Mộng Hồi Tây Châu - Tả Ly Thanh

Chương 266: Trường An (2)



Mùng một Tết Nguyên đán, trời còn chưa hửng sáng, văn võ bá quan cùng sứ thần các nước đã tay cầm đuốc xếp hàng dài, đứng đợi ngoài Đãi Lậu viện bên ngoài cửa Kiến Phúc của cung Đại Minh, chờ giờ mở cửa cung.




Khoảng thời gian chờ đợi lúc nào cũng dài đằng đẵng, các quan viên khó lòng kìm được mà thấp giọng bàn tán về hai vụ kỳ án xảy ra trong thành đêm qua.




Oai oăm thay, cả hai vụ án đều xuất phát từ phủ Kinh Triệu.




Vụ thứ nhất là Pháp tào Tham quân Tưởng ngũ lang mất tích. Đêm qua sau khi tan ca lẽ ra hắn phải về nhà đón năm mới, thế nhưng người trong nhà đợi đến tận bình minh vẫn không thấy tin tức gì, con trưởng của hắn bèn mang lệnh bài đến nha môn tìm người, mới biết hắn đã rời đi từ sớm. Nha dịch phủ Kinh Triệu cùng Kim Ngô Vệ đã lùng sục khắp các con phố lân cận mà chẳng thấy tăm hơi, ngay cả buổi triều hôm nay hắn cũng không xuất hiện.




Pháp tào Tham quân suy cho cùng cũng chỉ là một tiểu quan Thất phẩm, ở chốn Trường An này chẳng đáng vào đâu, có khi lại vì quá chén mà gục ở nhà tú bà nào đó, làm lỡ chính sự cũng nên.




Thế nhưng, vụ án còn lại thì kinh hãi hơn nhiều, Phủ doãn phủ Kinh Triệu cùng phu nhân, một cặp nhi nữ và vài tôi tớ trong nhà, tất cả đều bị sát hại dã man ngay trong giấc nồng.




Thủ đoạn của hung thủ vô cùng điêu luyện gọn gàng, các nạn nhân đều bị cắt đứt cuống họng, trên người chỉ có một vết thương chí mạng ở cổ, rõ ràng là do cao thủ thực hiện.




Phủ đệ của Phủ doãn phủ Kinh Triệu đâu phải nơi người thường muốn đột nhập là có thể vào, chúng quan viên đều âm thầm suy đoán, không biết Chu Phủ doãn rốt cuộc đã đắc tội với thế lực phương nào.




Cả hai vụ án đều xảy ra ở phủ Kinh Triệu, tuy nói chưa chắc đã có mối liên hệ với nhau nhưng vẫn được đồng thời bẩm báo lên Đại Lý Tự. Có điều chuẩn bị diễn ra đại triều Tết Nguyên Đán, ắt hẳn phải qua ngày hôm nay mới có thể điều tra tường tận.




Có chuyện để hàn huyên, thời gian trôi qua nhanh hơn hẳn. Chẳng mấy chốc, phương Đông lộ ánh bình minh, cửa cung rộng mở, văn võ bá quan chia làm hai hàng trái phải, nối đuôi nhau tiến vào hoàng cung.




Họ đứng định hình theo thứ tự ngoài cửa Quang Thuận, hướng về phía Quý phi trong điện Tử Thần hành lễ bái triều.




Kể từ khi Tiên hoàng hậu băng hà vài năm trước, ngôi vị Trung cung vẫn luôn bỏ trống. Hoàng đế từng nhen nhóm ý định lập Quý phi làm Hậu, ngặt nỗi quần thần dâng sớ can ngăn, lại thêm phần lo nghĩ cho Thái tử nên đành phải bãi bỏ.




Tuy vậy, ngoại trừ danh phận Hoàng hậu ra, mọi đãi ngộ thực tế của Quý phi chẳng khác nào bậc mẫu nghi thiên hạ, ngay đến nghi lễ bái triều trong ngày đại hội Nguyên Đán cũng được xếp ngang hàng với Hoàng hậu.




Sau khi nhận lễ bái từ bách quan, Quý phi lui về nội đình để đón tiếp các vị mệnh phụ vào triều bái kiến. Trong khi đó, các quan viên được lễ quan dẫn đường đến trước điện Hàm Nguyên, bước lên từng bậc thềm của con đường Long Vĩ, tiến vào chính điện để triều bái Thiên tử.




Hệ thống nghi lễ này vô cùng rườm rà và kéo dài, không cho phép xảy ra bất kỳ sai sót nhỏ nào, mấy vị đại thần tuổi cao sức yếu phải đứng suốt vài canh giờ, mệt đến mức hoa mắt chóng mặt.




Sau khi triều bái xong xuôi, Hoàng đế rời long tọa lui vào nội điện thay y phục, bách quan như được đại xá, lục tục kéo nhau ra khỏi điện Hàm Nguyên.




Lúc này trời đã gần trưa, sau buổi triều hội chính là ngự yến.




Những năm trước, đại yến Nguyên Đán đều được tổ chức tại điện Lân Đức hướng ra hồ Thái Dịch, năm nay Hoàng đế lại có ý tưởng độc đáo, dời yến tiệc lên ngay trên mặt hồ. Quần thần nối gót nội thị bước đến gần hồ Thái Dịch, đập vào mắt họ là một thủy điện mới dựng bên bờ hồ, được chạm vàng tô ngọc, gấm vóc bay lượn phấp phới, dưới ánh nắng ban trưa hiện lên vẻ lộng lẫy, nguy nga đến nghẹt thở.




Một nửa phần nền móng của thủy điện ấy vươn dài ra giữa lòng hồ, tựa như một chiến thuyền khổng lồ lơ lửng trên sóng nước.




Hoàng đế và Quý phi khoác tay nhau đứng trên bậc thềm, mỉm cười gật đầu chào quần thần.




Quý phi tuy đã ở tuổi tứ tuần nhưng nhan sắc không già, nhìn qua cứ ngỡ thiếu nữ đôi mươi, dáng người đầy đặn ung dung, diễm quang bốn phía. Hoàng đế chỉ lớn hơn bà sáu tuổi, vậy mà tóc mai đã điểm sương, da thịt chảy xệ, trông hai người như cách nhau cả một thế hệ.




Khi nãy chúng thần và tiết sứ hành lễ với Quý phi là cách một lớp cửa cung, thông qua lễ quan truyền lời đối đáp. Đây là lần đầu tiên nhiều người được tận mắt chiêm ngưỡng dung nhan của bà, trong lòng thầm cảm thán, bảo sao suốt mười mấy năm qua Quý phi vẫn nhận được sủng ái độc tôn không suy chuyển, quả thực là dung mạo của bậc thiên nhân.




Hoàng đế đã thay triều phục, mặc long bào màu đỏ sẫm, đội mũ Thông Thiên. Quý phi cũng đổi sang lễ phục chính thức, mái tóc đen dày như mây được cài mười hai chiếc trâm hoa. Theo lễ chế, chỉ Hoàng hậu mới được phép cài mười hai trâm, còn Quý phi dù địa vị cao nhất cũng chỉ được dùng chín chiếc, cách ăn mặc này vốn đã là vượt quá thân phận, nay bà ta lại còn ngồi cùng Hoàng đế mở tiệc chiêu đãi bá quan văn võ, quả thực là chuyện xưa nay hiếm thấy.




Thực ra từ vài tháng trước, Hoàng đế đã hạ sắc lệnh cho Lục bộ, xây dựng một chiếc thuyền khổng lồ trên hồ Thái Dịch. Ban đầu, ngài dự định sau khi yến tiệc tàn sẽ cùng tông thất và cận thần tổ chức tiệc riêng trên thuyền để chúc mừng sinh thần Quý phi, thế nhưng Thị trung lại lấy lý do “trùng tiệc lãng phí”, dâng sớ kiến nghị gộp hai buổi yến tiệc làm một.




Cách đó không lâu, tấu chương xin lập Hậu cho Quý phi vừa bị bác bỏ, hành động này của Thị trung tất nhiên là muốn Quý phi xuất hiện trước mặt các tiết sứ và quần thần với tư thế mẫu nghi thiên hạ. Vì chuyện này mà triều đình đã tranh cãi đến nảy lửa, đặc biệt là các ngôn quan bảo vệ chính thống đua nhau dâng lời can gián, hoàng đế có lẽ vì muốn bù đắp cho sủng phi nên sống chết không chịu nhượng bộ. Cuối cùng, vào vài ngày trước khi yến tiệc diễn ra, Trưởng công chúa bất ngờ đứng ra làm người hòa giải, bấy giờ Hoàng đế mới được toại nguyện.




Hoàng đế cảm kích đại tỷ đã chia sẻ lo toan cùng mình, liền phá lệ mời Trưởng công chúa cùng dự yến.




Chúng thần lần lượt tiến vào đại điện, dựa theo phẩm cấp chức vị mà an tọa vào hàng ghế của mình.




Quy mô của cung điện giữa hồ tuy có phần nhỏ hơn điện Lân Đức, nhưng để dung nạp trăm triều thần cùng tiết sứ thì vẫn dư thừa.




Yến tiệc vừa bắt đầu, Hoàng đế và Quý phi đã ngồi chung một sập, nghiễm nhiên chỉnh tề như một cặp Đế Hậu.




Trong lòng không ít người cảm thấy kỳ quái, lén đưa mắt nhìn sang phía Thái tử và Trưởng công chúa, lại chỉ thấy hai người họ như không có mắt nhìn, vẻ mặt điềm nhiên như không.




Nội thị dâng lên Hoàng đế và Quý phi rượu tiêu bách và mâm ngũ tân. Hoàng đế cùng Quý phi cùng nâng chén vàng, sóng vai chúc rượu, quần thần dưới đài cũng lục tục nâng ly, đồng thanh chúc mừng năm mới cùng ngày sinh thần của Quý phi.




Trong phút chốc, tiếng chúc tụng trong điện vang lên như sấm dậy, suýt chút nữa đã khuấy động cả mặt nước hồ Thái Dịch cuộn lên từng hồi sóng.




Tiếng chúc tụng vừa dứt, Thái tử liền đứng dậy, cung kính chắp tay về phía Hoàng đế chúc mừng năm mới, lại chúc Quý phi vạn thọ vô cương. Kế đó, sứ thần các nước lần lượt dâng rượu chúc mừng. Cuối cùng, Thị trung Lư Đạo Nhân đại diện cho bách quan cung kính chúc tụng Quân vương và Quý phi. Quý phi nhìn về phía huynh trưởng của mình, nét hân hoan trong mắt chẳng thể nào che giấu.




Hai huynh muội bọn họ, một người đứng đầu hàng đại thần, một người độc chiếm thánh sủng không suy, hai gương mặt có phần tương tự nhau lúc này cùng rạng rỡ vinh quang, đắc ý vẹn tròn.




Chúc rượu xong xuôi, Quý phi nói nhỏ bên tai Hoàng đế: “Thiếp xin phép cáo lui trước.”




Hoàng đế nắm lấy cổ tay bà: “Chờ chút đã, trẫm có quà sinh thần tặng nàng.”




“Thánh thượng thật có lòng.” Đôi má Quý phi ửng hồng, được một lúc, dường như không kìm nén được trí tò mò, bà bèn nép sát vào người Hoàng đế hỏi nhỏ: “Thánh thượng có thể bật mí cho thiếp biết, đó là thứ bảo vật gì không?”




Bà nhìn Hoàng đế, ánh mắt lấp lánh niềm vui sướng và nôn nóng như một thiếu nữ, nhưng lại chẳng hề khiến người ta cảm thấy điệu bộ ngây ngô, ngược lại chỉ thấy một vẻ tự nhiên thuần khiết.




Hoàng đế mỉm cười, cố ý lấp lửng: “Không vội, trước tiên cứ thưởng nhạc đã.”




Khúc “Tần Vương Phá Trận” cất lên, hơn trăm giáp sĩ khoác giáp bạc, bên trong mặc áo tím, tay cầm trường kích và khiên lớn. Theo nhịp trống dồn dập, tiếng kèn và tiếng tù và vang vọng, họ xông pha múa trận, đội hình biến hóa liên hồi, khí thế hào hùng như sóng cuộn.




Đây là vũ điệu khúc nhạc bắt buộc phải diễn trong mỗi buổi Đại triều mùng một Tết, thế nhưng Quý phi thân là phi tần chốn thâm cung lại là lần đầu tiên được thưởng ngoạn. Chẳng biết là vì bị bầu không khí hùng tráng sục sôi của khúc nhạc truyền cảm hứng, hay vì lòng phấn khích khó kìm nén, bà không nhịn được mà vỗ tay tán thưởng.




Một khúc múa tàn, các vũ công lui xuống, Hoàng đế ra hiệu cho nội thị mở toang những cánh cửa nhìn ra mặt hồ, rồi dắt tay Quý phi, dẫn theo quần thần bước ra thủy tạ, tựa vào lan can phóng tầm mắt nhìn xa.




Một chiếc thuyền hoa từ bờ bên kia chầm chậm rẽ sóng tiến lại.




Rèm gấm trên thuyền được vén lên, để lộ khung cảnh như Bồng Lai tiên đảo, dẫu chỉ là cảnh trí dựng bằng khung tre bọc gấm, nhưng trên đó lại dựng đủ lầu son gác tía chế tác từ vàng bạc, những thân cây phủ bạc lá treo đầy hoa lụa mỏng và những chiếc lá bằng ngọc bích xanh biếc. Giữa cành lá, chim chóc, ong bướm kết bằng nhung đủ màu được treo bằng những sợi tơ mảnh, mỗi khi gió khẽ lướt qua, chúng lại phát ra những tiếng leng keng trong trẻo, như đang chập chờn bay lượn giữa rừng hoa.




Khi mọi người vẫn còn mải mê trầm trồ, từ giữa Bồng Lai tiên đảo từ từ hiện lên một đài sen tám báu. Trên đài, một người Hồ khoác y phục rực rỡ, tay cầm sáo ngọc thổi khúc nhạc du dương, trước mặt là đôi tuấn mã Hãn Huyết, một vàng một trắng, lưng đeo yên cương nạm ngọc quý. Theo tiếng sáo réo rắt, chúng dậm vó, uyển chuyển múa đối diện nhau.




Quý phi che miệng thốt lên kinh ngạc, ánh mắt ngập tình ý nhìn về phía bậc quân vương: “Đây chính là đại lễ mà Thánh thượng nói đó sao?”




Hoàng đế cười lớn: “Đây là chiến mã Hãn Huyết do Ninh Viễn quốc tiến cống. Nàng cùng Sửu Nhi đều giỏi cưỡi ngựa, vừa vặn mỗi người một con.”




Sửu Nhi là nhũ danh của Thái tử, Quý phi nghe vậy, ánh sáng trong mắt hơi tối xuống, nhưng chỉ một lúc sau lại ngước khuôn mặt tươi cười lên: “Chiến mã quý báu như vậy đưa cho thiếp thì thật lãng phí. Thánh thượng cưỡi đi săn xuân là hợp nhất, thiếp chỉ cần ở bên cạnh chiêm ngưỡng anh tư của Thánh thượng là đã mãn nguyện lắm rồi.”




Hoàng đế bóp nhẹ tay bà, ngài thích Quý phi vui giận đều hiện rõ ra mặt, cũng thích cái tính khí tiểu thư biết thu biết phóng, biết tiến biết lùi của bà.




Ngài mỉm cười ghé tai bà thì thầm một câu, Quý phi lườm ngài một cái đầy hờn dỗi, rặng mây hồng lập tức bay lên má.




Hoàng đế nghiêm nét mặt nói: “Nhìn cho kỹ, vẫn còn món quà đặc biệt chuẩn bị riêng cho nàng đây.”




Trong lúc lời nói còn chưa dứt, người luyện ngựa đã dẫn đôi ngựa bước xuống khỏi đài sen.




Tiếp theo là hàng loạt các tiết mục bách hí như leo cột, múa tung hứng bóng, múa kiếm… luân phiên lên đài, đan xen cùng những khúc nhạc tơ trúc réo rắt tuyệt diệu, khiến người xem không khỏi hoa mắt nể phục, nhìn không xuể mắt.










Mười mấy khúc nhạc dứt, tiếng đàn ca đột ngột dừng lại, các nhạc công, kỹ nghệ bách hí đều đã lui vào trong khoang thuyền, đài sen hạ xuống, trên tiên đảo lại một lần nữa tịch mịch không một bóng người. Con thuyền hoa chậm rãi chèo về phía bờ bên kia, để lại trên mặt nước một vệt sóng dài dằng dặc.










Quý phi có chút hụt hẫng: “Chẳng lẽ thế này là kết thúc rồi sao?”










Lời còn chưa dứt, bỗng có tiếng tiêu không biết từ nơi nào vang lên, thanh tao cao vút đâm thẳng vào mây xanh, một con cá hồng khổng lồ phá nước lao ra, rồi lại lặn xuống lòng hồ.










Ngay tại nơi nó vừa rẽ nước, một đóa hoa sen khổng lồ lập tức bung nở từng lớp từng lớp cánh hoa.










Cứ lặp đi lặp lại như thế vài lần, trên mặt nước “nở” rộ mười mấy đóa sen hồng lớn nhỏ khác nhau. Mỗi đóa đều có tới hàng trăm lớp cánh hoa làm bằng lụa mỏng, đài sen ở chính giữa được mạ vàng thật, lấp lánh ánh quang mang chói mắt dưới ánh mặt trời ban trưa.










Con cá hồng kia lượn lờ quanh mấy đóa hoa sen một lát, rồi bỗng nhiên ẩn mình xuống đáy nước.










Ngay vào lúc mọi người đang đưa mắt tìm kiếm tung tích của nó, thì lại nghe một tiếng “ào” vang dội, một dải lụa bạc phá nước lao lên, tựa như một con rồng bạc lượn vòng bay múa giữa không trung.










Mọi người nhìn đến hoa cả mắt, ghé mắt nhìn kỹ mới lờ mờ thấy được một bóng người tay cầm dải lụa bạc, một bên dốc sức vung múa, một bên xoay tròn trên mặt nước, đôi bàn chân trần của người đó, mỗi một nhịp hạ xuống đều chuẩn xác đạp ngay giữa tâm hoa sen.




Ai nấy nhìn thấy cảnh tượng này đều nín thở không dám chớp mắt.










Quý phi kéo nhẹ chiếc áo choàng lông cáo trắng trên người, cảm thán: “Vũ cơ này thân thủ thật nhanh nhẹn, nàng ta ngâm mình dưới đáy nước như vậy mà không sợ lạnh sao? Thiếp nhìn thôi cũng thấy lạnh toát cả người.”










Hoàng đế chưa kịp đáp lời, tên nội thị đứng hầu bên cạnh đã lên tiếng: “Bẩm Quý phi nương nương, người này vốn là nữ tử đào ngọc trai ở Hợp Phố. Vở kịch Ngư Long Mạn Diễn này có tên là ‘Long Nữ Hiến Thọ’, do Lĩnh Nam đặc biệt tiến cống đấy ạ.”










Hoàng đế bèn trêu chọc Quý phi: “Dân chài xứ biển cả năm bốn mùa đều lặn xuống biển sâu, đâu có sợ lạnh như nàng.”










Thấy Quý phi lộ vẻ hờn dỗi, ngài lại hỏi: “Vở Long Nữ Hiến Thọ này nàng có thích không?”










Quý phi đáp: “Thích lắm. Thiếp có đức có tài gì mà khiến Thánh thượng phải hao tâm tổn tứ đến nhường này.”










Xem kịch một lát, Hoàng đế như chợt nhớ ra điều gì, quay sang hỏi nội thị: “Trẫm nhớ không lầm thì Đỗ Văn Lương bị điều ra làm quan ở Lĩnh Nam phải không?”










Nội thị đáp: “Bẩm Thánh thượng, Đỗ lão gia hiện đang giữ chức Thứ sử Liêm Châu, lễ vật triều cống của Lĩnh Nam lần này chính là do một tay ông ấy an bài.”










Hoàng đế cười cười lắc đầu: “Lão già bảo thủ ấy xem ra giờ đã thông suốt rồi, biết thế này thì ngày trước hà tất phải làm vậy.”










Nói đoạn, ngài lại quay sang Quý phi: “Ông ta đây là đang cúi đầu nhận lỗi với nàng đấy. Thế nào, đã nguôi giận chưa?”










Quý phi nũng nịu: “Chuyện triều đường thiếp đâu dám can dự vào. Điều đi hay gọi về, chẳng phải đều do một tay Thánh thượng định đoạt sao, kẻo người ngoài lại bảo thiếp là chốn hậu cung nà tham chính, họa quốc ương dân.”










“Chỉ là một lão già gàn dở thẳng tính mà thôi, đâu đến mức nghiêm trọng thế.” Hoàng đế dở khóc dở cười, “Thôi được rồi, nể tình ông ta là lão thần hai triều, lại từng là thầy dạy của Thái tử, qua một thời gian nữa trẫm sẽ triệu ông ta về kinh để an hưởng tuổi già. Trẫm chỉ sợ trong lòng nàng không được thoải mái mà thôi.”










Quý phi tỏ ra thấu tình đạt lý: “Đỗ lão một lòng vì dân, trung thành với xã tắc, mạo phạm can gián thẳng thắn cũng là vì việc công. Da mặt thiếp dày, có bị người ta mắng vài câu là Bao Tự, Đát Kỷ thì đã sao đâu.”










Hoàng đế liếc nhìn Trưởng công chúa đứng cách đó không xa, hắng giọng một tiếng: “Nhắc mới nhớ, mấy nghệ nhân bách hí này là do trẫm điều từ phủ của A tỷ tới đấy, việc dàn dựng các tiết mục này tỷ ấy cũng tốn không ít tâm sức đâu.”










Quý phi nghe vậy, ánh mắt hơi động, nhưng nụ cười trên mặt không giảm đi nửa phần: “Nhãn quang của Trưởng công chúa tất nhiên là cực tốt. Thiếp sớm đã nghe danh ca vũ trong phủ của người chẳng hề thua kém trong cung, chỉ mong có duyên được thưởng thức một lần.”










Hoàng đế nói: “Nếu có ngày rảnh rỗi, trẫm sẽ đưa nàng đi. Tính tình tỷ ấy chỉ hơi cứng nhắc thôi, thực chất không khó chung sống đâu, người một nhà thì nên đi lại nhiều một chút.”










Quý phi hiểu rõ ý tứ của Hoàng đế, việc bà cùng Thái tử và Trưởng công chúa bất hòa vốn đã là chuyện thiên hạ đều biết, nhưng ngoài mặt mà cứ như người dưng ngược lối mãi thì rốt cuộc không được thể diện.










Quý phi không tin Trưởng công chúa lại tốt bụng đến mức bỏ công sức vì tiệc sinh thần của mình, nhưng Hoàng đế cũng chẳng tự dưng mà nói ra lời này. Chẳng lẽ Trưởng công chúa thấy gió chiều nào theo chiều nấy, nhận thấy Thái tử không làm nên trò trống gì nên muốn xoay trục sang lấy lòng bà và huynh trưởng?










Thế nhưng ngay sau đó bà ta đã gạt phắt ý nghĩ này đi, Trưởng công chúa đã đối đầu với hai huynh muội bọn họ ròng rã bao nhiêu năm nay, làm sao có thể đột ngột quay giáo đầu hàng dễ dàng như vậy được.




Vậy thì tại sao Trưởng công chúa lại phải làm một việc thừa thãi như thế? Quý phi trầm ngâm nhìn về phía Trưởng công chúa, như thể cảm nhận được ánh mắt của bà, Trưởng công chúa quay đầu lại, khẽ hất cằm, nhìn bà bằng một nụ cười như có như không.




Quý phi nhoẻn miệng cười duyên dáng, nói với Hoàng đế: “Thánh thượng có thể cùng thiếp sang bên kia nói lời cảm tạ A tỷ không?”




Hoàng đế vô cùng hài lòng trước vẻ hiểu chuyện này, ngài vỗ vỗ mu bàn tay Quý phi: “Không phải vội, qua hai ngày nữa trẫm sẽ mời A tỷ vào cung hàn huyên.”




Lúc này, tâm trí Quý phi đều bận đoán định hàm ý trong nụ cười vừa rồi của Trưởng công chúa, đâu còn tâm trí nào mà xem bách hí nữa. Bà xoay người, kéo lại chiếc áo choàng lông cáo đen trên vai Hoàng đế: “Bờ hồ gió lạnh, xin Thánh thượng hãy bảo trọng long thể. Nếu vì thiếp mà ngài nhiễm phải phong hàn, thiếp có muôn chết cũng không chuộc hết tội.”




Hoàng đế đưa hai ngón tay đặt lên bờ môi bà: “Ngày lành cảnh đẹp, chớ nói lời xui xẻo.”




Nói đoạn, ngài dắt tay Quý phi quay trở lại đại điện.




Chúng thần cũng nối gót theo sau, tiếp tục dự yến.




Rượu qua tuần thứ mấy, ca vũ cũng đã thưởng xong một khúc, Quý phi đang định xin cáo lui rời tiệc thì Hoàng đế lại giữ chặt cánh tay bà: “Trẫm vẫn còn thứ muốn tặng nàng.”




Quý phi trêu đùa: “Đừng nói là vẫn còn trò ảo thuật nào chưa diễn xong đấy nhé?”




Lời vừa dứt, một nội thị đã tiến đến ghé tai Hoàng đế thì thầm vài câu, Hoàng đế gật đầu.




Nội thị liền lệnh cho đội nhạc vũ lui xuống.




Lát sau, một thiếu nữ nâng chiếc khay vàng hình hoa sen, bên trên phủ một tấm gấm đỏ, thong thả bước vào đại điện.




Thiếu nữ ấy mặc một bộ cẩm y màu thiên thanh, trên váy dùng chỉ vàng thêu kín hoa văn vảy cá. Mái tóc búi cao kiểu Phi Thiên được điểm xuyết bằng những hạt trân châu và vỏ sò ánh vàng, vài lọn tóc mai ướt đẫm dính sát vào đôi gò má màu mật ong. Đôi mắt đen trắng rõ ràng, long lanh như hai viên ngọc trai đen, trông nàng chẳng khác nào một tiên nữ vừa bước ra từ Long cung.




Quý phi nhận ra đôi mắt ấy: “Đây chẳng phải là người khi nãy…”




Chưa kịp nói hết câu, thiếu nữ đã tiến đến trước mặt, quỳ sụp xuống đất, nâng khay vàng quá đỉnh đầu, dùng giọng nói lảnh lót nhưng vẫn có âm hưởng địa phương mà thưa: “Lĩnh Nam kính hiến, cung chúc Quý phi phúc thọ dài lâu.”




Quý phi nhìn sang Hoàng đế, Hoàng đế bảo: “Đoán thử xem bên dưới là vật gì?”




Quý phi sao lại không đoán ra, nhưng bà cố tình không nói tuột mà chỉ mỉm cười lắc đầu: “Thiếp ngu muội, đoán sai lại để Thánh thượng chê cười.”




Hoàng đế nói: “Vậy thì mở ra xem đi.”




Quý phi đưa tay ra, rồi lại rụt về: “Xin Thánh thượng mở ra giúp thiếp.”




Hoàng đế bật cười, giơ tay lật mở tấm gấm đỏ phủ trên khay vàng, trên lớp đệm gấm màu đen chính giữa khay là một viên trân châu to bằng ngón tay cái đang nằm im lìm.




Quý phi tức khắc nín thở.




Khắp triều đình đều đồn rằng Quý phi vô cùng yêu thích trân châu, nhưng thực ra đó là vì Thiên tử thích ngắm bà đeo trân châu. Ngài thường khen bà da trắng mịn màng, tròn đầy như ngọc, lại càng tôn lên vẻ đẹp óng ánh của trân châu, còn trân châu cũng khiến nhan sắc của bà thêm rạng rỡ, từ đó bà mới dần yêu thích loại ngọc này. Cũng vì bà mà Thiên tử không tiếc công tìm kiếm kỳ trân dị bảo khắp thiên hạ, biết rõ sở thích ấy, các quan địa phương cũng thi nhau dâng lên đủ loại châu báu quý hiếm để lấy lòng.




Trên chiếc kim thoa cài tóc của bà hiện tại có khảm một viên trân châu hiếm có trên đời, đó là món quà Hoàng đế ban tặng vào năm bà hạ sinh tiểu công chúa, nghe nói vì viên châu đó được mò vào mùa đông nên lại càng trân quý hơn cả.




Thế nhưng nếu đem so với viên trước mắt này, thì ngay cả nó cũng trở nên tầm thường, mờ nhạt.




Viên trân châu dưới ánh đèn nến trong đại điện tỏa ra thứ hào quang màu hồng vàng rực rỡ, tựa như được phủ lên một lớp lụa mỏng bằng ánh sáng.




Quầng sáng ấy như thể có mị lực mê hoặc lòng người, khiến bà không tự chủ được mà vươn ngón tay ra.




Nhưng ngay vào khoảnh khắc đầu ngón tay bà vừa chạm vào viên châu, chiếc khay vàng bỗng nhiên nghiêng sang một bên, viên trân châu lập tức lăn tuột xuống.




Cũng may thiếu nữ kia mắt sắc tay nhanh, lập tức chìa tay ra, khéo léo đón gọn lấy viên châu, song lại không màng đến chiếc khay trên tay mình nữa. Chiếc khay vàng rơi bành bạch xuống đất, phát ra tiếng động choang choảng chói tai, khiến mọi người không khỏi đổ dồn ánh mắt về phía nàng ta.




Quý phi không vui, nhưng trước mắt bao người lại không tiện phát tác, chỉ rộng lượng đáp lời: “Không sao, đừng sợ.”




Dứt lời, bà ta chờ đợi thiếu nữ kia mau chóng thu dọn.




Nào ngờ, thiếu nữ ấy chẳng thèm đoái hoài đến chiếc mâm vàng trên mặt đất, gối bò hai bước, đột nhiên vén tấm lưới che lò sưởi bên sập ngồi của Quý phi lên, ném viên trân châu trong tay vào đống than hồng.




Quý phi trố mắt nhìn viên trân châu tròn trịa rơi vào đống lửa, trong nháy mắt đã bị ngọn lửa nuốt chửng.




Khắp điện ồ lên kinh hãi.




Chẳng biết là ai hoàn hồn trước tiên, cao giọng hô lớn: “Hộ giá!”




Tức thì, hai thị vệ xông lên, bẻ quặt hai tay nàng, ấn rạp xuống đất.




Thiếu nữ kia cũng chẳng buồn giãy giụa, gò má áp sát vào nền gạch vàng lạnh lẽo, vậy mà lại bật cười thành tiếng.




Tiếng cười ấy trong trẻo lanh lảnh, nhưng tựa như chứa đựng muôn vàn thê lương ai oán, nghe mà khiến người ta lạnh toát cả sống lưng.




Hoàng đế vừa phẫn nộ lại vừa nghi hoặc, dường như bị tiếng cười này làm lay động, không nhịn được mà lên tiếng hỏi: “Ngươi cười cái gì?”




Thiếu nữ đáp: “Dân nữ cười Thánh nhân vì một viên trân châu chết vô dụng mà làm quá lên, trong khi bậc rường cột nước nhà bị gian thần hại chết lại chẳng chút để tâm. Dân nữ còn cười Thánh nhân coi thường bách tính như địch như giặc, mà nào có hay kẻ địch thực sự đang đội mũ cao, ngồi chễm chệ trên điện ngọc nguy nga.”




Trong lòng Quý phi thoáng hiện âm u, nghiêm giọng quát lớn: “Làm càn!”




Bà ta quay sang nói với Hoàng đế: “Ả nữ nhân này hủy hoại cống châu còn dám nói lời càn rỡ, sao không mau áp giải ả xuống, tránh làm mất đi nhã hứng của Thánh nhân và bá quan…”




Hoàng đế trầm ngâm không nói, Quý phi phân phó thị vệ: “Còn không mau lôi người xuống đánh chết tại chỗ!”




Thị vệ đang định tuân lệnh, thì từ phía bên tay phải của Hoàng đế bỗng truyền đến một giọng nói trẻ tuổi: “Khoan đã.”




Thái tử thong thả đứng dậy, hành lễ với Hoàng đế, ôn tồn nói: “Khởi bẩm Thánh nhân, trên đời có đức hiếu sinh, nữ tử này tuy vô lễ nhưng tội chưa đến mức chết. Hơn nữa, nghe lời nàng ta nói dường như có ẩn tình, nhi thần thiết nghĩ chi bằng cứ nghe xem nàng ta muốn nói điều gì.”




Quý phi liếc nhìn Hoàng đế, dùng giọng điệu pha chút tủi hờn nhưng lại rất mực hiểu chuyện, dịu dàng thưa: “Thái tử nhân hậu, nhưng nơi này là điện đường Thánh nhân thiết yến ban thưởng cho tiết sứ tám phương, chứ không phải công đường xử án. Làm loạn trong quốc yến thật sự là bất nhã, để cho khách quan chê cười.”




“Quý phi nương nương nói rất phải.” Thái tử đáp.




Chàng ôn tồn hỏi thiếu nữ kia: “Ngươi có oan tình có thể đến quan phủ kêu oan, nếu thực sự không còn cách nào cũng có thể đến gõ trống Đăng Văn, gây chuyện tại ngự yến là điều vạn lần không nên. May mà Thánh nhân khoan hồng, Quý phi nhân thiện, bằng không nếu không gặp được minh chủ, e rằng ngươi đã phải chịu cực hình.”




Quý phi liếc lườm hắn một cái, trong lòng cười thầm, lời này của hắn là đang treo Hoàng đế và bà ta lên cao, nếu bây giờ còn xử tội ả ta chẳng hóa ra họ là hôn quân vô đạo sao.




Còn đang suy tính, lại nghe thiếu nữ kia nói: “Bẩm Điện hạ, dân nữ không dám đến quan phủ. Dân nữ nghe nói khắp kinh thành này, cho dù là nha môn nào cũng đều nghe lệnh Thị trung, cho dù có gõ trống Đăng Văn cũng không thoát khỏi bàn tay thao túng của ông ta. Phu quân chưa cưới của dân nữ chính là bị Kinh Triệu phủ bắt đi không minh không bạch rồi tra tấn đến chết, kẻ hạ lệnh chính là Thị trung!”




Lời này vừa thốt ra, trong điện lập tức rơi vào im lặng, ánh mắt mọi người đều đổ dồn về phía Lư Đạo Nhân.




Quý phi không tự chủ được mà giận dữ quát: “Ngươi ngậm máu phun người!”




Lư Đạo Nhân vội vàng đứng dậy rời tiệc, quỳ sụp xuống dập đầu: “Thần oan uổng! Thần hoàn toàn không hay biết việc này, xin Thánh nhân minh giám!”




Quý phi cũng quỳ sụp xuống đất, giọt nước mắt tủi thân đong đầy bờ mi: “Thị trung trung quân ái dân, một lòng vì xã tắc, tuyệt đối không làm ra những chuyện nghịch lý càn rỡ như vậy, nhất định là có kẻ hãm hại trung lương, xin Thánh nhân đòi lại công bằng cho Thị trung.”




Tả thượng thư râu tóc bạc phơ cũng theo đó rời tiệc, khom mình tấu: “Thị trung trước nay luôn tận tụy vì nước, giữ mình theo đúng phép tắc, tuyệt đối không phải hạng người ỷ thế h**p người coi thường quốc pháp. Nữ tử này lòng dạ khó lường, lại dám buông lời cuồng vọng ngay trong đại triều mừng Tết Nguyên Đán, chi bằng xử trảm tại chỗ để răn đe thiên hạ.”




Có ông ta dẫn đầu, các triều thần nhao nhao quỳ rạp xuống cầu tình cho Lư Đạo Nhân, tiếng “Khẩn cầu Thánh nhân minh giám” vang lên hết đợt này đến đợt khác.




Hoàng đế đảo mắt nhìn khắp nội điện, thấy triều thần đã quỳ xuống hơn phân nửa, số ít còn lại thì lặng im quan sát, không một ai lên tiếng trợ uy cho Thái tử.




Thái tử cũng chẳng hề nản chí: “Khởi bẩm Thánh nhân, nữ tử này mượn danh nghĩa dâng trân châu, không quản dặm Tr**ng X* xôi lên kinh tìm phu quân, xem ra không giống hạng người lòng mang mưu đồ bất chính. Có chăng là do nàng ta nghe phải lời đồn thổi ở phố chợ mới sinh lòng hiểu lầm Thị trung, tuy rằng ngu muội tối tăm, nhưng sự tình suy cho cùng cũng đáng cảm thương. Thánh nhân thương dân như con, hôm nay lại đúng vào dịp Tết Nguyên Đán, cũng là ngày thọ thần của Quý phi, e rằng không nên thấy máu. Kính xin Thánh nhân khoan dung cho con dân, để hiển rõ thánh đức.”




Tức thì có một vị thần tử lên tiếng phản bác: “Thái tử nhân hậu, e rằng đã lấy lòng mình đo lòng người. Nữ tử này mượn việc dâng châu mà buông lời mạo phạm ngay trước mặt tiết sứ tám phương, làm tổn hại đến quốc thể, chỉ e là có kẻ gian sai khiến sau lưng để phạm thượng tác loạn. Thần thiết nghĩ nên dùng nghiêm hình, ép ả phải khai ra kẻ chủ mưu đứng sau.”




Thái tử nghiêm sắc mặt nói: “Phạm Thị lang nói vậy là sai rồi. Thánh nhân từng giáo huấn ta: ‘Dân là quý nhất, kế đến là xã tắc, vua đứng sau cùng’. Thánh nhân thương dân như con chính là nghĩa như vậy, cho dù con dân có vội vã kêu oan mà lời nói hành vi có phần khiếm nhã, Thánh nhân cũng sẽ không khắt khe trách phạt. Còn như cái gọi là ‘tổn hại quốc thể’ lại càng là chuyện vô căn cứ. Nước ta là bậc đại quốc quân tử, lẽ nào chỉ vì vài câu nói của một bách tính tầm thường mà bị tổn hại hay sao?”




Thần tử kia không cách nào biện bạch, chỉ biết lầm bầm vài câu “không hợp quy củ” như bánh xe quay vòng rồi từ từ im bặt.




Thái tử lại hành lễ thật sâu với hàng ghế của các vị sứ thần: “Trong tiệc Nguyên Đán lại xảy ra chuyện thế này, làm mất đi nhã hứng của các vị quý tân, đó là lỗi của ta. Ta xin có lời tạ lỗi với chư vị tại đây.”




Các sứ thần nhao nhao rời tiệc đáp lễ, một người lên tiếng: “Điện hạ nói quá lời.”




Thái tử lững thững quay người, nói với Hoàng đế: “Thánh nhân, sự tình đã đến nước này, một mực điểm phấn tô hồng cho thái bình thịnh thế chi bằng hãy phân trần cho rõ ràng, làm sáng tỏ hiểu lầm, sớm trả lại thanh danh trong sạch cho Thị trung, cũng là để tránh cho tân khách trong lòng sinh ra hiềm khích.”




Từ đầu đến cuối Hoàng đế vẫn một mực im lặng, ánh mắt đảo một vòng quanh đại điện, rồi dừng lại trên một bóng hình hiên ngang thẳng tắp.




Hà Đông vương Bùi Huyền là cố tri nhiều năm của ông, hai người đã giao tình thâm hậu từ thuở ông còn ẩn nhẫn chốn thâm trầm, sau này lại là đại công thần giúp ông ngự cực đăng cơ, bước lên hoàng vị.




Thời gian dường như vô cùng ưu ái Bùi Huyền, trải qua bao năm tháng ông ta vẫn anh tuấn hiên ngang, phong tư không giảm so với thuở tráng niên, chỉ là có thêm phần khí độ trầm vững, kiên định như núi cao.




Hoàng đế đối diện với người bạn cũ đang độ phong hoa hiên ngang ấy, bỗng nhiên có chút cảm giác lực bất tòng tâm. Hai người rõ ràng tuổi tác ngang nhau, vậy mà bản thân ông đã bị bóng tối của già nua suy sụp bao phủ, sớm lộ ra dáng vẻ xế bóng hoàng hôn.




Hoàng đế định thần lại, cất tiếng hỏi: “Bùi khanh, ngươi thấy thế nào?”




Bùi Huyền nghe vậy thì đứng dậy, phong độ nhẹ nhàng hành lễ: “Thần thiết nghĩ lời cáo buộc của nữ tử này vô căn vô cứ hoang đường vô lý, xin Thánh nhân đừng nhẹ lòng tin theo, kẻo lại làm lạnh tâm can của bậc trung thần.”




Mọi người nghe xong hết thảy đều kinh sợ, những năm qua Bùi Huyền vốn không màng triều chính, Thái tử và bè phái của Quý phi đấu đá đến mức không thể hòa giải nhưng chưa từng thấy ông đứng về phe nào, lần này vậy mà lại công nhiên nói đỡ cho Lư Đạo Nhân, thật là chuyện không tưởng.




Thái tử hơi cụp mắt, mím chặt môi, gò má dần dần đỏ gay vì tức giận.




Quý phi thấy không có ai lên tiếng trợ uy cho Thái tử, ngay cả người có địa vị siêu việt như Bùi Huyền cũng nói lời công đạo, trong lòng không khỏi thầm mừng rỡ. Hoàng đế cực kỳ coi trọng vị cố hữu này, nếu như ông ta có thể đứng về phía mình, vậy thì vị trí Trữ quân kia…




Tuy nhiên chuyện chính trước mắt là phải khiến cho ả nữ tử chuyên mò ngọc gây chuyện sinh sự này câm miệng.




Bà ta lập tức nói lớn: “Các ngươi còn đợi cái gì nữa?”




Thị vệ đang định kéo lê thiếu nữ đứng dậy, thì bỗng nghe thấy từ phía trên cao truyền đến một giọng nói trầm đục: “Khoan đã.”




Âm thanh không lớn, nhưng uy nghiêm không cần giận dữ cũng tự sinh, Quý phi không nhịn được mà rùng mình một cái, tức khắc quỳ sụp xuống đất thỉnh tội: “Thiếp thân vượt quyền.”




Hoàng đế lạnh nhạt liếc nhìn bà ta một cái, cũng không nói nhiều, chỉ bảo thị vệ: “Các ngươi lui xuống đi.”




Thị vệ vội vàng buông hai cánh tay của thiếu nữ ra, run rẩy sợ hãi thối lui sang một bên.




Hoàng đế trầm mặt nhìn về phía thiếu nữ: “Vị hôn phu của ngươi có hiềm khích gì với Thị trung, ngươi chắc chắn là Thị trung hại hắn, có bằng cớ gì?”




Thiếu nữ không chút sợ hãi nghênh đón ánh mắt của ông: “Khởi bẩm Thánh nhân, phu quân đắc tội với Thị trung, ở Hình bộ làm một viên quan nhỏ quản lý văn thư. Trong lúc chỉnh lý hồ sơ, chàng phát hiện vụ án lưu dân và trẻ mồ côi mất tích mấy năm trước có điều khuất tất, bèn âm thầm điều tra, kết quả tra ra được bằng chứng hại người của Thị trung. Đáng tiếc là tiếng gió bị rò rỉ trước, Thị trung liền sai người của phủ Kinh Triệu bắt chàng đi giữa đêm, ở trong ngục dùng nghiêm hình tra tấn, bức ép chàng phải giao bằng chứng ra. Phu quân không chịu giao, bọn chúng liền…”




Nàng nghẹn ngào không nói tiếp được nữa, cố kìm nén giọt nước mắt, cắn môi đến mức bật máu.




Hoàng đế nói: “Những việc này làm sao ngươi biết được? Là ai đã nói cho ngươi?”




“Là phu quân báo mộng nói cho dân nữ.” Thiếu nữ đáp hùng hồn.




Hoàng đế ngẩn người, không biết nên nói gì.




Trong đại điện lập tức vang lên tiếng xôn xao, bàn tán râm ran.




Thiếu nữ như tai điếc không nghe thấy, tự mình tiếp tục nói: “Phu quân còn nói, kẻ bắt giữ chàng là Pháp tào tham quân của phủ Kinh Triệu.”




Có người không nhịn được mà thốt lên tiếng kinh hô.




Quý phi nói: “Thật là hoang đường! Trên đời làm sao lại có chuyện quái lực loạn thần như thế này!”




Bà ta lại quay sang nói với Hoàng đế: “Kẻ này nói năng bừa bãi, không có một câu nào đáng tin, định là có người sai khiến hòng vu hãm trung lương…”




Thiếu nữ vẫn tiếp tục nói: “Phu quân nói với dân nữ, chàng điều tra một vụ án cũ về việc trẻ nhỏ lưu dân liên tiếp bị sát hại, mổ bụng lấy tim, phát hiện ra kẻ chỉ thị chính là Thị trung…”




Lời còn chưa dứt, Quý phi đã giận dữ quát: “Phóng túng! Ngươi ngậm máu phun người! Vụ án đó Tam tư đã sớm có định luận, hung thủ cũng đã bị băm vằm xử trảm, sao có thể bôi nhọ, kéo bừa lên người Thị trung!”




Thiếu nữ đáp: “Những điều này đều là phu quân nói cho dân nữ trong mộng, có phải thật hay không, Thánh nhân cứ tra thì sẽ rõ.”




Quý phi còn muốn nói tiếp, nhưng Hoàng đế đã dùng một ánh mắt ngăn bà ta lại, ông tiếp tục hỏi: “Phu quân ngươi là người phương nào?”




“Phu quân của dân nữ họ Lương tên Dạ, là Thám hoa.”




“Lương Dạ…” Hoàng đế nhíu mày, đăm chiêu lặp lại một cái tên.




Nội thị cận thân ở bên cạnh khẽ nhắc nhở: “Thánh nhân, Lương Dạ, tự Tử Minh, là Khôi thủ khoa Tiến sĩ năm ngoái, chính là vị Thám hoa lang do đích thân Thánh nhân khâm điểm.”




Hoàng đế gật đầu: “Trẫm nhớ kỹ đứa trẻ này, thi văn và sách luận đều viết cực kỳ xuất sắc, lòng mang chí lớn, ứng đối thong thả, đích thực là báu vật.”




Nội thị nói: “Năm đó Thánh nhân từng khen ngợi hết lời bài sách luận của Lương Thám hoa, còn nói nếu có thời gian, ngày sau nhất định sẽ là rường cột của nước nhà.”




Trên mặt Hoàng đế hiện lên vẻ trầm thống, ông hỏi nội thị kia: “Hắn gặp chuyện từ lúc nào? Sao không có ai bẩm báo với trẫm?”




Nội thị dĩ nhiên không trả lời được, mà Hoàng đế cũng không phải đang hỏi gã.




Hoàng đế lại hỏi: “Hắn vốn dĩ nhậm chức ở nơi nào? Viện Hàn lâm hay Ngự Sử đài?”




Lại bộ Thị lang cuống quýt rảo bước tiến lên, quỳ sụp xuống đất, hốt hoảng thưa: “Khởi bẩm Thánh nhân, Lương Thám hoa vốn là nhậm chức tòng Bát phẩm Chủ sự ở Hình bộ, chưởng quản văn thư.”




Hoàng đế chau mày.




Theo quán lệ của bản triều, Trạng nguyên, Thám hoa đều bắt đầu sự nghiệp từ những nơi như Viện Hàn lâm hay Ngự Sử đài. Hình bộ Chủ sự là chức quan cấp thấp nhất trong Hình bộ, tuy nói nghe qua phẩm cấp còn cao hơn chức Viện Hàn lâm Chính tự một chút, nhưng đa phần đều là những lại thuộc thấp kém ngoài luồng lăn lộn nửa đời người mới bò lên được. Một bên thanh quý, một bên trọc tiện, có khác biệt một trời một vực, để một Thám hoa lang nhậm chức này, rõ ràng là sỉ nhục công khai.




Vài năm sau đó, từng đợt tân khoa Tiến sĩ tiến triều, Hoàng đế làm sao còn nhớ nổi một người trẻ tuổi, hắn đã hoàn toàn mất đi cơ hội trở mình, đời này cũng đừng hòng bước lên con đường thanh vân được nữa.




Đám triều thần kẻ nào cũng tai thính mắt tinh, tự nhiên đều biết rõ Lương Thám hoa là vì cự tuyệt hôn sự với thiên kim nhà Thị trung, đắc tội với Thị trung nên mới bị đày đi làm một viên ở vị trí thấp kém.




Hoàng đế lạnh lùng nhìn về phía Lại bộ Thị lang: “Chuyện này là do ngươi sắp xếp?”




Lại bộ Thị lang cuống cuồng quỳ sụp xuống: “Khởi bẩm Thánh nhân, ngày đó Viện Hàn lâm và Ngự Sử đài đều không còn chỗ trống, vừa vặn Hình bộ có một viên tòng Bát phẩm Chủ sự xin trí sĩ, thần bèn nghĩ hay là tạm thời để Lương Thám hoa nhậm chức ở Hình bộ trước…”




Không đợi gã nói hết câu, Hoàng đế đã cười lạnh cắt ngang: “Hoang đường! Không còn chỗ trống, tại sao không thượng tấu, không trần tình? Ngươi lại để Thám hoa lang do chính tay Trẫm khâm điểm trà trộn vào chốn trọc lưu, chìm nổi ở hạ liêu mà còn dám nói là không phải công báo tư thù?”




Mồ hôi lạnh của Lại bộ Thị lang vã ra như tắm, một câu cũng không dám biện bạch, chỉ biết không ngừng dập đầu tạ tội.




Triều thần đều biết rõ Lại bộ Thị lang là môn sinh do một tay Thị trung đề bạt, việc gã công báo tư thù là báo thù cho ai, điều đó rõ rành rành.




Hoàng đế trầm mặt nói: “Lại bộ Thị lang không biết tiến cử hiền tài, ngược lại vì tư lợi mà bỏ phế việc công, coi thường kỷ cương phép nước. Kể từ ngày hôm nay, cách chức chờ ngày hỏi tội.”




Lại bộ Thị lang vội vàng cởi bỏ mũ quan, bái tạ thiên ân, rồi hoảng sợ lui xuống.




Hoàng đế lại quay sang Hình bộ Thị lang: “Lý Phụng, chuyện này tuy do Giản Thị lang sắp xếp, nhưng cũng không thể qua mặt ngươi được. Ngươi nói xem, tại sao khi ấy lại không đưa ra dị nghị?”




Hình bộ Thị lang sớm biết mình cũng khó thoát kiếp nạn này, quỳ sụp xuống, run rẩy nói: “Là do thần quản lý không nghiêm, thần có tội.”




Hoàng đế cười lạnh một tiếng: “Thế nhưng e rằng không đơn giản chỉ là quản lý không nghiêm như vậy.”




Hình bộ Thị lang miệng hô vạn chết, Hoàng đế lại nói: “Ngươi là cấp trên của Lương Chủ sự, hắn mất tích nhiều ngày qua, chẳng lẽ ngươi hoàn toàn không hay biết gì?”




Hình bộ Thị lang thưa: “Khởi bẩm Thánh nhân, Lương Thám hoa liên tiếp hai ngày không đến điểm mão, thần bèn sai người đến nơi ở tìm kiếm nhưng không thấy, chỉ nghĩ rằng hắn trà trộn vào chốn trọc lưu nên trong lòng không cam chịu, cứ thế không lời từ biệt mà đi…”




“Hoang đường!” Hoàng đế quát, “Ngươi thừa biết chức vụ ấy không thỏa đáng nhưng lại giả điếc làm ngơ, thuộc hạ mất tích thì không hỏi không màng, bịt mắt bít tai, ngồi không hưởng lộc. Nể tình ngươi tuổi tác đã cao, lại không phải là kẻ khơi mào đầu tiên, đợi sau khi triều hội đình nghị sẽ xử trí sau.”




Nói đoạn, Hoàng đế cũng chẳng thèm đoái hoài đến Hình bộ Thị lang đang dập đầu tạ ơn, ông nhìn sang Lư Đạo Nhân: “Việc bổ nhiệm và bãi miễn quan viên lục bộ vốn nên do Chính sự đường hợp nghị, nay trẫm tự mình quyết định, khanh có dị nghị gì không?”




Sắc mặt Lư Đạo Nhân trắng bệch: “Bệ hạ thánh minh, nhìn rõ mọi điều, phán quyết công chính. Giản Thị lang lơ là chức trách, cách chức là lẽ đương nhiên.”




Hoàng đế gật đầu, nói đầy ẩn ý: “Vậy thì trẫm yên tâm rồi.”




Chỉ trong chớp mắt, Lại bộ Thị lang nắm giữ thực quyền đã bị cách chức, một chúng triều thần âm thầm kinh hãi, những kẻ ngày thường đi lại gần gũi với Thị trung càng câm như hến.




Lư Đạo Nhân phủ phục trên đất, một chữ cũng không dám nói nhiều.




Hoàng đế nói: “Khanh bình thân đi, trẫm sẽ sai Đại Lý tự và Ngự Sử đài tra rõ chân tướng, nhất định trả lại thanh danh trong sạch cho khanh.”




Không đợi Lư Đạo Nhân kịp lên tiếng, ông lại nhìn về phía Thái tử: “Vụ án này giao cho Thái tử giám lý, tất phải giữ công bằng chính trực.”




Thái tử dõng dạc thưa: “Nhi thần kính tuân giáo huấn của Thánh nhân.”




Lư Đạo Nhân đứng một bên, sắc mặt xám như tro tàn, mồ hôi túa ra như tắm.




Quý phi muốn mở miệng cầu xin, nhưng liếc nhìn huynh trưởng một cái, khi ánh mắt hai người giao nhau, Lư Đạo Nhân khẽ lắc đầu.




Quý phi bèn nuốt ngược những lời định nói trở vào, bà ta nhìn chằm chằm vào thiếu nữ đang quỳ thẳng tắp dưới thềm điện kia, hận không thể lập tức sai người đánh chết ả tại chỗ.




Đến nước này, làm sao bà ta không nghĩ thông suốt được rằng đây là một cái bẫy đã được giăng sẵn từ sớm? Nữ tử mò ngọc này là do Đỗ Văn Lương dâng lên, tuy chưa từng nghe nói Đỗ Văn Lương có qua lại gì với phủ Trưởng công chúa, nhưng thuở trước khi lập Trữ quân, ông ta cũng khăng khăng đòi lập đích lập trưởng. Thật khó nói liệu phe cánh của ông ta và Thái tử có mưu tính gì ngầm với nhau hay không.




Hoàng đế day đỏ thái dương, nhìn thiếu nữ vẫn đang quỳ thẳng trên mặt đất: “Ngươi hủy hoại cống phẩm, buông lời càn rỡ tại quốc yến, mỗi một việc đều là tội chết. Trẫm nghĩ tình ngươi vì phu quân mà liều mệnh, tình cảnh đáng thương, có thể miễn cho ngươi tội chết.”




Thiếu nữ lại chẳng hề cảm kích đến rơi nước mắt như ông dự liệu, nàng chỉ nói: “Dân nữ đã đến trước ngự tiền cáo trạng thì vốn chẳng có ý định sống sót trở ra, chỉ cầu bắt hung thủ phải đền mạng!”




Lời còn chưa dứt, nàng đột nhiên đứng phắt dậy, lao thẳng về phía Thị trung.




Quý phi kinh hãi hô hoán: “A huynh cẩn thận, ả muốn hành thích!”




Bà ta lại rít lên chói tai với đám thị vệ: “Mau bảo vệ Thị trung!”




Các thị vệ lập tức vây quanh Thị trung ở chính giữa, mấy kẻ khác lao đến muốn bắt sống thiếu nữ kia.




Thiếu nữ mất đi thời cơ ra tay thì quả quyết quay người, đá bay cánh cửa, gạt ngã hai tên thị vệ đang canh giữ ở cửa ra vào, chạy như bay đến bên bờ nước, vượt qua lan can, sau một tiếng “ùm” vang thật lớn, nàng đã nhảy tõm xuống hồ Thái Dịch.




Các thị vệ đuổi theo tới nơi nhìn xuống, chỉ thấy một chiếc áo thêu hoa văn vảy cá màu xanh thanh đang nổi lềnh bềnh trên mặt nước, còn bóng dáng người thì đã chẳng thấy tăm hơi.




Có mấy tên thị vệ giỏi bơi lội nhảy xuống nước tìm kiếm, nhưng chẳng bao lâu sau đã bị nước hồ lạnh thấu xương của ngày đông khiến cả người như tê dại, đành phải lục tục bò lên bờ.




Cấm vệ Thống lĩnh dẫn người đi vòng quanh hồ Thái Dịch tìm kiếm nửa ngày trời, nhưng thiếu nữ kia giống như đã bốc hơi vào hư không, gã đành phải căng da đầu quay lại bẩm báo với Hoàng đế.




Hoàng đế im lặng một lát, rồi khẽ thở dài: “Không ngờ nữ tử này lại cương liệt đến thế, thôi bỏ đi.”




Xảy ra chuyện thế này, tân khách và chủ nhân dĩ nhiên đều chẳng còn nhã hứng vui chơi tiệc tùng, yến tiệc kết thúc một cách vội vàng qua loa.




Sau khi tiệc tan, các triều thần lần lượt rời khỏi Thủy điện, đi thành tốp ba tốp năm trên đường cung, nhưng kẻ nào kẻ nấy đều mắt nhìn mũi, mũi nhìn tim, không một ai dám nghị luận về sự việc vừa rồi.




Mấy lão thần đức cao vọng trọng, Trưởng công chúa cùng Bùi Huyền đều được Thánh nhân ban cho kiệu liễn, rất nhanh đã vượt qua nhóm quần thần đang đi bộ.




Đến được cửa cung, Trưởng công chúa bước xuống kiệu, lên chiếc xe ngựa của mình.




Bánh xe lăn nhanh xình xịch tiến vào đường lớn Chu Tước, bà vén rèm cửa sổ nhìn ra bên ngoài, nhìn thấy phía trước cách đó không xa là xe ngựa của phủ Hà Đông Vương, đi theo sau chỉ có vài tên thị vệ thưa thớt, không hề có nghi trượng, giản dị tới mức cực kỳ không tương xứng với thân phận của người ngồi trong xe.




Trưởng công chúa hơi động trong lòng, nói với thị tùng: “Đến truyền tin cho Hà Đông Vương, bảo ông ấy đợi một lát, ta có lời muốn nói với ông ấy.”




Thị vệ nhận lệnh thúc ngựa lên phía trước truyền lời.




Một lát sau, xe ngựa của Vương phủ đi chậm lại.




Khi hai chiếc xe chuẩn bị đi ngang qua nhau, Trưởng công chúa lệnh cho phu xe dừng xe lại.




Bà vén rèm xe lên, cách một lớp màn lụa nhìn thấy bóng nghiêng mờ ảo ở trong xe: “Hôm nay đa tạ ông đã giúp ta.”




“Trưởng công chúa e là đã hiểu lầm rồi.” Một giọng nói trầm thấp từ trong xe truyền ra.




“Nếu không có một câu nói kia của ông, Thánh nhân chưa chắc đã hạ quyết tâm động đến hắn.” Trưởng công chúa nói.




Cục diện hôm nay Thái tử cô lập không ai ứng cứu trên triều đường chính là do một tay họ sắp xếp, nhưng câu nói kia của Bùi Huyền mới là một đòn định giang sơn, tính kế cả đến sự đa nghi, đoán kỵ và ghen ghét của Hoàng đế vào bên trong.




Hoàng đế tuyệt đối không thể chịu đựng được việc Bùi Huyền kết đảng với Thị trung và Quý phi.




“Nếu không phải là giúp ta thì là vì cớ gì?” Trưởng công chúa nói, “Đây rõ ràng là chuyện trăm hại mà không có một lợi đối với ông.”




“Trưởng công chúa đã đánh giá cao tại hạ rồi.”




Lời còn chưa dứt, chiếc xe ngựa đã lao vút đi, trong nháy mắt đã bỏ lại Trưởng công chúa ở phía sau, chỉ còn bụi vàng tung mù mịt che khuất cả bầu trời.

truyen full, truyenfull, truyenfullvn, truyenfulllive

truyenfull,truyenfull.com