốt tủy chúng như dòi bám trong xương, khắc lên vong hồn của đám ác quỷ ấy một dấu ấn thiên phạt, khiến chúng dù có luân hồi chuyển kiếp vẫn mãi là yêu quỷ, đời đời kiếp kiếp bị khóa chặt trong lòng đường Nê Hạ chật hẹp tối tăm này, vĩnh viễn không có ngày ngẩng đầu.

Thế nhưng, muốn phá giải lời nguyền kiếm Trảm Tuyết này cũng không phải là hoàn toàn không có cách.

Nợ tiên phải trả bằng cốt tiên. Muốn chữa lành vết thương do kiếm Trảm Tuyết gây ra, cần phải dùng trọn vẹn bộ tiên cốt của một vị tiên nhân bình thường để từ từ luyện hóa, bào mòn đi vết nguyền. Mà tiên cốt nói thì dễ, có được mới khó. Trừ phi có thiên phú dị bẩm, bằng không dù có cần cù khắc khổ đến mấy cũng phải mất tới hàng ngàn hàng vạn năm mới tích tụ được. Một khi vị thần tiên nào bị rút đi toàn bộ tiên cốt, từ đó sẽ chẳng khác gì người phàm, dù có lên được chín tầng mây thì vẫn phải chịu cảnh sinh lão bệnh tử, không thuốc nào có thể cứu chữa.

Ngửi thấy mùi máu tanh nồng đượm linh khí dạt dào, lũ quỷ quái trong quán rượu lập tức nhốn nháo cả lên. Đám ô hợp này hiếm có kẻ nào mà hồn phách không mang theo vết thương của năm xưa.

Tên ăn mày lại thong thả tựa vào quầy rượu, khóe môi một bên nhếch lên, bàn tay lành lặn còn lại cầm lấy một chén rượu nhỏ, ném ra trước mặt tên chạy bàn: “Vụ làm ăn này lời chứ? Ngài có nhận không?”

Sắc mặt tên chạy bàn thay đổi liên tục, đôi mắt găm chặt vào tên ăn mày trẻ tuổi trước mặt hồi lâu, chợt bừng tỉnh: “Ngươi… ngươi… ngươi là Tạ…”

“Suỵt.” Tạ Linh Trưng dựng thẳng một ngón tay đặt lên môi, “Nhỏ giọng chút, kẻo đánh động đến sư tôn ta.”

“Sao ngươi lại ở chỗ này?” Tên chạy bàn hạ thấp giọng, “Chẳng phải người ta bảo ngươi đã bị Tiêu… bị vị kia phế bỏ rồi sao?”

Tạ Linh Trưng mỉm cười: “Ngươi nhìn ta thế này còn chưa đủ phế sao?”

Tên chạy bàn tỉ mỉ quan sát hắn. Vị Đào hoa kiếm khách này trước kia vốn là khách quen của đường Nê Hạ, cũng chẳng biết hắn nghĩ gì mà một vị tiên nhân phong lưu danh tiếng lẫy lừng như hắn lại cực kỳ thân thiện với lũ tà ma ngoại đạo. Thuở mới đến, lũ quỷ trên đường Nê Hạ vì e sợ cái danh đại đệ tử núi Doanh Đài của hắn nên chẳng ai dám nhìn thẳng. Nhưng qua vài lần lui tới, chúng liền nhận ra hắn không có chút gì giống với sư tôn mình. Tạ Linh Trưng thích cười, ưa náo nhiệt, không ngại bẩn cũng chẳng sợ hôi. Hắn còn đặc biệt thích khoác vai bá cổ một đám ma đầu già nua cùng tiểu yêu quái, dắt nhau vào thanh lâu sòng bạc. Khi thì uống trà nghe khúc, lúc thì thưởng thức rượu ngon. Đôi mắt đào hoa của hắn lúc nào cũng sáng ngời và đầy linh động. Khắp thiên đình này khó lòng tìm ra được vị thần tiên thứ hai sống động và phóng khoáng đến thế.

Chỉ là lúc này đây, kẻ đang khòm lưng đứng trước quầy rượu lại là một gã ăn mày đầu tóc rối bù, máu me đầm đìa, đi đứng khập khiễng. Nào còn chút dáng vẻ tự tại tiêu dao năm nào? Có chăng chỉ còn đôi mắt vẫn le lói chút ánh sáng, trong con ngươi đen thẳm ấy vẫn nhen nhóm một chút hơi thở nhân gian.

“Ngươi… ngươi trốn ra được rồi sao?” Tên chạy bàn ngượng ngập hỏi, “Thật sự muốn bán tiên cốt sao?”

“Bán thật chứ.” Tạ Linh Trưng nói, “Ta nghe nói Bá Hồ Công thích rượu, yêu mèo hoang, chí hướng vô cùng hợp với ta, nên lập tức muốn đi tìm ngài ấy uống cạn vài bầu. Chỉ là trước đây vướng bận mệnh lệnh của sư tôn nên không dám kết giao, lúc này vừa hay có được cơ hội này. Lại nghe bảo ái nữ của ngài ấy bị thương do kiếm khí từ lúc còn trong bụng mẹ, trăm năm qua tìm kiếm tiên cốt khắp nơi mà chẳng được. Ta nếu không bán, vừa mất một bầu rượu ngon lại thiếu đi một người tri kỷ, thế thì lỗ to rồi.”

Tên chạy bàn trợn tròn mắt: “Thật là hết nói nổi ngươi luôn rồi Tạ Linh Trưng ạ. Ta nói chứ, sư tôn ngươi đã ra tay tàn nhẫn trừng phạt ngươi biết bao nhiêu lần rồi mà ngươi vẫn cứ cắm đầu chạy đến đây. Lần này hắn ta trực tiếp phế bỏ ngươi luôn rồi, thế mà ngươi vẫn chứng nào tật nấy, còn dám tùy tiện bán tiên cốt cho quỷ tướng nữa. Lần tới nếu lại bị hắn ta bắt gặp, có khi cả đường Nê Hạ này cũng bị hắn ta chém cho tan tành mất.”

“Người sẽ không làm thế đâu.” Tạ Linh Trưng bỗng thu lại nụ cười, giọng nói nhạt nhòa, “Đã trục xuất ta khỏi sư môn, Người sẽ không quản giáo ta nữa.”

“Thế thì có gì không tốt chứ. Hắn ta chỉ giỏi trói buộc ngươi thôi.” Tên chạy bàn tỏ vẻ khinh bỉ, rồi bất ngờ xua tay với đám yêu ma quỷ quái xung quanh, “Giải tán, giải tán hết đi! Vụ làm ăn này lão gia nhà ta bao trọn rồi, không đến lượt mấy đứa nhãi ranh nhà các ngươi đâu.”

Lời vừa thốt ra, đám quỷ quái vốn đang ầm ĩ lập tức im bặt. Quán rượu Xà Bếp này là địa bàn của Bá Hồ Công. Năm xưa khi tiên quỷ giao tranh, Bá Hồ Công là vị quỷ tướng duy nhất sống sót dưới lưỡi kiếm của Tiêu Vô Âm. Khi kiếm khí giáng xuống, trùng hợp ngay lúc thê tử ông đang lâm bồn. Người đàn bà tội nghiệp ấy chết ngay tại chỗ, sinh hạ một đứa con gái cũng bị kiếm khí làm cho tổn thương sâu sắc, tính mạng ngàn cân treo sợi tóc. Về sau, dù Bá Hồ Công có dốc hết gia sản để duy trì mạng sống cho con cũng chỉ giữ lại được một hơi thở thoi thóp. Nghe đồn đứa trẻ kia trăm năm qua vóc dáng chưa đầy ba thước, mỗi lần tỉnh táo không quá ba ngày, tình trạng lại ngày một xấu đi, e là chẳng còn sống được bao lâu nữa. Đám yêu ma quỷ quái ở đường Nê Hạ ngày thường vốn nhận nhiều ơn nghĩa và sự che chở của Bá Hồ Công, ai nấy đều biết ông thương con như mạng. Lúc này, có cướp mối làm ăn của ai cũng chẳng thể tranh giành với ông. Dẫu trong lòng đầy tham niệm, chúng cũng chỉ biết cắn răng phất tay bỏ đi, không dám dòm ngó đến thứ đã có chủ.

Tên chạy bàn chẳng chút khách sáo đuổi khéo đám khách, đóng chặt cửa nẻo, cài then chốt khóa kỹ càng, rồi dẫn Tạ Linh Trưng đến bên bàn ngồi xuống. Hắn ta vẫy tay bảo tên tiểu nhị thả bồ câu đưa tin cho Bá Hồ Công, rồi lập tức hỏi: “Ta nghe nói ngươi bị giam vào ngục tối, vậy mà lại trốn thoát được sao?”

“Không phải thế.” Tạ Linh Trưng nhíu mày, “Đồng môn tương tàn vốn là nỗi sỉ nhục của núi Doanh Đài, nguyên cớ bên trong thật không tiện nói nhiều, xin lỗi.”

Tên chạy bàn cũng hiểu được, bèn hít sâu một hơi: “Vậy tiếp theo ngươi định thế nào?” Nói rồi, hắn ta nhấc bầu rượu lên, rót đầy chén nhỏ trong tay Tạ Linh Trưng.

Hương rượu lan tỏa, chân mày Tạ Linh Trưng dần giãn ra, nở một nụ cười nhẹ nhàng: “Chẳng có tính toán gì cả. Rút đi tiên cốt, phế bỏ tiên thể rồi thì dù có quay về ngục tối cũng chẳng chịu nổi cực hình tra tấn, lại chẳng thể làm tiêu tan cơn giận của sư tôn. Chi bằng làm một chuyến du sơn ngoạn thủy nơi sơn dã đào nguyên, cố sống nốt mươi năm này. Kiếp sau biết đâu chừng lại được hóa thành một sợi lông hạc trên cây phất trần của tiên quân núi Doanh Đài.”

Khóe miệng tên chạy bàn giật giật: “Ngươi việc gì cứ thích phải chịu khổ như thế chứ?”

“Hửm?” Tạ Linh Trưng khó hiểu, “Sư tôn cứ mỗi mười năm lại thay một cây phất trần mới. Nói thật lòng, Người đối xử với món đồ đó còn tốt hơn ta gấp vạn lần. Người chê trên cơ thể ta lúc nào cũng vương mùi ô uế, không cho phép ta đặt chân vào điện Vân Đài nơi Người nghỉ ngơi, nhưng cây phất trần kia thì Người lại chưa từng rời tay nửa bước.”

“Thôi được rồi, hễ nói chuyện với ngươi là kiểu gì cũng nhắc đến tên kia.” Tên chạy bàn bất lực xua tay, “Lát nữa Bá Hồ Công tới gặp ngươi, giờ ta dẫn ngươi đi tắm rửa, thay bộ đồ khác, kẻo lại dọa tiểu cô nương nhà người ta khiếp vía.”

Vị Đào Hoa kiếm khách này từ năm mười lăm tuổi đã là một thiếu niên tuấn tú nổi danh thiên hạ. Đến tuổi nhược quán, hắn bắt đầu kết giao với chúng ma quỷ nơi đường Nê Hạ, giữa đôi chân mày nhờ đó mà có thêm vài phần hơi thở hồng trần mà những vị thần tiên tầm thường không có được, quả thực là mỗi cử chỉ đều chan chứa tình cảm, mỗi nụ cười cái liếc mắt đều đượm vẻ phong lưu.

Bất cứ nơi nào hắn đi qua, khó tránh khỏi việc có những cô nương trao gửi trái tim, thế nhưng ngần ấy năm trời, chưa từng có một đóa hoa ngọn cỏ nào thực sự chạm được vào người hắn. Phần vì cái danh đại đệ tử của Tiêu Vô Âm quá lớn, phần vì những ai thân thiết với Tạ Linh Trưng đều thấu rõ hắn đã sớm trao trọn trái tim cho một người.

Bá Hồ Công lặng lẽ quan sát người đàn ông trẻ tuổi từng có vài lần gặp gỡ trước mặt mình. Người thanh niên vốn anh tuấn tiêu sái này sau khi tắm gội sạch sẽ, thay xiêm y mới, dung mạo và thần thái so với lần gặp trước cũng không mấy khác biệt, chỉ là giữa đôi lông mày thoảng chút tiều tụy, sắc mặt quá đỗi nhợt nhạt, rốt cuộc không còn giữ được vẻ rạng ngời tựa ánh dương như thuở xưa nữa.

Ánh mắt Bá Hồ Công dời xuống đôi tay chân vẫn đang rỉ máu không ngừng của hắn, lớp băng gạc mới quấn đã lại loang lổ vệt đỏ, trong lòng liền hiểu ra mọi chuyện.

Vị quỷ tướng lớn tuổi ôn tồn nói: “Tạ hiền điệt đường xa vất vả rồi.”

“Không vất vả.” Tạ Linh Trưng mỉm cười, hơi khom người hành lễ, động tác đơn giản ấy lại khiến chân phải đang được cố định bằng nẹp tre của hắn lảo đảo một cái, suýt chút nữa ngã nhào ra đất. Tay phải hắn bị phế nên không còn dùng được, đành phải lấy tay trái bám vội vào khung cửa bên cạnh, tư thế quái dị ấy trông có phần chật vật.

“Hiền điệt không cần đa lễ.” Bá Hồ Công đứng dậy đỡ lấy hắn. Tạ Linh Trưng cũng chẳng hề tỏ ra lúng túng, nương theo lực tay ông ngồi xuống bên bàn, ngửi thấy hương rượu thơm ngát thoang thoảng trên mặt bàn, không khỏi thèm thuồng muốn nếm thử.

Bá Hồ Công bật cười lớn: “Ban nãy Hồ Nhị nói với ta ngươi thèm rượu, giờ xem ra quả thực chẳng sai chút nào. Trong tiên đạo hiếm thấy người có tính khí nồng hậu như ngươi, ta rất muốn cùng ngươi đàm đạo vài câu, nâng chén tâm tình, chỉ tiếc lúc này e là không tiện.”

“Không sao.” Tạ Linh Trưng nói, “Chúng ta nên đi thăm Bá tiểu thư trước.”

Bá Hồ Công gật đầu, bảo Hồ Nhị dìu Tạ Linh Trưng, rồi cả ba người cùng chậm rãi hướng về khu phòng của Bá Linh Ngọc.

“Dạo gần đây, tình hình của tiểu nữ ta thực sự không tốt lắm.” Bá Hồ Công vừa đi vừa thở dài, chân mày phảng phất nỗi sầu khổ muộn phiền, “Ta không thể rời khỏi đường Nê Hạ, đành nhờ vả các mối quan hệ xưa cũ tìm kiếm linh dược khắp nơi. Thế nhưng dù có gom được bao nhiêu thần dược cứu mạng đi nữa, thì cũng chỉ kéo dài được một ngày nửa buổi, vả lại thời gian kéo dài càng lâu thì công hiệu lại càng giảm sút.”

“Vết thương của kiếm Trảm Tuyết vốn dĩ vô phương cứu chữa.” Tạ Linh Trưng chỉ vào cánh tay phải máu chảy đầm đìa của mình, nở một nụ cười nhạt, “Dù cho là thần dược cải tử hoàn sinh, cải lão hoàn đồng đi chăng nữa, hễ đụng phải vết kiếm chém của Trảm Tuyết, nhiều nhất cũng chỉ có thể cầm cự cho máu bớt chảy mà thôi.”

“Ta ở đây có một ít Tục Đoạn Thần Tán, tuy không giúp ích được nhiều, nhưng ít nhất cũng xoa dịu phần nào đau đớn cho ngươi.” Bá Hồ Công nói, “Ta đã sai người đi lấy rồi.”

“Đa tạ tiền bối.” Tạ Linh Trưng lên tiếng cảm tạ. Hắn ngẫm nghĩ một lát rồi nói tiếp: “Thật lòng không giấu gì ngài, ta dù có lòng muốn giúp, nhưng dùng tiên cốt của ta chưa chắc đã là thượng sách. Không phải ta cố ý thoái thác, chỉ mong ngài suy xét kỹ càng lợi hại trong việc này.”

“Ta hiểu.” Bá Hồ Công nói, “Dù sao đi nữa, ngươi vẫn là đại đệ tử của tiên quân núi Doanh Đài.”

“Đã từng thôi.” Tạ Linh Trưng sửa lại.

Bá Hồ Công liếc nhìn hắn với vẻ mặt phức tạp: “Dù núi Doanh Đài hiện tại đã xóa tên ngươi, nhưng cũng chưa chắc đã để mặc cho bộ tiên cốt của ngươi rơi vào tay lũ tà ma ngoại đạo như chúng ta. Ngươi sợ Tiêu Vô Âm sau này sẽ tìm đến tính sổ, đúng chứ?”

“Sư tôn cực kỳ căm ghét Quỷ đạo, vạn nhất Người vẫn còn lưu tâm đến chút chuyện của ta, việc đó hoàn toàn có thể xảy ra.” Tạ Linh Trưng nói, “Dù sao cũng đã từng sớm tối kề cận bên Người hơn hai mươi năm trời, ta có chết, Người thế nào cũng sẽ biết tin. Nếu ngài không yên tâm, trước lúc lâm chung ta sẽ viết một phong thư, khẩn cầu Người niệm tình nghĩa thầy trò hai mươi năm qua mà đừng liên lụy đến người vô can, coi như trọn vẹn di nguyện cuối cùng của ta.”

“Lời này của ngươi nghe sao mà nản lòng thoái chí thế.” Nhận thấy hắn có lòng thành khẩn như vậy, Bá Hồ Công lại càng nhíu mày, “Tạ hiền điệt, ngươi vẫn còn trẻ, dẫu không còn tiên cốt thì vẫn còn cả quãng đời dài phía trước. Người tu tiên các ngươi luôn chú trọng việc đóng cửa tu hành, coi mười năm cuộc đời ngắn ngủi như kiếp phù du, như đóa quỳnh sớm nở tối tàn, thời gian ngắn ngủi ấy mặc nhiên bị coi rẻ như cát bụi. Nhưng Quỷ đạo chúng ta xưa nay lại chỉ cầu hưởng lạc nhân gian, phong hoa tuyết nguyệt, mỗi khoảnh khắc sống trên đời đều trân quý như vàng ngọc. Người xưa có câu: Dẫu chỉ còn sống được ba ngày cũng chớ nói lời gở. Ngươi đã có duyên với đường Nê Hạ này, cớ sao phải vì mấy mươi năm dương thọ mà tâm hóa thành tro nguội?”

Tạ Linh Trưng ngơ ngẩn lắng nghe, rồi nhoẻn miệng cười: “Những lời tiền bối nói quả không sai, rất hợp ý ta. Xem ra, chúng ta quả có duyên làm bằng hữu.”

Dẫu nói vậy, nhưng câu trả lời của hắn chung quy vẫn thiếu đi vài phần chân thành, thanh âm cuối câu lướt nhẹ qua như gió thoảng. Bá Hồ Công biết hắn chẳng lọt tai chữ nào, cũng không khuyên nhủ thêm nữa, chỉ lặng lẽ bước lên nửa bước dẫn đường.

Cả nhóm im lặng tiến bước về phía khuê phòng của Bá Linh Ngọc. Tạ Linh Trưng bước cao bước thấp giẫm lên những phiến đá xanh dọc hành lang. Tay chân tuy đau, nhưng dường như cũng chẳng tính là quá đau. Ngược lại, trong đầu hắn cứ ong ong những từ “nản lòng thoái chí”, “tâm hóa thành tro nguội” mà Bá Hồ Công vừa thốt ra, rồi lại bất chợt loé lên những chữ “hưởng lạc nhân gian”, “phong hoa tuyết nguyệt”.

Đi tiếp được mấy thước, hắn bỗng nhiên dừng bước. Hồ Nhị đang đỡ hắn cũng giật mình dừng theo, bèn ân cần hỏi han: “Tạ Linh Trưng, ngươi đi không nổi nữa sao…”

Câu nói của Hồ Nhị đột nhiên ngưng bặt. Bá Hồ Công ngoảnh đầu nhìn lại, chỉ thấy Tạ Linh Trưng đang một tay bấu chặt lấy bậu cửa sổ gỗ gõ đỏ bên cạnh, chân tay run lẩy bẩy, tóc tai hỗn độn, hốc mắt đỏ hoe, hoàn toàn không còn giữ nổi vẻ thản nhiên tự tại, không kiêu ngạo không siểm nịnh như lúc nãy nữa.

Giống như chiếc vò đất tích nước lâu ngày rồi cũng đến lúc đổ tràn, cổ họng Tạ Linh Trưng nghẹn ứ, hai hàng nước mắt cứ thế mà tuôn rơi, không sao kìm nén được.

“Người đã không cần ta nữa rồi.” Hắn nấc nghẹn nói, “Ta tồn tại trên đời này còn ý nghĩa gì nữa đâu.”

. . .

Chú thích:

Đường Nê Hạ (泥下道) = Cõi bùn lầy, con đường bùn lầy

truyen full, truyenfull, truyenfullvn, truyenfulllive

truyenfull,truyenfull.com