Đã có kết quả thi giữa kỳ, không ngoài dự đoán, Văn Chung, Nhiếp Thanh Châu và Hạ Nghi thâu tóm ba vị trí dẫn đầu toàn khối. Lần này, tốp ba đều quy về lớp 11/1, “ngựa ô” khó lòng xuất hiện, Nhiếp Thanh Châu cũng không còn là vị anh hùng thường dân của lớp thường nữa.
Thế nhưng trong các lớp khối Mười, giáo viên vẫn thường lấy Nhiếp Thanh Châu ra làm tấm gương để chứng minh rằng, chỉ cần chăm chỉ học hành ắt sẽ gặt hái thành quả. Từ hạng một nghìn vươn lên hạng nhất toàn khối chỉ trong vòng một tháng còn làm được, thì còn việc gì là không thể cơ chứ?
Lúc Hạ Nghi đến văn phòng nhận tài liệu, vừa hay nghe được các giáo viên khối Mười đang bàn tán về kỳ tích đáng kinh ngạc một thời của Nhiếp Thanh Châu. Cô vừa nghe giáo viên chủ nhiệm dặn dò, lại vừa lắng nghe những lời tán thưởng của các giáo viên khối Mười cách đó không xa, trong lòng bất giác vui vẻ lạ thường.
Đến nỗi khi bước ra khỏi văn phòng, cô đã bất giác nhoẻn miệng cười.
Đúng vào giờ ra chơi, trên con đường nhỏ giữa các dãy nhà học tấp nập người qua kẻ lại, có ba cô gái đang vừa khoác tay nhau vừa trò chuyện ở phía trước Hạ Nghi. Khi vừa đến gần, cô bỗng nghe thấy tên của chính mình.
“Hạ Nghi chẳng qua chỉ đoạt được vài giải thưởng ở hội thao thôi mà? Có cần phải được tung hô đến tận bây giờ không?” Cô gái thấp lùn tóc ngắn bên phải lên tiếng.
Cô gái cao ráo tết tóc đuôi ngựa ở giữa “xì” một tiếng: “Học theo Trịnh Bội Kỳ chứ đâu, con nhỏ đó chẳng phải rất giỏi cái trò õng ẹo làm ra vẻ đáng thương sao? Chỉ biết bám riết lấy Hạ Nghi để gây chú ý, đúng là tởm chết đi được.”
Hạ Nghi liếc mắt quan sát, mấy cô gái này đúng là người của lớp 11/1. Cô gái ở giữa tên là Đường Khả Tuệ, hình như chính là kẻ đã cầm đầu tẩy chay Trịnh Bội Kỳ lúc trước.
“Ghê tởm nhất phải là Nhiếp Thanh Châu. Hạ Nghi từ chối thẳng thừng rồi mà vẫn cứ mặt dày lẽo đẽo bám theo, y như một con chó quấn chủ. Bộ không nhìn ra Hạ Nghi đang đùa giỡn với cậu ta à? Đúng là đồ mặt dày không biết liêm sỉ, có hèn không cơ chứ.” Đường Khả Tuệ nói với vẻ mặt khinh khỉnh đầy ghê tởm.
“Đúng vậy, phải tớ thì tớ không chịu nổi đâu.” Người bên trái hùa theo.
“Chắc là thiếu thốn tình thương đó mà, nghe đâu ba mẹ cậu ta đều đi làm ăn xa…”
Hạ Nghi dừng bước, ánh mắt trở nên sâu thẳm, dõi theo bóng họ khuất xa.
Học kỳ hai lớp Mười một sẽ có kỳ thi học lực, nên mọi hoạt động ngoại khóa đều phải dồn lại, và phải lo xong hết trong học kỳ một.
Sau hội thao là kỳ thi giữa kỳ, và ngay sau kỳ thi sẽ là Ngày hội hợp xướng.
Đường Khả Tuệ là lớp phó văn thể của lớp 11/1, trọng trách tổ chức Ngày hội hợp xướng đương nhiên đổ lên vai cô ta. Ngày hội hợp xướng yêu cầu mỗi lớp phải trình bày hai bài hát. Vòng đầu tiên sẽ chọn ra mười lớp xuất sắc nhất để bước vào vòng hai. Ban đầu, cô Đổng Giai để cả lớp tự bỏ phiếu chọn bài hát, nhưng kết quả lại là một danh sách vô cùng kỳ quặc, khiến cô đau đầu không thôi. Cuối cùng, cô đành chấp nhận một bài do cả lớp bình chọn, còn bài còn lại thì giao thẳng cho Đường Khả Tuệ và giáo viên âm nhạc quyết định.
Thế là trong giờ nhạc, cả lớp nhận được bài hát cho vòng sơ khảo, một ca khúc tiếng Pháp mang tên Cerf-volant (Cánh diều).
Khi giai điệu vang lên, Nhiếp Thanh Châu nhướng mày, khẽ bật thốt: “Là bài hát trong phim “Ban hợp xướng” à…”
Cô giáo dạy nhạc trẻ tuổi mặc một chiếc váy đỏ theo phong cách Pháp, vui vẻ vỗ tay theo nhịp, trông cô có vẻ rất yêu thích bài hát này. Cô nhiệt tình hướng dẫn cả lớp đánh dấu phiên âm, rồi chia bè, sau đó vẫy tay với Đường Khả Tuệ: “Đường Khả Tuệ, em lên đệm đàn piano, để khớp với cả lớp.”
Đường Khả Tuệ mỉm cười rạng rỡ, dáng vẻ tràn đầy tự tin, khoan thai bước đến bên cây dương cầm và ngồi xuống, bắt đầu đệm đàn cho cả lớp dưới sự chỉ dẫn của cô giáo. Cô ta hẳn đã luyện tập từ trước nên chơi khá trôi chảy. Hai câu hát lĩnh xướng ở đầu và giữa bài hát cũng do cô ta đảm nhiệm.
Hạ Nghi tựa lưng vào ghế, lặng lẽ quan sát Đường Khả Tuệ. Lần dạo đầu tiên, cô không hề hát theo. Đợi đến khi bản nhạc kết thúc, cô mới rút tay ra khỏi túi áo, giơ thẳng lên cao.
Cô giáo dạy nhạc có chút kinh ngạc, hỏi: “Em có vấn đề gì không?”
“Thưa cô, em muốn đệm đàn dương cầm, có được không ạ?” Hạ Nghi nói thẳng không chút vòng vo.
Cô giáo dạy nhạc mở to mắt, nhìn Đường Khả Tuệ, rồi lại nhìn sang Hạ Nghi, lúng túng nói: “Đương nhiên… đương nhiên là cô hoan nghênh các em cạnh tranh! Chỉ là năm ngoái người đệm đàn là Đường Khả Tuệ, nên cô cứ ngỡ năm nay vẫn vậy, mà cả lớp cũng không có ý kiến gì.”
Đường Khả Tuệ ngồi trên ghế đàn, sắc mặt sa sầm nhìn Hạ Nghi, nhưng vẫn cố nặn ra một nụ cười: “Được thôi, vậy bạn Hạ Nghi cũng thử xem sao, chúng ta cạnh tranh công bằng nhé.”
Cô ta ra vẻ rộng lượng đứng dậy nhường chỗ cho Hạ Nghi, trong lòng thầm nghĩ mình đã luyện đàn từ tấm bé, hơn nữa bản nhạc đệm này Hạ Nghi còn chưa từng tập qua, không thể nào chơi hay hơn mình được.
Hạ Nghi bước xuống khỏi chỗ ngồi, yên vị trước cây dương cầm, những ngón tay thon dài khẽ lướt trên phím đàn.
Cả lớp tò mò nhìn cô, còn Nhiếp Thanh Châu thì thẳng người dậy, hai tay chống cằm, đôi mắt sáng rực lên.
Giai điệu du dương tuôn trào như thác đổ từ cây đàn, những ngón tay của Hạ Nghi lướt nhảy trên phím đàn một cách linh hoạt và chuẩn xác, phô diễn trước tất cả mọi người trong lớp học thứ phép màu mà cô vẫn thường thể hiện trước mặt Nhiếp Thanh Châu. Một điều kỳ diệu được tạo nên từ âm nhạc dưới mười đầu ngón tay của cô.
Nụ cười của Nhiếp Thanh Châu mỗi lúc một rạng rỡ, anh liếc nhìn cô dạy nhạc, chỉ thấy cô giáo đã tròn xoe mắt, vẻ mặt đầy kinh ngạc, như không thể tin vào tai mình.
Đến cả kẻ ngoại đạo như anh còn nghe ra được sự khác biệt, vậy thì trong tai những người am hiểu âm nhạc, trình độ của Đường Khả Tuệ và Hạ Nghi hẳn phải khác nhau một trời một vực.
Khi bản nhạc đệm kết thúc, Hạ Nghi quay đầu nhìn cô giáo dạy nhạc, hỏi: “Cô có muốn em đệm lại một lần nữa để cả lớp hát theo không ạ?”
Cô giáo không kìm được mà vỗ tay, mừng rỡ khôn xiết: “Không cần, không cần đâu! Trời ơi Hạ Nghi… em học dương cầm bao lâu rồi? Ở tuổi của em, cô chưa từng thấy ai chơi hay hơn thế, không không không, ngay cả thầy giáo của cô cũng không giỏi bằng em… Em là học sinh chuyên nhạc à?”
Hạ Nghi lắc đầu: “Em học được chín năm rồi ạ. Em không phải học sinh chuyên nhạc, chỉ là muốn được đệm đàn cho cả lớp thôi.”
“Được, được, được! Không vấn đề gì, em sẽ là người đệm đàn!” Cô giáo dạy nhạc vội vàng đồng ý, hoàn toàn quên bẵng sự tồn tại của Đường Khả Tuệ.
Các bạn học trong lớp tuy cũng đã thầm cảm nhận được Hạ Nghi đàn rất hay, nhưng phải đến khi nghe cô giáo hết lời khen ngợi như vậy mới thực sự biết cô xuất sắc đến nhường nào, cả lớp không khỏi xôn xao hẳn lên.
Ngay từ lúc Hạ Nghi mới bắt đầu dạo đàn, sắc mặt Đường Khả Tuệ đã từ kinh ngạc chuyển sang trắng bệch. Giờ phút này, cô ta nghiến chặt răng, gượng gạo nói: “Được thôi, vừa hay em vừa đệm đàn vừa hát chính cũng hơi quá sức. Nếu Hạ Nghi đã đàn rồi, vậy em lo phần hát chính là được.”
Hạ Nghi lại bình thản giơ tay lên. Cô giáo cười rạng rỡ: “Không cần giơ tay đâu, em có gì thì cứ nói đi!”
“Thưa cô, em cũng muốn hát chính ạ.” Hạ Nghi quay đầu lại, lần đầu tiên trong ngày hôm nay đối diện với ánh mắt của Đường Khả Tuệ, cô thản nhiên nói: “Em có thể vừa đệm đàn vừa hát chính, không hề quá sức chút nào.”
Sắc mặt Đường Khả Tuệ thoáng chốc tái mét, ánh mắt cuộn trào lửa giận không tài nào che giấu nổi. Nếu không phải đang trong giờ học, e là cô ta đã trở mặt mắng người ngay tại trận rồi.
Hạ Nghi như thể không hề nhìn thấy, cô quay lại nhìn cô giáo: “Em cũng có thể thử được chứ ạ?”
Cô giáo đã nhận ra bầu không khí giữa hai cô học trò có vẻ không ổn, nhưng không thể kìm nén được sự tò mò và mong đợi, cô nói: “Được chứ, em hát thử câu này xem sao.”
Hạ Nghi cầm tờ giấy chép lời bài hát, nhẹ nhàng hít một hơi thật sâu.
“Cerf-volant, volant au vent, ne t’arrête pas.” (Hỡi cánh diều bay lượn trong gió, xin đừng ngừng lại.)
Giọng hát của cô tựa như cánh hải âu bay lượn trên đỉnh mây ngàn, mỗi nhịp vỗ cánh lại tạo ra những âm thanh xa xăm mà rung động đến tận tâm can.
Giọng hát dễ cảm nhận hơn tiếng đàn dương cầm rất nhiều, sức lay động cũng lớn hơn gấp bội. Chỉ vỏn vẹn có một câu hát, âm thanh còn chưa dứt, học sinh lớp 11/1 bên dưới đã đồng loạt thốt lên những tiếng “oa”, “a”, “trời ơi” đầy kinh ngạc, như một cơn triều dâng. Cô giáo dạy nhạc lấy tay che miệng, thán phục nói: “Kỹ thuật cộng hưởng khoang đầu và khoang ngực của em thật tuyệt vời, giọng pha cũng rất tốt, em… đã từng học thanh nhạc chưa?”
Hạ Nghi lắc đầu: “Em chưa từng học một cách bài bản ạ.”
“Thiên phú, đây chính là năng khiếu bẩm sinh! Nếu cô mà có được thiên phú như em, chắc trong mơ cũng phải cười đến tỉnh giấc mất!”
Ánh mắt cô giáo sáng rực lên, cô cầm tờ lời bài hát nhìn tới nhìn lui, không kìm được mà nói: “Hạ Nghi, em hát thử cả bài luôn được không!”
“Vậy em có thể hát chính được không ạ?”
Cô giáo quay sang nhìn Đường Khả Tuệ, trong mắt cô ta đã ngấn lệ. Cô có chút không nỡ, nhưng lại không thể nào kìm nén được niềm kích động khi phát hiện ra một tài năng thiên bẩm, đành dịu dàng an ủi: “Khả Tuệ, quả thật là…”
“Em biết rồi!” Đường Khả Tuệ đáp lại một cách cứng rắn, rồi trừng mắt nhìn Hạ Nghi: “Cho cậu đấy, cho cậu hết đấy!”
Nói xong, cô ta quay người, gót chân như thể gắn búa, dậm chân thình thịch trở về chỗ ngồi.
Hạ Nghi thản nhiên liếc nhìn cô ta một cái rồi lại dời mắt về tờ giấy chép lời bài hát, nói với cô giáo: “Em có thể vừa đàn vừa hát được không ạ?”
“Được, được chứ, dĩ nhiên là được! Cả lớp lắng nghe cho kỹ nhé, học hỏi bạn Hạ Nghi, cao độ của bạn ấy cũng rất chuẩn đó!”
Hạ Nghi đặt tờ giấy chép lời bên cạnh bản nhạc, bắt đầu màn trình diễn phép màu mới của mình như thể ở chốn không người.
Nhiếp Thanh Châu nghe thấy tiếng hít vào đầy kinh ngạc của các bạn xung quanh, có người thì thầm: “Trời đất, hóa ra bài hát này hay đến thế cơ à?” Nhưng nhiều người hơn, cũng giống như anh, đều nín thở, chỉ sợ làm kinh động đến giai điệu thần tiên ấy.
Anh có thể chắc chắn rằng, sau tiết học nhạc này, cộng đồng người hâm mộ của Hạ Nghi sẽ lại được mở rộng thêm nữa.
Quả nhiên, vừa tan học, Hạ Nghi đã bị mọi người vây quanh. Ai nấy đều phấn khích hỏi han đủ điều, nhưng đa phần đều muốn được nghe cô hát. Và mỗi khi Hạ Nghi cất tiếng hát, những tiếng reo hò kinh ngạc, những tràng pháo tay và lời khen ngợi lại vang lên không ngớt.
Đường Khả Tuệ nhìn cảnh tượng ấy, tức đến nỗi gục mặt xuống bàn mà khóc.
Lúc ăn cơm trưa, Trương Vũ Khôn và Lại Ninh nghe tin Hạ Nghi đã cất giọng trong lớp thì đều cảm thán rằng tài năng của chị Hạ cuối cùng cũng không thể giấu được nữa rồi, xem ra phải xin chữ ký sớm thôi.
“Chị Hạ trước giờ kín tiếng quá, tụi này đều thấy với trình độ của cậu, đáng lẽ phải là nhân vật nổi đình nổi đám trong trường mình mới đúng!” Lại Ninh thật lòng cảm thán.
Nhiếp Thanh Châu mỉm cười, anh huých nhẹ vào khuỷu tay Hạ Nghi, hỏi: “Chuyện gì thế? Không giống phong cách của cậu chút nào. Cậu đang nhắm vào Đường Khả Tuệ à? Tớ nghe nói cậu ấy rất thích thể hiện, lại còn thù dai nữa, năm ngoái đến cả Văn Chung cũng không tranh phần đệm đàn với cậu ấy đâu.”
Hạ Nghi đặt đũa xuống, lau miệng, bình thản nói: “Cậu ta thù dai, tớ cũng vậy.”
“Rốt cuộc hai người có chuyện gì?” Nhiếp Thanh Châu kinh ngạc vô cùng.
Hạ Nghi ngước mắt nhìn Nhiếp Thanh Châu, cô im lặng một lúc, rồi nói nhẹ như không: “Có thù.”