Mộng Hồi Tây Châu - Tả Ly Thanh

Chương 265: Trường An (1)



Ngày đó Trường An ấm áp lạ thường. Đang tiết tháng Chạp mà nước sông không đóng băng, cỏ cây đâm chồi nảy lộc tựa như tháng Giêng đầu xuân.




Chỉ còn vài ngày nữa là tới đại triều Tết Nguyên Đán. Sứ thần tám phương đến chầu, cống phẩm của các nơi cũng lần lượt tiến kinh.




Thành Trường An xe ngựa nườm nượp, dân chúng khắp một trăm linh tám phường đều đang tất bật quét tước cửa nhà, sắm sửa Tết nhất, chuẩn bị cho ngày trừ tịch sắp tới.




Thế nhưng, nhà họ Lâm ở phía Nam khúc phường Thân Nhân lại im lìm hiu quạnh, lạc lõng hoàn toàn giữa bầu không khí náo nhiệt xung quanh. Bởi chủ nhân Lâm gia vừa mới tạ thế, giờ đây chỉ còn lại góa phụ họ Tôn cùng đứa con thơ và một lão bộc phụ làm việc tạp dịch.




Ngày hôm đó, sau mấy hồi chuông sớm, lão bộc phụ xách xô đẩy cửa ra, đang định đi gánh nước ở giếng trong phường thì chợt thấy dưới cây táo cách cửa không xa có một thiếu nữ đang đứng.




Thiếu nữ kia trông chừng mười sáu, mười bảy tuổi, mái tóc dài vấn thành búi đơn gọn gàng dứt khoát. Nàng mặc bộ hồ phục bằng bông, khoác bên ngoài chiếc áo nửa da cừu, chân đi ủng da đen, bên hông đeo một thanh đao dài vừa tầm.




Nàng rất xinh đẹp, làn da màu mật ngọt dưới ánh triều dương bừng lên vẻ nhuận sáng, đôi mắt vô cùng trong trẻo. Nàng có vẻ rất sợ lạnh, cứ khoanh tay tựa vào gốc cây, đôi môi hơi nhợt nhạt, hơi thở ra trắng mờ như những làn khói nhẹ khiến gương mặt nàng lúc ẩn lúc hiện.




Sáng sớm mùa đông giá rét, sao lại có tiểu nương tử xinh đẹp nhường này xuất hiện trước cửa nhà? Lão bộc dụi dụi mắt, nghi ngờ không biết mình có nhìn lầm thành tinh quái phương nào hay không.




Đang lúc suy diễn, thiếu nữ đã bước về phía bà: “Ma ma, đây có phải chỗ ở của Lâm Hạc Niên không?”




Lão bộc phụ gật đầu, lòng càng thêm thắc mắc: “Lang quân đã qua đời nửa năm trước rồi, tiểu nương tử tìm người có chuyện gì sao?”




Thiếu nữ nghe vậy cũng không hề ngạc nhiên: “Vậy trong nhà còn có những ai?”




Thấy nàng vận trang phục người tập võ, lão bộc phụ sợ rằng lang quân ở ngoài gây ra rắc rối gì, nay trong nhà chỉ còn mẹ góa con côi, thật khó lòng ứng phó, thế nên bà cứ ngập ngừng không dám nói thật.




Giữa lúc lưỡng lự, bên trong viện vang lên giọng một nữ nhân: “Ai đang nói chuyện ngoài đó vậy?”




Chẳng đợi lão bộc phụ trả lời, một nữ nhân mặc đồ tang, đầu cài trâm bạc và hoa nhung trắng từ trong cửa bước ra. Người nọ tầm gần ba mươi, vai gầy eo thon, dáng vẻ tiều tụy. Có lẽ vì quá gầy nên đôi mắt nàng ta trông rất lớn, tròng mắt cũng to hơn người thường, nhìn qua lúc nào cũng như đang hoang mang lo sợ.




Vừa nhìn thấy người tới, nàng ta lập tức dừng bước, vẻ mặt trống rỗng, chân tay hơi luống cuống.




Hải Triều mở lời trước: “Tỷ là thê tử của Lâm Hạc Niên?”




Nữ nhân vén lại lọn tóc mai, gật đầu: “Chính là ta.”




Giọng nàng ta căng cứng, lắng tai nghe còn thấy hơi run rẩy, giống như rất sợ nàng, không biết có phải vì nhìn thấy thanh đao đeo bên hông nàng hay không.




“Tiểu nương tử đây họ Vọng phải không?” Nữ nhân ngập ngừng hỏi.




Hải Triều hơi ngạc nhiên: “Tỷ biết ta sẽ đến?”




Nữ nhân gật đầu: “Tiên phu có để lại thư cho tiểu nương tử, mời vào trong nhà nói chuyện.”




Dứt lời, nàng quay sang bảo lão bộc phụ: “Bà ra ngoài phường mua hai chiếc bánh hồ về đây.”




Hải Triều theo nữ nhân vào cửa. Đây là một căn nhà hợp viện nhỏ nhắn, tổng cộng chỉ có vài gian phòng, nhưng có thể sắm sửa được một cơ ngơi thế này ở nơi tấc đất tấc vàng như Trường An thì quả thật không dễ dàng gì.




Nữ nhân dẫn nàng đến phòng chính. Lúc đi ngang qua gian đông sương, Hải Triều thoáng thấy ổ khóa treo trên cửa thì bước chân khựng lại, đưa mắt nhìn về phía khung cửa sổ đang đóng chặt kia. Căn phòng đó rõ ràng đã lâu không có người ở, giấy dán cửa sổ đã vàng cũ, giòn mục, bị gió thổi rách một lỗ thủng.




“Ở đây…” Cổ họng Hải Triều khô khốc, lồng ngực như có thứ gì đó chực trào ra.




Nữ nhân nói: “Gian phòng này trước đây là cho Lương công tử thuê.”




Hải Triều cố nén lệ, nàng không muốn khóc trước mặt người lạ, nhất là người trước mắt lại là thê tử của Lâm Hạc Niên.




Chẳng rõ Lâm Hạc Niên đã nói gì với nàng ta, nhưng nữ nhân này rõ ràng biết thân phận của nàng, trong đôi mắt lớn của nàng ta hiện lên vẻ đồng cảm: “Tiểu nương tử có muốn vào trong xem chút không? Có điều đồ đạc của Lương công tử không còn ở đây nữa, phòng trống không rồi. Đợi qua Tết Nguyên Tiêu, chúng ta cũng sẽ rời khỏi Trường An, căn nhà này đã bán cho người khác rồi.”




Hải Triều lắc đầu: “Cứ bàn chuyện chính trước đã.”




Nữ nhân dẫn nàng vào phòng khách, dời chiếc sập vuông duy nhất trong nhà mời nàng ngồi, còn bản thân thì ngồi bệt xuống chiếu ở một bên.




Gian phòng này khá đơn sơ, được ngăn ra bằng một bức bình phong gỗ, cách một tấm bình phong chính là phòng ngủ của gia chủ. Phòng khách chỉ có cửa ra vào mà không có cửa sổ, mùa đông trên cửa treo một tấm thảm nỉ để chắn gió rét, hơi ấm và ánh sáng đều phụ thuộc vào chút tia sáng le lói hắt ra từ phòng trong.




Thấy nàng đánh mắt quan sát căn phòng, nữ nhân lộ vẻ lúng túng: “Hàn xá đơn sơ, xin tiểu nương tử lượng thứ.”




Căn nhà này đúng là quá tuềnh toàng, chẳng khá khẩm hơn túp lều nhỏ ven biển của Hải Triều là bao. Giấy dán trên bình phong đã lấm tấm vết mốc và lỗ thủng mà không được thay, trong phòng trống huếch trống hoác, trên tường có vài chỗ màu sắc rõ ràng nhạt hơn những chỗ khác, hẳn là nơi trước đây từng đặt tủ chè hay giá sách.




Lâm Hạc Niên tuy chỉ giữ chức Trực giảng ở Quốc Tử Giám, nhưng dù sao cũng là quan viên ở kinh thành, vậy mà giờ đây gia cảnh gần như bốn bức tường trống, đến sập ngồi cũng chỉ còn lại một chiếc. Đa phần là sau khi hắn ta chết, mẹ góa con côi khó lòng xoay xở, đành phải bán dần đồ đạc để qua ngày.




“Tiên phu…” Nữ nhân vừa mới mở lời, từ phía sau bức vách ngăn bỗng vang lên tiếng “oa” khóc nức nở, chắc là đứa trẻ nghe thấy giọng mẹ mình.




Trước khi đến đây, Hải Triều đã nghe ngóng qua, Lâm Hạc Niên có một đứa con trai chưa đầy tuổi, vì thế nàng cũng không lấy làm lạ.




Nữ nhân nghe thấy tiếng khóc thì như chim sợ cành cong, không tự chủ được mà cứng người, ngoái đầu nhìn chằm chằm vào tấm vách mỏng manh, gương mặt đầy hoảng hốt.




Hải Triều thấy nàng ta ngồi không yên, bèn nói: “Tỷ cứ vào xem đứa bé trước đi.”




Nữ nhân nói lời xin lỗi, rồi vội vàng đứng dậy đi vào nội thất. Chẳng bao lâu sau, nàng bế một bọc tã bằng vải xanh đi ra, đứa trẻ vẫn không ngừng khóc lóc. Nàng bế bọc tã đung đưa một hồi, cuối cùng đứa bé cũng nín khóc, nàng liền trải một tấm đệm nhỏ lên chiếu cỏ, cẩn thận đặt bọc tã xuống.




Hải Triều vô tình liếc nhìn một cái, đứa bé trông chưa đầy tuổi, đôi mắt khóc đến sưng múp, nhưng nhìn thoáng qua cũng có phần giống Lâm Hạc Niên, chỉ có điều gương mặt này thuần khiết ngây ngô, vô ưu vô lo, chẳng hề có chút tâm cơ tính toán nào như cha nó.




Thằng bé thò ra một đoạn cánh tay trắng ngần mập mạp như ngó sen từ trong bọc tã, nhét chiếc chuông bạc buộc bằng dây đỏ trên cổ tay vào miệng, m*t lấy m*t để phát ra tiếng “chùn chụt”, nữ nhân kiên nhẫn hết lần này đến lần khác gạt tay nó ra.




“Không biết tiểu nương tử kết giao với tiên phu như thế nào?” Nữ nhân nhìn về phía Hải Triều.




“Hắn ta không kể với tỷ sao?” Hải Triều hỏi ngược lại.




“Lang quân chỉ nói hai người gặp nhau ở Tây Châu, nhưng chàng chưa từng đi Tây Châu, hai năm qua lại chưa từng rời kinh…”




Hải Triều đáp: “Nếu hắn đã không nói cho tỷ biết, chắc hẳn là muốn tốt cho tỷ thôi.”




Nữ nhân mím môi, lại hỏi: “Lang quân nói còn để lại một số thứ quan trọng cho tiểu nương tử, dặn nàng đừng quên tới lấy, chắc hẳn tiểu nương tử biết chúng ở đâu chứ?”




“Thứ gì?” Hải Triều cảnh giác hẳn lên, “Hắn chưa từng nói.”




Nữ nhân hơi luống cuống, nhanh chóng liếc nhìn bức bình phong một cái: “Có lẽ lúc đó chàng bệnh đến hồ đồ rồi…”




“Lâm Hạc Niên chết như thế nào?” Hải Triều hỏi.




Câu hỏi này có phần vô lễ, nhưng nữ nhân không hề phật ý, chỉ có đôi mắt hiện lên nỗi u sầu thoang thoảng: “Khoảng nửa năm trước, tiên phu bỗng nhiên mắc chứng bệnh lạ, trong cổ họng mọc ra một cái nhọt độc.”




Vị trí nàng ta ra dấu chính là nơi Hải Triều đã hạ đao.




Nữ nhân nói tiếp: “Ta muốn đi tìm đại phu ở y quán, nhưng lang quân nhất quyết không cho tôi đi, nói rằng đây là báo ứng của chàng, sức người không thể chữa khỏi. Chưa đầy hai ngày sau đến lời cũng chẳng nói được nữa, nằm thoi thóp trên sập vài ngày, cuối cùng đến cả cháo loãng cũng không nuốt trôi… Ta vẫn tìm đại phu tới, tìm tới hai người nhưng đều nói không thể chữa được…”




Nàng đưa tay lên quệt đi giọt nước mắt rỉ ra, đứa trẻ lại tưởng mẹ đang che mặt chơi đùa với mình, cứ thế “ha hả” cười mãi không thôi.




Nữ nhân nghẹn ngào nói: “Lúc còn nói được, lang quân bảo mấy tháng sau sẽ có người từ Lĩnh Nam đến tìm. Chàng dặn ta ôi ở đây đợi nương tư, đợi đến khi nương tử hồi hương. Chàng ấy bảo ta nói với tiểu nương tử rằng, những gì nương tử muốn hỏi đều viết cả trong thư rồi.”




Nàng ta vừa nói vừa đứng dậy dời mấy chiếc bàn, lật tấm chiếu cỏ trải sàn lên, lấy ra một phong thư từ bên dưới giao cho Hải Triều.




Hải Triều nhận lấy lá thư, mấy tờ giấy manh mỏng manh mà ngỡ như nặng nghìn cân, cổ tay nàng không kìm được khẽ run rẩy.




Nàng đọc từng dòng một, cảm giác như có một bàn tay lạnh lẽo đang từng chút một xé toạc lồng ngực mình, gió lạnh lùa vào, buốt thấu tâm can.




Trong thư, Lâm Hạc Niên thẳng thắn thú nhận, chính hắn ta là kẻ đã phản bội Lương Dạ.




Hắn vốn là Trực giảng ở Quốc Tử Giám, ngay từ khi Lương Dạ nhập học ba năm trước, hắn ta đã biết thiếu niên này là bậc thiên tài kinh nhân, hiếm có hơn cả là phẩm cách siêu phàm thoát tục, phong thái tuấn lãng thanh tao, nên đã nảy sinh ý định kết giao.




Biết Lương Dạ xuất thân bần hàn, phải tá túc trong chùa, hắn ta muốn cho chàng thuê gian nhà trống với giá rẻ, nhưng Lương Dạ năm lần bảy lượt từ chối. Mãi đến hai năm sau, khi hai người đã đạt đến mức tâm đầu ý hợp, chàng mới chấp nhận lòng tốt của hắn.




Về sau, Lương Dạ giành vị trí đứng đầu trong kỳ thi khoa cử, rồi lại từ chối hôn sự với thiên kim của Lư Thị trung, cuối cùng chỉ có thể làm một văn lại ở Bộ Hình. Hắn ta càng thêm xót xa cho một viên ngọc quý bị vùi trong bụi bặm, vận mệnh lận đận, nên thường xuyên quan tâm chăm sóc nhiều hơn.




Thế nhưng một ngày nọ, Lương Dạ đột nhiên đề nghị chuyển về chùa, hắn ta gặng hỏi lý do nhưng Lương Dạ nhất quyết không tiết lộ nửa lời.




Hắn ta suy nghĩ mãi không ra, nhân lúc Lương Dạ ra ngoài bèn lén lục soát căn phòng và tìm thấy những thứ Lương Dạ giấu dưới gầm giường.




Đó là bản sao chép các hồ sơ vụ án mà Lương Dạ đã thực hiện, một vụ án cũ từ nhiều năm trước.




Vào tháng Chạp năm đó, trong thành và các vùng kinh kỳ liên tiếp có lưu dân, ăn mày và trẻ con nhà tá điền mất tích. Cuối cùng, người ta tìm thấy bím tóc và giày nhỏ của mấy đứa trẻ mất tích trong một đoàn ảo thuật từ ngoại bang tới. Ngay sau đó, dưới một giếng cạn nơi họ trú ngụ, xác của một đứa trẻ đã được tìm thấy. Đứa bé bị bọc trong vải đỏ, bị khoét mắt, cắt lưỡi, xẻo tai, trạng chết vô cùng thê thảm.




Những kẻ đó khai rằng chúng dùng trò ảo thuật để che mắt thiên hạ, đi khắp phố cùng ngõ hẻm để bắt cóc trẻ con, nhưng khi hỏi tại sao lại hành hạ giết hại lũ trẻ như vậy chúng lại không nói được lý do rõ ràng.




Từ đó nảy sinh nhiều lời đồn đại, kẻ nói chúng thờ phụng tà ma, người bảo chúng làm trẻ con thành rối sống, xôn xao một thời.




Dù sao đi nữa, vụ án đó chứng cứ rành rành, phạm nhân cũng đã bị xử tử thị chúng, sự việc từ lâu đã là ván đóng thuyền.




Lâm Hạc Niên không hiểu tại sao Lương Dạ lại lật lại vụ án cũ này, nên càng lục soát kỹ hơn. Cuối cùng, hắn ta phát hiện ra một cuộn giấy giấu trong thẻ trúc, trên đó là những điểm nghi vấn mà Lương Dạ liệt kê, cùng với lời khai và manh mối hắn thu thập được suốt nhiều tháng qua, những manh mối này lại âm thầm chỉ hướng về Tiết Vinh, quán chủ của Long Hưng Quán.




Tiết Vinh có qua lại với nhiều quyền quý trong kinh thành, Thị trung Lư Đạo Nhân là một trong số đó. Qua tiến cử của Lư Đạo Nhân, đạo sĩ này thậm chí còn được vào cung giảng đạo kinh cho Hoàng đế.




Ngoài vụ án trẻ em mất tích năm xưa, bên trong còn có hằng hà sa số bằng chứng về việc Lư Đạo Nhân mua quan bán tước, chiếm đoạt ruộng đất, ép chết dân lành.




Đến đây, Lâm Hạc Niên đã hiểu rõ, Lương Dạ vội vã rời đi vì đã quyết định tố cáo tội ác của Lư Đạo Nhân, không muốn làm liên lụy đến gia đình hắn.




Nhưng hắn biết rõ Lương Dạ chỉ như “châu chấu đá xe”, gia đình hắn sao có thể không bị kéo vào? Ngay cả khi giữ được tính mạng, con đường làm quan chắc chắn sẽ bị ảnh hưởng, vả lại thê tử hắn đang mang thai, nếu có bất trắc, e rằng cả nhà gặp họa.




Hắn trằn trọc nhiều ngày, cuối cùng quyết định bán đứng bằng hữu, ra tay trước để mật báo với Lư Thị trung.




Ngày hôm sau, một nhóm người xông vào bắt ép Lương Dạ đi, lại lục soát toàn bộ ngôi nhà, cuộn sạch tất thảy đồ đạc, vật dụng của Lương Dạ. Những người đó đến bắt người vào lúc đêm hôm khuya khoắt, hành sự giống như quan sai nhưng chẳng rõ là người của nha môn nào.




Kể từ đó, Lương Dạ bặt vô âm tín. Lâm Hạc Niên cũng không dám dò hỏi, chỉ có thể sống trong thon thót lo âu, mong sao chuyện này kết thúc tại đây.




Tuy nhiên, dù hắn đã mật báo cho Lư Thị trung và cố hết sức đứng ngoài cuộc, cuối cùng vẫn “khéo quá hóa vụng”, tự rước họa vào thân.




Vài ngày trước khi vào Tây Châu, hắn nhận thấy có người âm thầm theo dõi mình. Hắn may mắn chạy vào nơi phố xá náo nhiệt mới tạm thoát nạn, nhưng biết rõ sớm muộn gì mình cũng bị giết người diệt khẩu. Đang lúc sống trong sợ hãi tột cùng, hắn lại lạc vào Tây Châu trong một giấc chiêm bao.




Thấy Lương Dạ ở Tây Châu, thấy cổ chân chàng có vết thương, sau gáy có máu, hắn nghi ngờ chàng đã bị tra tấn dã man trong ngục, nghi ngờ chàng đã chết. Dù sống hay chết, một khi hắn nhớ lại chuyện cũ, chắc chắn sẽ thề chết không thôi với hắn. Vì thế, hắn ta lại chọn cách ra tay trước để nhổ cỏ tận gốc.




Hải Triều khó nhọc đọc từng chữ trong thư, cảm giác như chính mình đang lội trong bùn lầy dơ bẩn.




Lương Dạ cẩn trọng và thông minh đến thế, nếu không có bảy tám phần nắm chắc, hắn tuyệt đối sẽ không khinh suất hành động, vậy mà, chỉ vì sự nhu nhược ích kỷ hèn nhát của kẻ kia mà hắn phải uổng mạng.




Trong thư, Lâm Hạc Niên viết: “Góa phụ con thơ vô tội, khẩn cầu đừng làm hại tính mạng họ”. Hải Triều chỉ cảm thấy nực cười vô cùng, lúc A Dạ của nàng bị bằng hữu phản bội, chịu đựng oan ức, bị tra tấn đánh đập dã man, chàng biết cầu cứu ai đây?




Nàng nhìn vào đôi mắt đứa trẻ, càng nhìn càng thấy đó chính là đôi mắt của Lâm Hạc Niên, ngay cả gương mặt ngây thơ non nớt kia cũng dần chồng khít lên khuôn mặt của kẻ phản bội đáng ghét ấy. Loại người như thế, dựa vào đâu mà được để lại huyết mạch của mình? Dựa vào đâu mà vẫn còn người nhớ thương?




Trong vô thức, tay nàng đã siết chặt lấy thanh đao bên hông.




Nữ nhân rõ ràng đã nhận ra cử động của nàng, nàng ta vội vàng bế xốc đứa trẻ lên, cúi rạp người nói: “Tiên phu từng nói, vì công danh lợi lộc mà chàng ấy đã hại Lương lang quân, chết trăm lần cũng không hết tội… Tôi tuy không rõ sự tình ra sao, nhưng tiên phu vốn không phải kẻ say mê công danh, chắc chắn là do ta mang thai, ngày ngày thúc ép chàng tiến thân… Chàng chìm nổi chốn quan trường thấp kém đã nhiều năm, mãi đến lúc xấp xỉ tuổi tứ tuần mới may mắn được quý nhân để mắt, mắt thấy tiền đồ sắp khởi sắc, nên mới vì một ý niệm sai lầm mà phạm phải đại trọng tội. Nếu tiểu nương tử muốn báo thù, cứ việc giết ta là được, chỉ xin thương tình đứa trẻ còn non dại chưa biết sự đời mà tha cho nó một mạng…”




Đứa bé dường như cũng cảm nhận được nỗi sợ hãi của mẫu thân, nó mếu máo rồi “òa” lên một tiếng, khóc thét nức nở.




Hải Triều như bừng tỉnh khỏi một cơn ác mộng.




Nàng cầm đao đứng dậy, thu kỹ lá thư, liếc nhìn đứa trẻ đang khóc lóc vung vẩy cánh tay trên mặt đất, rồi hỏi nữ nhân: “Tỷ nói Lâm Hạc Niên được quý nhân để mắt, kẻ đó có phải là Lư Thị trung không?”




Ánh mắt nữ nhân xao động: “Chuyện quan trường chàng ấy chưa bao giờ nói nhiều với ta, ta chỉ biết quý nhân kia rất coi trọng nét chữ của chàng.”




Hải Triều không hỏi thêm gì nữa, vén tấm thảm nỉ bước lớn ra ngoài.




Đợi khi nàng đã đi xa, từ sau bức bình phong một nam nhân bước ra, nữ nhân lập tức ôm chặt lấy con: “Ta đã làm theo đúng lời các người dặn, xin hãy thả mẹ góa con côi chúng ta về quê…”




Nam nhân lạnh lùng nói: “Chủ nhân nhà ta vốn khoan hậu, đợi tìm thấy thứ đó, tự khắc sẽ để các người rời kinh.”




Nữ nhân khóc nấc lên: “Thứ các người nói ta thật sự không biết. Tất cả sách vở, thư họa chàng ấy để lại đều đã giao hết cho các người rồi. Còn cuốn sổ tay đó, ta chưa từng thấy bao giờ, dù có ép chết cũng chẳng lấy ra được…”




Hắn ta vẫn dửng dưng: “Cứ yên ổn mà ở lại đây, chủ nhân tự có định đoạt.” Nói đoạn, hắn sải bước ra cửa.




Vừa vén thảm nỉ, hắn lại quay đầu dặn dò: “Có lẽ nàng ta sẽ còn quay lại tìm, đừng có tự đắc ý mà xen vào chuyện bao đồng, nếu còn có lần sau…” Hắn liếc nhìn đứa bé trong lòng nàng ta, rồi dời tầm mắt đi chỗ khác: “Ta cũng không giúp nổi mẹ con ngươi đâu.”




Nữ nhân ghì chặt lấy con, ngồi quỵ dưới đất, nước mắt tuôn rơi trong cơn run rẩy không ngừng.




Ra khỏi phường Thân Nhân, đi về phía Đông qua thêm hai phường nữa chính là nơi cất giấu đồ mà Lâm Hạc Niên đã nói trước khi chết. Hải Triều đứng bên ngoài tường phường chần chừ một lát, rồi xoay người đi về phía Tây.




Càng đi về phía Tây, người ngựa trên đường càng lúc càng đông. Đó đều là những người tranh thủ đi chợ sớm ở chợ Tây, có thường dân áo vải trâm gai, cũng có nô tỳ của các đại gia tộc mình mặc gấm vóc lụa là.




Hải Triều thong thả bước đi theo dòng người, băng qua cổng phường Tây Thị, vào một tiệm ăn ven đường gọi một bát mì sợi. Nàng ngồi một bên chậm rãi ăn xong, sau đó tiếp tục xuyên qua các con phố ngõ nhỏ, đi tới một tiệm sách cũ treo tấm biển chữ “Trình”.




Tiệm sách hơi vắng vẻ, trong quán chỉ có hai người trông như thư sinh mặc áo trắng đang bám lấy gã sai vặt để mặc cả.




Gã sai vặt nọ bị làm phiền đến phát ngán nhưng lại không tiện đắc tội khách nhân, vừa thấy Hải Triều thì như gặp được cứu tinh, niềm nở cười nói: “Tiểu nương tử muốn tìm sách sao? Đừng nhìn tiệm chúng tôi nhỏ, tiệm sách họ Trình này có mặt khắp nam bắc kinh kỳ, bất luận là kinh sử hay truyền kỳ, chỉ cần tiểu nương tử đọc được tên sách, chúng tôi đều có thể tìm về cho cô.”




Hải Triều nói: “Ở đây có cuốn Phật Thuyết A Di Đà Kinh không?”




Gã sai vặt gật đầu lia lịa: “Phật kinh đều để ở trên lầu, mời tiểu nương tử đi theo tiểu nhân.”




Hải Triều theo gã lên lầu. Gã sai vặt trèo lên thang gỗ, từ trên kệ cao lấy xuống một chiếc hộp gỗ dài, hạ thấp giọng nói: “Đây là thứ mà thiếu đông gia trước khi đi Đông Đô đã đặc biệt dặn dò.”




Nói đoạn, gã mở hộp, lấy ra cuốn kinh văn, tháo trục đầu ra, từ bên trong rút ra một vật được bọc trong lớp vải lụa: “Đây chính là thứ tiểu nương tử cần. Thời gian gấp gáp, miễn cưỡng chế tạo xong, có chút thô lậu, không biết có dùng được không?”




Hải Triều mở lớp vải lụa liếc nhìn một cái: “Thời gian ngắn như vậy mà làm được thế này đã là tốt lắm rồi.”




Nói xong, nàng bọc lại như cũ, cẩn thận thu cất, cảm ơn gã sai vặt rồi mang theo hộp gỗ rời khỏi tiệm sách họ Trình.




Lúc xuống lầu, trong tiệm lại có thêm một người trung niên mặc áo xanh. Ông ta đang đứng trước giá sách, chăm chú nhìn những chiếc thẻ treo trên các cuộn bản thảo, lúc Hải Triều đi ngang qua, ông ta liếc nhìn chiếc hộp trong tay nàng một cái.




Đợi khi nàng ra khỏi cửa tiệm, người trung niên nọ vờ như vô tình hỏi gã sai vặt: “Tiểu nương tử vừa rồi mua sách gì vậy?”




“Là Kinh A Di Đà, nói là dùng để siêu độ cho người thân.” Gã sai vặt đáp, “Quý khách sao lại hỏi chuyện này, lẽ nào ngài quen biết tiểu nương tử đó?”




Người áo xanh không trả lời, chỉ rút ra một cuốn sách cũ rồi thanh toán tiền, sau đó vội vã rời khỏi tiệm sách. Dưới nắng người đông đi như dệt, thiếu nữ kia tựa như một giọt nước hòa vào biển cả, chớp mắt đã chẳng thấy tăm hơi.




Hải Triều đã cắt đuôi được nam nhân theo dõi mình. Nàng tìm một quán trà nhỏ trong chợ Tây, chọn một góc khuất ngồi xuống rồi gọi một ấm trà cùng một đĩa hoa quả, thong thả nhâm nhi. Nàng ngồi đó cho đến tận khi mặt trời lặn về tây, hồi trống chiều đầu tiên vang lên mới cầm đao bước ra khỏi quán.




Nam nhân áo xanh kia đương nhiên đã sớm chẳng thấy bóng dáng.




Nàng bước ra khỏi thị phường, hòa vào dòng người đang vội vã về nhà để đi về phía khách quán.




Các sứ thần và cử tử cùng đi thuyền cống tiến kinh đa phần đều ở trong Tiến Tấu Viện, chỗ nào không đủ thì mới sắp xếp ở khách quán này.




Gần tới ngày đại triều hội, các sứ thần đều đang bận rộn phối hợp với quan viên Bộ Hộ kiểm kê cống phẩm. Các cử tử mới tới kinh thành không lâu, dĩ nhiên sẽ tranh thủ đi dạo các thị phường và chùa chiền danh thắng, không nghe tiếng trống chiều thì sẽ không quay về. Bởi vậy, vào buổi chiều, khách quán gần như không có khách.




Khi sắp đi tới khách quán, nàng chợt nghe thấy tiếng bước chân phía sau.




Tiếng bước chân ấy nhẹ nhàng mà trầm ổn, nghe qua là biết người có võ công, mà lại còn không hề thấp.




Hải Triều bước nhanh vài bước, tiếng bước chân kia cũng nhanh theo. Nàng đi chậm lại, người đó cũng đi chậm lại.




Hải Triều đoán rằng nam nhân áo xanh bám đuôi ở tiệm sách lại đuổi tới, nàng đột ngột quay đầu lại, nhưng thấy đó là một thanh niên chừng mười tám, mười chín tuổi.




Người nọ có màu mắt rất nhạt, dường như mang huyết thống người Hồ, mặc một bộ hồ phục nam giới, đầu đội mũ Hồ nhưng nhìn khung xương thì rõ ràng là nữ nhi.




Hải Triều cau mày: “Ngươi là ai? Tại sao đi theo ta?”




Người nọ hành lễ, vừa mở miệng đã không hề che giấu giọng nữ của mình: “Vọng tiểu nương tử có lễ. Chủ nhân nhà ta muốn mời tiểu nương tử qua phủ một chuyến, xe ngựa đang dừng ở ngoài cổng phường.”




Hải Triều càng thêm cảnh giác: “Chủ nhân nhà ngươi là ai?”




Nữ tử kia nói: “Tiểu nương tử gặp chủ nhân tự khắc sẽ rõ.”




Hải Triều dĩ nhiên không đời nào đi theo một cách mờ mập như vậy: “Ta tới kinh thành để đưa cống phẩm, ở đây chẳng quen biết ai cả. Ngươi không nói rõ ràng, ta sẽ không đi cùng ngươi.”




Nữ tử kia chớp chớp mắt: “Chuyện này e là không do tiểu nương tử quyết định rồi.”




Hải Triều nhấn chặt chuôi đao, đưa mắt quét nhìn bốn phía, không thấy có mai phục nào khác.




Võ công của nữ tử trước mắt này không thấp, nhưng nàng cũng chưa chắc đã thua. Nửa năm qua, gần như cứ hễ mở mắt ra là nàng luyện đao, mỗi ngày đều luyện đến mức kiệt sức, chỉ có như vậy mới có thể chợp mắt được. Nàng tin vào thanh đao của mình, dù không nắm chắc mười phần thắng, nhưng đối phương muốn dễ dàng đưa nàng đi là điều tuyệt đối không thể.




Hải Triều hất cằm: “Vậy thì phải xem ngươi có bản lĩnh đó hay không.”




Nữ tử kia cười duyên một tiếng, dứt khoát thừa nhận: “Thân thủ của tiểu nương tử trên cơ nô tỳ, có điều nếu thực sự giao đấu, tiểu nương tử e là sẽ lỡ mất đại triều hội Tết Nguyên Đán, mọi tâm tư mưu tính của tiểu nương tử cũng theo đó mà đổ sông đổ biển.”




Nàng ta cố ý dừng lại một chút: “Thù của Thám hoa lang tự nhiên cũng chẳng còn ai báo thay nữa.”




Toàn bộ máu trong người Hải Triều dường như nghịch chuyển ngay tức khắc. Nàng vốn biết báo thù cho Lương Dạ định sẵn sẽ muôn vàn khó khăn, nhưng chẳng thể ngờ vừa mới chân ướt chân ráo đến Trường An, mưu đồ của nàng đã bị người ta nhìn thấu như thế.




Là ai đã để lộ tin tức?




Ngoại trừ nàng ra, chỉ có Đỗ thứ sử biết rõ ngọn ngành.




Nàng sợ liên lụy đến Lục Uyển Anh và Trình Hàn Lân nên ngay cả bọn họ nàng cũng không kể. Chẳng lẽ là Đỗ thứ sử? Nhưng tại sao ông ấy phải làm vậy? Nếu ông ấy sợ bị liên lụy, ngay từ đầu cứ từ chối giúp nàng là được, hay là giữa chừng lại hối hận?




Hải Triều nghĩ mãi không thông, nhưng bàn tay vẫn từ từ nới lỏng chuôi đao.




Đối phương nói không sai, một khi nàng ra tay ở đây, nàng sẽ không còn cơ hội báo thù cho Lương Dạ nữa. Mà đối phương đã biết rõ mục đích của nàng, nếu muốn ngăn cản, nàng cũng chẳng còn cách nào, chỉ có nước đi gặp người kia rồi tính sau.




Ý đã quyết, nàng liền nói: “Dẫn đường đi.”




Nữ tử dẫn nàng ra khỏi cửa phường, bên cạnh cửa quả nhiên đang đậu một chiếc xe nhỏ rèm xanh trông có vẻ tầm thường nhưng con ngựa kéo xe lại có bộ lông bóng bẩy cao lớn phi phàm. Nhà bình thường nếu có một con ngựa thế này chắc chắn sẽ coi như bảo bối, đâu nỡ đem đi kéo xe.




Hải Triều từng làm công chúa trong bí cảnh, nhìn con ngựa này cũng đoán ra được thân thế chủ nhân không hề tầm thường.




Xe ngựa đi về phía Tây, đến đại lộ Chu Tước thì chuyển hướng về phía Nam, rồi cứ thế đi thẳng, đến cổng thành mới dừng lại.




Người đánh xe khẽ nói vài câu với quân canh, lính canh lập tức cho đi, thậm chí không yêu cầu bọn họ xuống xe kiểm tra, kẻ có được đặc quyền này rõ ràng không phải là quan hoạn bình thường.




Ra khỏi cổng Minh Đức, xe ngựa đi thêm chừng nửa canh giờ nữa mới rẽ vào một trang viên. Những lầu đài đình các nơi đây còn hoa lệ hơn cả phủ công chúa trong bí cảnh của nàng, mái ngói xanh tường đỏ, mái hiên lồng lộng, nhấp nhô theo thế núi, dòng nước uốn lượn chảy qua thềm đá.




Xe dừng lại trước một khuôn viên.




Hai người xuống xe, bước vào cửa là một khu vườn cây cối xanh tươi, hoa cỏ rực rỡ, chính giữa là một hồ nước phẳng lặng mênh mông. Trên gò đất đá dựng giữa hồ có lầu gác ẩn hiện giữa rừng mai, tiếng đàn thanh thoát lúc đứt lúc nối theo gió vọng lại.




Hải Triều theo nữ tử kia băng qua cầu nổi trên mặt nước, bước lên từng bậc đá dẫn lên lầu quan, nghe thấy trong phòng rèm sáo trùng trùng điệp điệp, chính giữa có một nữ tử đang nằm trên sập mềm nghe đàn, mười mấy tỳ bộc vây quanh, người pha trà, kẻ thêm than, người bưng khay, kẻ rót rượu… không thiếu một ai.




Nữ nhân nọ chừng bốn mươi tuổi, dáng vẻ đầy đặn mà thanh tao, phong thái ung dung. Bà ta hơi nhắm mắt, tay cầm một chiếc như ý bằng bạch ngọc, uể oải gõ nhịp theo khúc nhạc.




Người đang gảy đàn mặc một thân áo trắng, không đội khăn trùm đầu, mái tóc đen bóng ánh xanh được búi lại bằng một chiếc trâm gỗ. Bóng lưng thanh mảnh cao gầy, tiếng đàn cũng mang theo một phong vị cô độc, cao ngạo và lạnh lẽo.




Hải Triều nhìn thấy bóng lưng ấy, bước chân không kìm được mà khựng lại, trái tim cũng hẫng đi một nhịp.




*




Người nọ nghe thấy động tĩnh cũng bất giác quay đầu lại, vừa vặn bốn mắt nhìn nhau với Hải Triều.




Hắn ta độ chừng tuổi nhược quán, lông mày mắt phượng đẹp như tranh vẽ, thoạt nhìn quả thực có vài phần giống với Lương Dạ.




Thế nhưng nàng rất nhanh đã nhìn rõ, kẻ trước mắt hoàn toàn là một người khác, dung mạo không quá giống, mà thần thái càng khác biệt một trời một vực.




Người nọ cúi mày rũ mắt hành lễ.




Nữ nhân đang nghe đàn khoan thai ngồi dậy, kéo lại chiếc áo choàng da điêu trên vai, nói với hắn: “Khúc nhạc này ta rất thích, thơ văn của ngươi cũng khá có thi vị, chỉ là bắt chước người khác quá mức, khó tránh khỏi cảm giác nhặt bã mía của người khác. Quay về sửa lại đi, ta sẽ thay ngươi trình lên cho Trương Thị lang.”




Thanh niên kia nghe vậy vừa kinh vừa hỷ, gương mặt trắng trẻo như ngọc vì phấn khích mà ửng hồng, thành kính sợ hãi dập đầu: “Tạ Quý chủ đã thưởng thức, nô sợ hãi khôn xiết.”




Nữ nhân dường như hơi mất hứng, đưa chiếc ngọc như ý trong tay cho thị nữ: “Thưởng.”




Gã thanh niên lại một lần nữa vui mừng khôn xiết, tạ ơn không ngớt.




Hải Triều nhìn dáng vẻ phủ phục quỳ lạy của hắn, trong lòng sinh ra chán ghét vô cớ.




Quý chủ ngồi phía trên rõ ràng cũng chẳng mấy hưởng thụ, phẩy tay ra hiệu cho hắn lui xuống. Lúc này kẻ kia mới ngậm miệng, ôm lấy cây đàn hiên ngang thoái lui ra ngoài.




Nữ nhân cho tất cả thị tùng lui đi, ngay cả nàng thị nữ dẫn Hải Triều tới cũng bị đuổi ra ngoài.




Trong gian sảnh hoa lệ chỉ còn lại hai người bọn họ. Nữ nhân khẽ chuyển đôi mắt đẹp, ánh mắt nhẹ tênh đặt lên người Hải Triều: “Ngươi chính là Vọng Hải Triều?”




Hải Triều đáp: “Phải.”




Nữ nhân mỉm cười duyên dáng, dường như không hề để tâm đến vẻ thất lễ của nàng, chỉ nói: “Quả là một đứa trẻ có linh khí, hèn chi Lương Tử Minh vì ngươi mà cự tuyệt hôn sự với nữ nhi Lư thị.”




Hải Triều không ngờ lại nghe thấy tên của Lương Dạ từ miệng một người xa lạ, lại còn bằng cái giọng điệu lả lơi như thế. Trái tim nàng như bị lửa thiêu, lúc thì nóng rực, lúc lại lạnh thấu xương.




“Ngươi có biết ta là ai không?” Nữ nhân lại hỏi.




Hải Triều nghe thấy thanh niên gảy đàn lúc nãy gọi bà ta là “Quý chủ”, trong lòng thầm đoán liệu người trước mắt có phải là Thanh Hà Trưởng công chúa mà Đỗ thứ sử đã nhắc tới hay không. Nhưng vị Trưởng công chúa kia tuổi đã gần ngũ tuần, mà mỹ nhân trước mắt trông chỉ như vừa ngoài bốn mươi.




Nàng lắc đầu: “Không biết.”




Nữ nhân thẳng thừng nói: “Ta là tỷ tỷ cùng mẹ của đương kim hoàng thượng, ngươi đã từng nghe qua chưa?”




Hải Triều cúi đầu hành lễ: “Dân nữ bái kiến Trưởng công chúa.”




Thanh Hà Trưởng công chúa cười khẽ: “Xem ra là đã nghe người ta nói qua rồi.”




Hải Triều đương nhiên biết rõ, vị Trưởng công chúa này là tỷ tỷ ruột duy nhất của hoàng đế, cũng là người thân duy nhất còn lại, địa vị tôn quý, thủ đoạn phi phàm, rất được hoàng đế tin tưởng.




Trong cuộc chiến giành ngôi vị giữa Thái tử và Yến Vương, bà ta đứng về phía Thái tử. Hoàng đế đã mấy lần muốn phế Thái tử để lập Yến Vương do Quý phi sinh ra, đều là Trưởng công chúa đứng ra can gián. Quý phi và phe cánh họ Lư dĩ nhiên coi vị Trưởng công chúa này như cái gai trong mắt.




Trên đường đến Trường An, nàng có nghe các cử tử cùng thuyền kể lại không ít chuyện phong lưu về vị Trưởng công chúa này. Điều được người ta tán tụng nhiều nhất chính là mối vướng mắc thuở trẻ giữa bà và thế tử Hà Đông Quận vương, Bùi Huyền. Hai người từng đính hôn, nhưng về sau không hiểu sao lại hủy bỏ hôn ước. Kể từ đó, Trưởng công chúa không bao giờ thành thân nữa, chỉ nuôi dưỡng rất nhiều nam sủng. Về sau Bùi thế tử kế vị tước hiệu, vậy mà cũng không cưới vợ, cho đến tận bây giờ vẫn lẻ bóng một mình.




Khi biết đây là kẻ thù của phe cánh họ Lư, Hải Triều yên tâm hơn phần nào, nhưng nàng vẫn không tài nào hiểu nổi vì sao Trưởng công chúa lại tìm mình.




Thế nhưng, Trưởng công chúa dường như cố ý treo lửng sự tò mò của nàng, lại chuyển sang nói chuyện phiếm: “Khúc nhạc khi nãy, ngươi thấy tấu thế nào?”




Hải Triều đáp: “Dân nữ là người thô kệch, không nghe ra được hay dở.”




Trưởng công chúa phì cười: “Gã cử tử đó đến chỗ ta tự hành quyện. Thơ văn của hắn bình bình, bắt chước Lương Tử Minh nhưng chỉ học được chút da lông bên ngoài, hoàn toàn không có phong cốt. Có điều, ta vẫn sẽ cử hắn cho Lễ bộ Thị lang.”




Hải Triều từng nghe người ta nói qua, những cử tử không có chỗ dựa, khi tới Trường An đều phải ngược xuôi quanh phủ đệ của các bậc quyền quý để dâng nộp thơ văn mình viết, mong sao có được quý nhân thưởng thức mà tiến cử, đó gọi là “hành quyện”.




Thế nhưng, có biết bao nhiêu cử tử, biết bao nhiêu tập thơ, mấy người may mắn đưa được chúng tới trước mắt quý nhân? Vậy nên, bọn họ phải tìm đủ mọi cách, khai phá những con đường riêng, dùng hết mọi vốn liếng để tiếp cận được các bậc bề trên.




Trưởng công chúa tiếp tục: “Ta vốn yêu âm luật, nhưng lại chẳng thích nghe nhạc khúc do nhạc công giáo phường tấu, bởi thanh âm của họ thiếu đi phong cốt nhã vận. Vì thế, có rất nhiều cử tử khổ luyện nhạc nghệ để hợp sở thích của ta, trong đó không thiếu kẻ kỹ nghệ cao siêu. Thế nhưng, tiếng đàn khiến ta canh cánh không quên nhất, vẫn là của Lương Tử Minh.”




Hải Triều bỗng chốc hiểu ra vì sao mình lại chán ghét gã thanh niên gảy đàn nịnh hót lúc nãy đến thế. Bởi cái bóng lưng tương đồng ấy khiến nàng nghĩ rằng, phải chăng Tiểu Dạ cũng từng làm những việc tương tự? Nghĩ đến đó, trái tim nàng như bị khoét một lỗ hổng cay đắng.




Trưởng công chúa tựa vào tháp mềm, thong thả quan sát nàng, như thể nàng là một vở kịch để giải khuây qua ngày đoạn tháng.




Một lúc sau, thấy Hải Triều dường như sẽ không bật khóc, bà ta mới thu lại vẻ lả lơi, nghiêm nghị nói: “Lần đầu ta gặp Lương Tử Minh là ba năm trước. Hắn mang thư giới thiệu của Đỗ Văn Lương đến nộp văn chương. Vốn dĩ ta và Đỗ Văn Lương chẳng có giao tình gì sâu nặng, thấy hay không thấy đều tùy thuộc vào ý muốn nhất thời của ta. Nhưng hôm đó phủ ta vừa hay có yến tiệc, ta bèn gọi mấy gã cử tử đến nộp văn ngày hôm ấy cùng vào hầu yến.”




Bà dừng lại một chút, như đang hồi tưởng lại tình cảnh ngày hôm đó: “Ta thích âm luật, nhưng không thích nhạc công giáo phường vì họ quá nặng tính thợ thầy, thiếu đi cốt cách thanh nhã, nên ta chỉ nghe môn nhân hoặc thanh khách gảy đàn thôi. Hôm ấy, các cử tử ai nấy đều dốc hết sở học để gảy đàn thổi tiêu hòng lấy lòng ta. Chỉ có duy nhất một mình Lương Tử Minh là bất động, lẳng lặng uống rượu. Trong thư tiến cử, Đỗ Văn Lương hết lời ca ngợi hắn tài hoa âm luật, đặc biệt giỏi gảy đàn, thanh âm thanh tao thoát tục, không lẫn với thế gian. Ta hạ lệnh bảo hắn tấu một khúc, nào ngờ hắn lại từ chối.”




Dù là chuyện đã qua từ lâu, nhưng khi nghe đến đây, Hải Triều vẫn không kìm được mà nín thở.




Trưởng công chúa thoáng chút bùi ngùi: “Hắn nói tiếng đàn phát ra từ tâm. Nếu tâm đã mang ý cầu sủng nịnh nọt, thì tiếng đàn tự khắc sẽ đục ngầu. Dẫu hắn có gượng ép thi triển cũng chỉ tấu ra được những âm thanh ô trọc mà thôi. Lúc đó ta đã nghĩ, có ngày nào đó ta phải khiến hắn tâm phục khẩu phục, cam tâm tình nguyện tấu cho ta nghe một khúc. Nào ngờ, chẳng bao giờ có ngày nguyện ước ấy thành hiện thực nữa.”




Bà nhìn về phía Hải Triều: “Việc hắn từ chối hôn sự với thiên kim họ Lư khi ấy khiến ta khá bất ngờ. Ta bèn sai người dò hỏi mới biết, ở quê nhà hắn đã đính ước với một cô nương làng chài. Ta vẫn luôn tò mò muốn xem nữ tử ấy rốt cuộc là nhân vật phương nào. Nay biết ngươi vào kinh ta liền sai người mời ngươi tới gặp mặt một lần.”




Hải Triều đã chẳng còn ngây thơ như trước: “Trưởng công chúa triệu ta đến đây, chắc hẳn không chỉ để xem diện mạo ta tròn méo ra sao chứ?”




Trưởng công chúa nhìn nàng đầy hứng thú: “Ngươi lặn lội ngàn dặm đến Trường An, chẳng lẽ cũng chỉ để dâng châu báu cầu phần thưởng thôi sao?”




Không đợi Hải Triều kịp đáp lời, bà đã đi thẳng vào vấn đề: “Lương Tử Minh năm đó biết mình không còn sống được bao lâu, đã gửi chứng cứ phạm tội của Lư Đạo Nhân đến chỗ ta.”




Máu trong người Hải Triều trong phút chốc dồn hết lên đại não. Nàng vốn lo lắng những chứng cứ đó đã bị Lư Đạo Nhân tìm thấy và hủy sạch, nay bằng chứng lại nằm trong tay kẻ thù không đội trời chung với phe cánh họ Lư, chẳng phải chỉ cần điều tra là sẽ rõ mười mươi sao?




Thế nhưng ngay sau đó, máu trong người nàng chợt lạnh ngắt. Lương Dạ đã gửi chứng cứ đến tay Trưởng công chúa từ trước khi gặp nạn, đến nay đã gần một năm trôi qua, vậy mà Lư Đạo Nhân vẫn ngồi vững ở ghế Thị trung.




Đã có bằng chứng xác thực, tại sao bà ta không tố cáo hắn?




Như đoán được tâm tư của nàng, Trưởng công chúa nói: “Ta khuyên ngươi nên dập tắt ý định đó đi.”




Hải Triều ngỡ ngàng ngẩng đầu, chẳng màng đến lễ tiết mà nhìn thẳng vào mắt Trưởng công chúa: “Tại sao?”




Trưởng công chúa đáp: “Ta biết ngươi muốn giải oan cho Lương Tử Minh, nhưng thời cơ chưa tới, ngươi làm vậy chỉ phí mạng và làm lỡ dở quan lộ của Đỗ Văn Lương mà thôi.”




Tim Hải Triều hẫng đi một nhịp.




Trưởng công chúa tiếp tục: “Đỗ Văn Lương không hề mật báo với ta, nhưng ngươi theo thuyền cống nạp vùng Lĩnh Nam vào kinh, tự nhiên là có Đỗ Văn Lương trợ giúp. Ông ta tuy bị biếm trích ra vùng xa xôi, nhưng chút bản lĩnh này vẫn còn.”




Bà nhìn Hải Triều, nói tiếp: “Để ta đoán xem, có phải ngươi định mượn danh nghĩa dâng châu báu để diện kiến Thánh nhân, sau đó trực tiếp kêu oan? Muốn khiến Thánh nhân phải nghiêm tra sủng phi và trọng thần, chỉ có thể thực hiện trước mặt bách quan và sứ thần, ép Thành nhân không thể thiên vị… Ngươi phận dân đen, không thể tham dự đại triều ngày Nguyên Đán, vậy chỉ còn cách tìm cơ hội tại yến tiệc sau buổi chầu mà thôi.”




Nghe bà nói, lòng Hải Triều dần chìm xuống đáy vực. Mới đến Trường An chưa đầy hai ngày mà toàn bộ kế hoạch đã bị nhìn thấu, nếu Trưởng công chúa muốn ngăn cản, chỉ cần giam lỏng nàng lại, qua khỏi đại triều Nguyên Đán là nàng sẽ không còn cơ hội nào nữa.




Trưởng công chúa nói: “Quý phi và vây cánh họ Lư hiện nay quyền thế ngút trời, ngay cả Thái tử cũng không thể đối đầu trực diện, lúc này gây hấn thật là bất trí. Cho dù Thánh nhân bất đắc dĩ phải hạ lệnh nghiêm tra, cuối cùng đa phần cũng chỉ tìm kẻ thế thân, Lư Đạo Nhân cùng lắm là bị biếm chức, chỉ cần Quý phi và Yến Vương còn giữ được thánh quyến, không quá hai năm Lư Đạo Nhân lại có thể nhận chiếu hồi kinh. Kẻ nắm giữ triều chính, người độc chiếm hậu cung, dựa vào một nữ nhi làng chài nhỏ bé như ngươi làm sao lung lay được họ?”




Sắc mặt bà sa sầm, giọng điệu trở nên nghiêm khắc: “Còn ngươi, kẻ khiến Thánh nhân mất mặt trước hoàng thân quốc thích, sứ thần các nước và văn võ bách quan, ngươi đã từng nghĩ mình sẽ thoát thân thế nào chưa?”




Những điều này Hải Triều đương nhiên đã nghĩ qua: “Ta không sợ, ta chỉ muốn một lẽ công bằng, chẳng lẽ Thánh nhân lại giết ta sao?”




“Dù Thánh nhân có khoan hồng độ lượng, phe cánh họ Lư và Quý phi cũng sẽ không buông tha cho ngươi. Đỗ Văn Lương cũng vì ngươi mà bị liên lụy, vĩnh viễn không còn hy vọng phục chức.” Trưởng công chúa nói, “Và tất cả những người âm thầm giúp đỡ ngươi cũng sẽ bị chúng lần lượt đào xới ra bằng hết.”




Hải Triều đột nhiên nghẹn lời. Một mình nàng thì dẫu chết cũng chẳng từ, nhưng nếu liên lụy đến Đỗ thứ sử, Lục tỷ tỷ và Trình Hàn Lân, nàng biết lấy gì để bảo vệ họ đây?




“Huống hồ vây cánh họ Lư trong triều rất đông, e rằng ngươi vừa mở miệng đã bị bọn chúng ngăn lại, oan ức chưa kịp nói ra đã bị thị vệ lôi đi rồi.”




Hải Triều hỏi: “Chẳng lẽ trên triều đình toàn là người phe họ Lư sao? Không một ai có thể đứng ra nói một câu công đạo?”




Trưởng công chúa khẽ cười nhạt, như đang cười nhạo sự ngây thơ của nàng: “Nếu không nắm chắc phần thắng trong tay, đứng ra chính là công khai đứng ở thế không đội trời chung với Quý phi và Lư Đạo Nhân. Trừ phi lần này khiến chúng gục ngã không ngóc đầu lên nổi, bằng không tất yếu sẽ bị trả thù tàn khốc. Những kẻ có thể đứng vững trên triều đường đều là những kẻ thông minh, họ sẽ không làm chuyện lấy trứng chọi đá như vậy đâu.”




“Thế còn Thái tử?” Hải Triều nhìn thẳng vào mắt bà, “Chẳng phải Thái tử vốn không thuận với Quý phi và phe cánh họ Lư sao? Người đời đều nói Thái tử nhân nghĩa ái dân, gặp chuyện bất bình như vậy, chẳng lẽ ngài ấy lại khoanh tay đứng nhìn?”




Bản thân Trưởng công chúa chính là người ủng hộ Thái tử kế vị, Hải Triều nói vậy thực chất là đang mượn danh Thái tử để chất vấn bà. Lúc bàn tính với Đỗ thứ sử, nàng đã đánh cược rằng phe cánh Thái tử sẽ không từ bỏ cơ hội hiếm có này để giáng một đòn chí mạng cho phe họ Lư.




Nàng không cần Lư Đạo Nhân phải đền mạng ngay lập tức, chỉ cần ông ta bị biếm trích khỏi kinh thành là đủ.




Trưởng công chúa hiển nhiên hiểu rõ ý đồ của nàng, bà khẽ cười nhạt: “Cái đồ nữ nhi làng chài ngươi đang chất vấn ta đấy à? Gan cũng lớn thật đó.”




Bà khẽ thở dài: “Thái tử nhân hậu lại hiếu thuận, những xích mích với Quý phi và Yến Vương dù sao cũng là chuyện nhà, hắn sao có thể khiến Thánh nhân mất mặt trước mặt sứ thần và bách quan cho được.”




Lòng Hải Triều chìm xuống tận đáy.




Đỗ thứ sử từng cùng nàng phân tích thiệt hơn, rằng phe Thái tử rất có thể không muốn lội vũng nước đục này. Họ sợ rằng không nhổ tận gốc được thế lực họ Lư, ngược lại còn vì thái độ bức người mà đánh mất lòng tin của Thánh thượng.




Thế nhưng, dù phe Thái tử không ra tay thì yến tiệc đại triều Nguyên Đán vẫn là cơ hội tốt nhất. Chỉ cần nàng có thể vạch trần oan khuất trước mặt bàn dân thiên hạ, dù Hoàng đế có vì thể diện cũng buộc phải hạ lệnh điều tra.




Nàng không sợ Trưởng công chúa đứng ngoài cuộc, chỉ sợ bà vì muốn tránh hiềm nghi mà cấm cản nàng kêu oan, nếu vậy thì nàng thực sự chẳng còn hy vọng gì nữa.




Trong lúc tình thế cấp bách, đầu gối nàng “thịch” một tiếng đập mạnh xuống đất: “Cầu xin Trưởng công chúa thành toàn! Dù thành hay bại, dân nữ xin một mình gánh chịu, tuyệt đối không liên lụy đến Trưởng công chúa và Thái tử điện hạ.”




Trưởng công chúa đứng dậy, đi đến trước mặt Hải Triều, đặt tay lên vai nàng, dịu giọng khuyên giải: “Kẻ tiểu nhân nịnh hót dù đắc thế nhất thời nhưng chắc chắn không thể bền lâu. Ngươi chỉ cần kiên nhẫn chờ thời cơ thích hợp, đợi đến khi chúng lộ ra yếu thế, hai vụ mạng án kia sẽ là đòn chí mạng, nỗi oan của Lương Tử Minh sớm muộn gì cũng được làm sáng tỏ, không cần phải vội vàng lúc này.”




Hải Triều ngẩng khuôn mặt đẫm lệ lên: “Phải đợi bao lâu nữa?”




Trưởng công chúa đột nhiên cứng họng.




“Ta thậm chí còn không biết huynh ấy đang ở đâu.” Hải Triều quên bẵng cả lễ tiết, “Sắp sang năm mới rồi, trời lạnh thế này, tuyết dày thế kia, vậy mà đến chỗ huynh ấy nằm lại ta cũng chẳng biết… Huynh ấy còn phải cô đơn chờ đợi bao lâu nữa? Một năm, hai năm hay là ba năm, năm năm? Hoặc là tám năm, mười năm? Nếu Thái tử thua cuộc, nhi tử của Quý phi lên làm Hoàng đế, liệu những người chết oan có còn cơ hội được giải oan nữa không?”




Trong ánh mắt Trưởng công chúa thoáng hiện lên vẻ không đành, nhưng cũng chỉ có vậy mà thôi.




Một đòn chí mạng như việc sát hại Thám hoa lang nhất định phải được dùng vào thời điểm then chốt nhất. Bà sẽ không vì một chút lòng thương hại mà mạo hiểm để con bé làng chài này gây ra chuyện vô nghĩa, làm hỏng đại sự.




Bà sa sầm mặt: “Vọng nghị quốc vận, ngươi thật sự không sợ ta trị tội sao?”




Hải Triều đáp: “Dân nữ chỉ có cái mạng này, nếu không thể báo thù rửa hận, cái chết cũng có đáng gì.”




Trưởng công chúa nói: “Dẫu ngươi có liều cả mạng sống cũng không thể bắt kẻ làm ác đền mạng, hà tất phải khổ như vậy.”




Hải Triều ngước mắt nhìn khuôn mặt không đoán được tuổi tác kia. Đó là một khuôn mặt cao cao tại thượng, sống trong nhung lụa ấm êm, những người như vậy sao có thể bận lòng trước cái chết oan khuất của một Thám hoa lang nghèo khó, hay thấu hiểu nỗi đau xuyên tâm tạc cốt của một nữ nhi làng chài nhỏ bé.




Những người như bà ta chẳng quan tâm đến chính nghĩa, họ chỉ để tâm đến lợi ích thiết thân của chính mình.




Hải Triều lau nước mắt: “Ta không chỉ muốn ông ta bị biếm chức.”




Trưởng công chúa nhíu mày: “Ngươi muốn ám sát Lư Đạo Nhân? Không thể nào. Ông ta tự biết mình gây thù chuốc oán khắp triều đình nên mọi việc ăn ở đều vô cùng cẩn trọng, phủ đệ canh phòng nghiêm ngặt, ra ngoài có vô số võ biền cao thủ hộ vệ, chỉ dựa vào sức một mình ngươi, tuyệt đối không thể giết được ông ta…”




Nói đến đây, bà bỗng khựng lại: “Ngươi định…”




Hải Triều đón lấy ánh mắt bà: “Kẻ nào hại huynh ấy đều phải đền mạng.”




Trưởng công chúa khép đôi mi, đầu ngón tay sơn cốt hồng tươi nhẹ nhàng gõ lên mặt bàn, trầm ngâm một hồi lâu mới khẽ mấp máy đôi môi đỏ mọng: “Ngươi nắm chắc mấy phần?”




*




Sắp đến kỳ đại triều Nguyên Đán, vụ việc tạp nham tại phủ Kinh Triệu nhiều như lông tơ trên lưng bò. Nào là tăng cường ca trực tuần phố, kiểm tra cống phẩm các đạo, lại còn phải ứng phó với việc điều động nhân lực từ Lục bộ.




Người đông, khó tránh khỏi thượng thượng vàng hạ cám lẫn lộn, các vụ án lớn nhỏ cũng theo đó mà nhiều lên. Pháp tào Tham quân Tưởng Ngũ bận đến chân không chạm đất, ngủ lại nha môn suốt mười mấy ngày không về nhà.




Bận rộn mãi cho đến đêm trừ tịch, may nhờ cấp trên khai ân, cuối cùng hắn cũng có thể về nhà ăn bữa cơm đoàn viên với lão mẫu và thê nhi, uống chén rượu Tiêu Bách.




Tuy nhiên, sau khi sắp xếp xong xuôi các hạng mục cho buổi đại triều ngày mai, lại dặn dò kỹ lưỡng đám nha dịch trực đêm nay, lúc bước ra khỏi phủ nha thì trăng đã lên tới giữa đỉnh đầu.




Càng gần Tết, lệnh giới nghiêm càng chặt chẽ, giờ này các cửa phường đã đóng chặt. Nhưng với thân phận Pháp tào Tham quân phủ Kinh Triệu, hắn tất nhiên có thể dựa vào lệnh bài mà tự do ra vào.




Ra khỏi phường Quảng Đức, rẽ vào phố Nam, tuyết đọng trên đường ban ngày bị xe ngựa người qua lại giẫm nát tan chảy, tuyết mới chưa kịp rơi xuống nên đường sá bùn lầy trơn trượt. Chiếc ủng của Tưởng Ngũ nhanh chóng bị thấm ướt, tất vải ngấm nước lạnh buốt khiến ngón chân cứng đờ như băng.




Tưởng Ngũ cũng chẳng màng tới những chuyện đó, hắn rụt cổ, thọc tay vào ống tay áo, sải bước vội vã về nhà, may mà chỗ ở của hắn nằm ở phía Tây thành, cách nha môn không xa.




Đến phường Lễ Tuyền, mắt thấy chỉ cần băng qua một con phố ngang nữa là tới nơi, hắn không khỏi tăng tốc bước chân, nhưng đúng lúc này hắn chợt nghe thấy phía sau truyền đến một tiếng mèo kêu.




Tiếng kêu chói tai như móng tay sắc nhọn rạch toạc đêm đông tĩnh mịch, khiến Tưởng Ngũ rùng mình ớn lạnh.




Hắn vô thức ngoảnh đầu lại, thấy trên đầu tường phường có một bóng đen nhỏ bé đang ngồi xổm. Tưởng Ngũ tiến lên vài bước, giơ cao đuốc soi thử, thấy đó là một con mèo tam thể.




Hắn cúi người nhặt một cục băng dưới đất, nhắm thẳng về phía con mèo đen trên tường mà ném mạnh. Con mèo đen linh hoạt né tránh, lại cất tiếng kêu với hắn một lần nữa.




“Đồ súc sinh!” Tưởng Ngũ chửi đổng một tiếng, xoay người định đi tiếp, nhưng khóe mắt bỗng thoáng thấy một bóng người vụt qua góc tường.




Đó không phải là chó mèo hay thú nhỏ, rõ ràng là một con người.




Ngày mai đã là đại triều Nguyên Đán, vậy mà đêm nay trên đại lộ lại có kẻ dám phạm lệnh giới nghiêm!




Khu vực từ phường Quảng Đức đến phường Diên Khang đều thuộc quyền quản lý của phủ Kinh Triệu, nếu vào thời khắc then chốt này mà xảy ra hỗn loạn, chức Pháp tào Tham quân của hắn cũng khó lòng giữ nổi.




Hắn chẳng chút do dự đuổi theo.




Kẻ kia hiển nhiên cũng phát hiện ra hắn, lập tức quay đầu chạy thục mạng.




Tưởng Ngũ tay giơ cao đuốc, sải bước đuổi gắt, vừa chạy vừa quát lớn: “Kẻ nào gan lớn dám phạm lệnh giới nghiêm, đứng lại cho ta!”




Bóng người kia chạy rất nhanh, cũng may Tưởng Ngũ vốn có đôi chân dẻo dai nên vẫn bám sát không rời.




Hắn thò tay vào ngực áo định lấy còi xương để gọi thêm sai dịch tuần đêm đến hỗ trợ, nhưng khi đưa còi lên miệng, hắn lại thoáng do dự.




Tên tặc tử này vừa thấy hắn đã chạy, biết đâu đang âm mưu đại án gì đó, nếu một mình hắn có thể tóm gọn thì chẳng phải là lập được công lớn sao?




Chút tư tâm ấy khiến hắn nhét chiếc còi xương trở lại vào ngực áo.




Cả hai đuổi nhau đến tường nam phường Diên Khang. Kẻ kia dường như biết rõ không thể thoát thân trên những đại lộ phẳng lỳ và vuông vức như bàn cờ, hắn khựng lại một nhịp rồi bất ngờ tung người nhảy vọt lên, hai tay bám chặt mép tường, linh hoạt lộn người qua đầu tường, thân thủ nhanh nhẹn y hệt con mèo tam thể lúc nãy.




Nếu chỉ là tiểu tặc thông thường thì thôi, nhưng có thân thủ cỡ này, không là đại đạo giang hồ thì cũng là quân phản nghịch, để xổng mất thì chuyện lớn sẽ hỏng bét.




Tưởng Ngũ cầm đuốc thì không tiện leo tường, cũng may trên trời không mây, ánh sao đủ để nhìn rõ bóng người. Hắn dập tắt ngọn đuốc đặt sang một bên, nhổ bãi nước bọt vào lòng bàn tay, nhảy lên ba bốn lượt cuối cùng cũng bám được đầu tường mà bò lên.




Tên tặc tử kia đương nhiên đã sớm nhảy xuống tường tẩu thoát, nhưng Tưởng Ngũ đứng trên cao nhìn xuống, lần theo các trục đường chữ thập và ngõ ngách trong phường mà tìm kiếm, chỉ loáng sau đã phát hiện bóng người kia đang chạy về phía một con ngõ cách đó không xa.




Tưởng Ngũ phấn chấn tinh thần, suýt nữa thì cười to thành tiếng, địa hình vùng này không ai thông thuộc hơn hắn, tên tặc kia chắc hẳn là lâm vào đường cùng chạy quàng chạy xiên, thế nào lại đâm đầu vào một con ngõ cụt.




Hắn men theo tường phường trườn xuống, lập tức truy đuổi vào sâu trong ngõ.




Thế nhưng khi chạy đến tận cùng con ngõ, bóng dáng người kia đã biến mất không một dấu vết.




Chẳng lẽ gặp ma rồi? Tưởng Ngũ nhớ lại những chuyện kỳ quái trên phố phường mà đám sai dịch hay truyền tai nhau lúc rảnh rỗi, trong lòng bỗng dâng lên một luồng khí lạnh căm căm.




Biết thế lúc nãy hắn không nên một mình đuổi giặc, cứ thổi còi gọi thêm vài người tới có phải hơn không.




Đang mải suy tính, sau gáy hắn lại vang lên một tiếng mèo kêu thê lương.




Tưởng Ngũ đột ngột quay đầu lại, một khuôn mặt quái dị hung tợn thình lình hiện ra ngay trước mắt, trên khuôn mặt trắng bệch cứng đờ là hai hố đen sâu hoắm.




Tưởng Ngũ không kìm được tiếng hét thất thanh, lùi lại hai bước, bấy giờ mới nhận ra khuôn mặt hãi hùng kia chỉ là một chiếc mặt nạ giấy bồi.




“Giả thần giả quỷ!” Hắn vừa định rút đao, nào ngờ đối phương còn nhanh hơn hắn một bước.




Một tiếng “keng” sắc lạnh vang lên, lưỡi đao rời vỏ, cảm giác lạnh lẽo lập tức áp sát vào cổ họng hắn.




Tưởng Ngũ sống từng này tuổi đầu, đây là lần đầu tiên bị người ta kề đao vào cổ, sợ đến mức hai chân run rẩy, đâu dám động đậy lung tung: “Ngươi… ngươi hạ đao xuống đã, có gì từ từ nói. Trong túi tiền bên hông ta có một lượng ba tiền bạc, vị huynh đài đây nếu có gì khó khăn, chúng ta đều có thể thương lượng…”




Người kia nói: “Ta hỏi ngươi vài câu, nếu dám nhúc nhích hay kêu la, ta sẽ làm thịt ngươi.”




Giọng nói truyền qua lớp mặt nạ nghe nghèn nghẹn, dường như đã cố tình hạ thấp tông giọng, nhưng vẫn có thể nghe ra người đang nói là một nữ tử. Tưởng Ngũ nhớ lại thân thủ nhẹ nhàng linh hoạt khi leo tường vượt vách lúc nãy, bấy giờ mới vỡ lẽ.




Nhưng hắn vẫn giả vờ như không biết: “Huynh đài cứ việc hỏi, tại hạ biết gì sẽ nói nấy.”




“Lương Dạ đang ở đâu?” Người kia hỏi.




Tưởng Ngũ ngẩn người: “Lương Dạ là ai? Huynh đài có phải nhận nhầm người rồi không…”




Lời còn chưa dứt, cổ hắn đã nhói lên như bị ong rừng đốt, một giọt chất lỏng nóng hổi men theo cổ chảy vào trong cổ áo.




“Không nhớ thì để ta giúp ngươi nhớ lại.” Người nọ nói, “Đã nhớ ra chưa?”




Tưởng Ngũ vội vàng đáp: “Nhớ ra rồi, nhớ ra rồi! Huynh đài đang nói đến vị Lương Thám hoa đó sao? Không biết huynh đài có quan hệ thế nào với Lương công tử?”




“Hắn ở đâu?” Người nọ không trả lời, chỉ gặng hỏi.




“Hắn… hắn… tại hạ cũng không biết…” Tưởng Ngũ mới nói được một nửa, lưỡi đao lại lún sâu thêm vào da thịt.




Hắn vội vàng van xin: “Tại hạ không hề lừa gạt huynh đài, tại hạ chỉ phụng mệnh tìm một cái cớ để đưa hắn về nha môn giam giữ vài ngày nhằm đe dọa chút thôi, không hề làm hại hắn dù chỉ mảy may, chẳng bao lâu sau đã thả hắn ra rồi… Lương Thám hoa là đắc tội với quý nhân, Tưởng mỗ và hắn không thù không oán, chỉ là nghe lệnh mà làm việc, huynh đài đừng tìm nhầm người báo thù mà!”




Người kia cười lạnh một tiếng: “Không làm hại mảy may? Vậy chân của hắn vì sao mà gãy?”




Tưởng Ngũ cứng họng: “Chân của hắn… chân của hắn…”




Lời chưa nói hết, cổ chân hắn bỗng truyền đến một cơn đau kịch liệt. Hóa ra người nọ đã đá một cú vào xương mắt cá chân của hắn, lực đá tuy không nặng nhưng dùng thốn kình, đau đến mức đầu gối hắn run rẩy, trực chờ quỵ xuống.




“Nói hay không?” Người nọ lại hỏi.




Tưởng Ngũ đành phải thừa nhận: “Vị quý nhân kia muốn hỏi Lương Thám hoa vài chuyện, nhưng hắn nhất quyết ngậm miệng không nói. Chúng ta vốn chỉ định dọa hắn một chút, nào ngờ Lương Thám hoa lại là một kẻ xương cứng, những ngón đòn roi trượng thông thường không có tác dụng với hắn, cấp trên liền chỉ thị dùng… dùng kẹp chân… Tưởng mỗ thấy hắn đáng thương, cũng đã âm thầm dặn dò sai dịch ra tay nhẹ thôi, đừng kẹp nát xương mắt cá của hắn, để sau này ra ngoài chạy chữa tử tế thì sẽ không để lại tật ở chân…”




Hắn ra sức biện bạch cho bản thân, nhưng rốt cuộc vẫn thấy chột dạ, vừa nói vừa lén quan sát sắc mặt đối phương. Thế nhưng dưới lớp mặt nạ trắng bệch tử khí kia đương nhiên không thấy được biểu cảm, ngay cả đôi mắt cũng ẩn hiện trong hai hốc đen sâu hoắm, chẳng thể nhìn thấu.




Nữ tử im lặng hồi lâu mới hỏi: “Các ngươi đã giam hắn bao lâu?”




“Cũng chỉ chừng ba năm ngày…” Tưởng Ngũ còn chưa nói hết câu đã biến thành một tiếng hét thảm thiết.




“Rốt cuộc là ba ngày hay năm ngày?”




“Năm ngày, năm ngày…”




Người nọ nói: “Trong năm ngày đó hắn đã phải chịu những khổ hình gì, ngươi nói cho rõ ràng. Chỉ cần bỏ sót một chuyện, ta sẽ giết sạch già trẻ lớn bé nhà ngươi.”




Tưởng Ngũ nghe giọng điệu tàn nhẫn của nữ nhân này thì không dám ôm tâm lý may mắn nữa, đành phải khai ra việc cấp trên đã sai bọn chúng tìm cớ để lén bắt Thám hoa lang vào ngục tối ngay trong đêm như thế nào.




Bọn chúng không cho ăn, không cho nước uống, suốt mấy chục canh giờ không cho hắn ngủ, dùng đủ mọi thủ đoạn thẩm vấn phạm nhân như roi trượng, kẹp chân, kim sắt… để ép hỏi xem đống chứng cứ thu thập được đang giấu ở đâu. Thế nhưng, từ đầu đến cuối hắn vẫn nhất quyết không hé môi nửa lời.




“Chúng ta cũng không dám thật sự lấy mạng hắn, đến kỳ hạn mà vẫn không hỏi ra được gì nên đành phải thả hắn đi.” Tưởng Ngũ nói.




“Thả thế nào? Thả ở đâu? Nếu đã thả, hiện giờ hắn đang ở phương nào?”




Tưởng Ngũ ấp úng không nói rõ được.




“Là các ngươi đã hại chết hắn, có phải không?”




Tưởng Ngũ cảm thấy lưỡi đao càng khảm sâu vào da thịt, sợ đến mức mồ hôi lạnh chảy ròng ròng: “Xin hiệp sĩ minh xét cho, tiểu nhân thực sự không muốn hại mạng Thám hoa lang… Thẩm vấn đến đêm ngày thứ năm, hắn phát cơn sốt cao, mắt thấy tình hình không ổn, tiểu nhân đã sai người lấy cháo cho hắn ăn nhưng không tài nào đổ vào được nữa. Đến tảng sáng thì hắn không xong, cấp trên hạ lệnh bí mật đưa hắn ra khỏi thành, tìm một nơi hẻo lánh không người mà… an táng…”




Người nọ lặng đi hồi lâu không lên tiếng, chỉ có cổ tay cầm đao là không ngừng run rẩy.




“Tưởng mỗ và Lương Thám hoa vốn không có thù hằn cá nhân, nhìn một người đang lành lặn ra nông nỗi ấy, trong lòng cũng không nỡ, chỉ là hắn đã chọc giận quý nhân, không ai dám giúp hắn thoát thân… Sau cùng chính là ta đã đưa hắn ra khỏi thành, đoạn đường cuối cùng ấy không để hắn phải chịu khổ…”




“Ngươi chôn hắn ở đâu?” Người nọ hỏi, giọng nói lúc này nghe không còn giống tiếng người, mà tựa như tiếng gầm gừ phát ra từ cổ họng của một con thú dữ đang bị vây hãm.




“Không chôn, không có chôn…” Tưởng Ngũ đáp, “Là tự Lương Thám hoa dặn dò như vậy. Lúc đó hắn sốt đến mê sảng, chỉ thanh tỉnh được một lát trước lúc lâm chung liền dặn tiểu nhân hãy thả hắn xuống nước. Tiểu nhân hỏi hắn vì sao không muốn nhập thổ vì an, hắn nói sông ngòi hồ biển đều thông nhau, nước có thể đưa hắn về quê nhà, ở nơi đó vẫn có người đang đợi hắn.”




*




Tinh Nguyệt: Tim tôi đau quá man, thương Tiểu Dạ, đọc câu cuối chương này mà rơm rớm nước mắt.




Thế là không còn bí cảnh thứ 7 nữa rồi, theo như tác giả thông báo thì sắp kết thúc rồi. Tôi vừa muốn biết kết cục, lại không muốn hết truyện…




Cầu mong là HE, cầu mong Tiểu Dạ và Tiểu Hải Triều có 1 cái kết viên mãn, chưa truyện nào mà tôi mong HE như truyện này.




Tín nữ nguyện nhịn uống trà sữa 2 tháng để đối lấy 1 kết truyện có hậu!!!

truyen full, truyenfull, truyenfullvn, truyenfulllive

truyenfull,truyenfull.com