Dùng xong bữa trưa, ba người vừa thưởng trà vừa hàn huyên tâm sự.
Lục Uyển Anh hỏi Hải Triều: “Dạo này muội có dự định gì chưa? Hay là cứ ở lại thành Quảng Châu, đến ở cùng ta đi.”
Hải Triều gật đầu: “Đằng nào thì số hàng hóa kia cũng phải gửi ở kho một thời gian. Muội và A Cốc định tranh thủ về Hợp Phố một chuyến trước, vừa để thăm hỏi người ở làng chài, vừa để tế bái cha mẹ và Lương nương tử.”
Trình Hàn Lân và Lục Uyển Anh không hẹn mà cùng liếc nhìn chiếc gùi tre đặt bên cạnh nàng.
Hải Triều cảm nhận được bầu không khí bỗng chốc ngưng đọng, vội khéo léo lảng sang chuyện khác: “Còn hai người thì sao? Thiếu đông gia định khi nào thì mở rộng việc làm ăn đến Liêm Châu thế?”
Trình Hàn Lân cười đáp: “Lại bị Hải Triều muội muội nói trúng rồi, ta cũng đang tính lúc nào rảnh rỗi sẽ tới thành Liêm Châu xem xét mấy cửa tiệm đây.”
Hải Triều tán thưởng: “Thiếu đông gia quả thật khiến người ta phải nhìn bằng con mắt khác xưa.”
Trình Hàn Lân cười khổ: “Chẳng qua cũng là bị dồn vào thế bí thôi.”
Từ Tây Châu trở về, hắn càng thêm thấu suốt bản thân không thích hợp với con đường khoa cử công danh.
Sau khi lấy hết can đảm thưa chuyện với phụ thân, hắn vốn tưởng ông sẽ ra sức phản đối, thậm chí đánh gãy chân rồi đuổi ra khỏi nhà. Nào ngờ phụ thân hắn trầm ngâm một hồi lâu, chỉ yêu cầu hắn tiếp quản việc kinh doanh của gia tộc ở vùng Giang Nam, lại còn ra điều kiện trong vòng năm năm phải mở rộng sản nghiệp lên gấp đôi, bằng không thì cuốn gói về nhà mà thành thành thật thật học hành thi cử.
Nhà họ Trình chủ yếu làm ăn ở phương Bắc, tại Giang Nam chỉ có vỏn vẹn hai tiệm chi nhánh ở Dương Châu, vậy mà chỉ trong vòng hai năm ngắn ngủi Trình Hàn Lân đã đứng vững gót chân tại phương Nam, thậm chí còn mở rộng bờ cõi kinh doanh đến tận Quảng Châu, những gian truân khốn khó trong đó chẳng cần phải nói ra.
Cũng may ông trời cho hắn thiên phú kinh thương, so với việc gõ đầu đọc sách, thi thố khoa cử thì việc này hắn làm thuận tay hơn nhiều.
Nhưng Trình Hàn Lân trước nay chưa từng than khổ, chỉ dùng điệu bộ hi hi ha ha nói một câu cho qua chuyện, rồi lại kéo chủ đề về phía Hải Triều: “Năm nay Hải Triều muội muội vẫn ra biển chứ?”
Hải Triều gật đầu: “Tháng Mười nổi gió là lên đường.”
“Chuyến này đi bao lâu?”
Hải Triều thoáng nghẹn lại, nở một nụ cười cay đắng: “Muội cũng không biết nữa.”
Lục Uyển Anh ngập ngừng muốn nói lại thôi, chần chừ một lát, cuối cùng vẫn hỏi: “Vẫn là… đi tìm hòn đảo đó sao?”
Hải Triều lặng lẽ gật đầu.
Trước kia, thuyền buôn của A Cốc gặp phải giông bão trên biển nên bị dạt vào một hòn đảo hoang không bóng người.
Đêm đó, hắn vào một hang động trên đảo để tránh gió, chợt thấy trên vách đá khắc chi chít những ký hiệu kỳ lạ tựa như hình sâu bọ, chim chóc. Suốt bảy đêm liền ở trong hang, đêm nào hắn cũng mơ thấy cùng một giấc mơ, mơ thấy mình đã trở về quê nhà, gặp lại Hải Triều cùng Lương Dạ vừa từ Trường An trở về, thậm chí còn chứng kiến hôn lễ của hai người. Sau khi về quê đối chiếu những chuyện này với Hải Triều, hai người mới bừng tỉnh nhận ra đó có lẽ chẳng đơn thuần là một giấc mộng.
Chuyến ra biển lần này của Hải Triều kéo dài tới hai năm, chính là để tìm kiếm hòn đảo năm ấy.
Thế nhưng, cho dù có tìm được thì liệu có ích gì chăng? Hai năm qua, họ đi khắp nơi thu thập những ghi chép, truyền thuyết có liên quan đến Tây Châu, thi thoảng cũng có phát hiện, nhưng chút manh mối ít ỏi vụn vặt ấy căn bản chẳng thấm vào đâu.
Những gì họ biết về Tây Châu thực sự quá ít ỏi.
Nhắc đến chuyện này, cả ba người không tránh khỏi có chút nản lòng, liền thanh toán tiền trà nước rồi cùng bước xuống tửu lầu.
“Miếu Nam Hải Thần ở ngay gần đây, nghe nói Quảng Lợi Vương linh nghiệm lắm.” Trình Hàn Lân cố tìm lời phá vỡ bầu không khí, “Lục nương tử và ta hôm qua mới tới đó, hôm nay liền có tin vui của Hải Triều muội muội, đúng là nên đến hoàn nguyện một chuyến. Hải Triều muội muội có muốn vào trong bái lạy một chút không?”
Hải Triều vốn không tin thần Phật, mấy bận đi ngang qua cửa miếu Nam Hải Thần này nàng cũng chưa từng nghĩ đến chuyện vào bái.
Lần này nàng cũng không định phá lệ, bèn nói: “Muội đi vào cùng hai người.”
Ba người rảo bước tiến vào trong miếu.
Ngôi miếu này thờ chính thần là Nam Hải Thần Chúc Dung, vào triều đại của tiên đế được sắc phong làm Quảng Lợi Vương, mang hàm ý “mở rộng tài lộc, chiêu tài tiến bảo cho thiên hạ”. Chính vì vậy, hầu hết các thương gia, chủ thuyền khi đến trấn Nam Hải đều sẽ tới đây thành tâm chiêm bái, thắp hương.
Lúc này, trong miếu khói hương nghi ngút, thiện nam tín nữ ra vào nườm nượp như mắc cửi.
Lục Uyển Anh và Trình Hàn Lân đi xin hương để dâng lễ hoàn nguyện, còn Hải Triều thì một mình lững thững dạo quanh khắp khuôn viên ngôi miếu.
Rất nhanh nàng đã đi dạo xong một vòng, Lục Uyển Anh cũng vừa vặn bái lạy xong, hai người cùng đứng dưới gốc cây bồ đề lớn trước hậu điện để đợi Trình Hàn Lân, muốn trong vòng năm năm mở rộng sản nghiệp lên gấp đôi quả thực không dễ dàng gì, nếu có được thần lực phù hộ thì tất nhiên là điều cầu còn không được.
Hải Triều liếc nhìn Lục Uyển Anh, thấy ánh mắt nàng ấy cứ vô định dõi theo bóng dáng Trình Hàn Lân, bèn che miệng ho nhẹ một tiếng: “Lục tỷ tỷ, giữa hai người… rốt cuộc thế nào rồi?”
Lục Uyển Anh vén một lọn tóc mai ra sau tai, vành tai nhỏ nhắn tinh tế chẳng biết từ lúc nào đã ửng một lớp hồng mỏng manh: “Trình công tử suốt ngày đêm bận rộn, dốc lòng vì việc làm ăn của gia tộc, còn ta ngoài lúc ngồi phòng khám chữa bệnh thì chỉ biên soạn sách y, tất cả đều rất tốt.”
Hải Triều “phụt” cười một tiếng: “Lục tỷ tỷ chớ có giả vờ nghe không hiểu, muội là đang hỏi chuyện hai người cơ mà, rốt cuộc tiến triển đến đâu rồi?”
Lục Uyển Anh đáp khẽ: “Như hiện tại đã là rất tốt rồi.”
Nàng nhìn theo bóng lưng Trình Hàn Lân, đôi mày mắt cong cong dịu dàng: “Đời này có được một tri kỷ đã là điều chẳng dễ, vậy mà ta lại có được cả hai người, quả là may mắn biết bao, như vậy là đủ rồi.”
Hải Triều thầm than dài trong lòng, Lục tỷ tỷ đã không nguyện ý bước ra bước này thì Trình Ngọc Thư có cho thêm mười lá gan cũng tuyệt đối không dám vượt qua lôi trì, xem ra hai người họ còn phải dây dưa dài dài.
Đang mải suy nghĩ thì Trình Hàn Lân đã từ phía hành lang đi vòng trở lại.
Hải Triều cất tiếng trêu chọc hắn: “Đã bái qua Tống Tử Quan Âm* chưa đấy?”
*Tống Tử Quan Âm: Vị bồ tát này thường là người đi xin đường con cái sẽ đến khấn vái.
Trình Hàn Lân gãi gãi sau gáy: “Đã cầu xin Bồ Tát phù hộ cho số tiền lớn của ta sinh thêm thật nhiều tiền nhỏ, con cháu đầy đàn, tiền tài hưng vượng.”
Hải Triều và Lục Uyển Anh đều bị điệu bộ của hắn chọc cho cười nghiêng ngả.
Ba người cùng nhau rảo bước ra ngoài miếu, khi vừa đi đến gần cổng, chợt nghe thấy trên bờ tường vang lên một tiếng “meo meo”.
Hải Triều quay đầu nhìn lại, thấy trên bờ tường có một con mèo sư tử đang ngồi xổm ở đó.
Con mèo kia có ngoại hình vô cùng bắt mắt, bộ lông trắng muốt như sương như tuyết sáng bừng lên dưới ánh mặt trời, cùng với một đôi mắt xanh biếc như ngọc phỉ thúy.
Hải Triều bất chợt chạm phải ánh mắt của chú mèo, trong lòng bỗng dâng lên cảm giác quen thuộc đến kỳ lạ.
Một ý nghĩ hoang đường chợt lóe lên trong lòng.
Sao nàng có thể từ một con mèo mà liên tưởng đến một người được cơ chứ? Chẳng lẽ chỉ vì đều sở hữu một đôi mắt xanh biếc vừa xảo quyệt lại vừa lười nhác như nhau?
Chắc là dạo này nàng suốt ngày nghĩ ngợi về chuyện Tây Châu nên tâm trí mới rối bời đến mức này rồi.
Hải Triều thu hồi tầm mắt định bước tiếp, thế nhưng con mèo kia lại ngoe nguẩy chiếc đuôi, nhẹ nhàng nhảy một cái từ trên bờ tường xuống ngay bên chân nàng, rồi bắt đầu đi vòng quanh quấn quýt lấy chân nàng.
Hải Triều ngồi xổm xuống, chìa tay ra, con mèo dụi dụi đầu vào lòng bàn tay nàng hết lần này đến lần khác.
“Ngoan thật đấy, lại sạch sẽ thế này, chắc là mèo do miếu nuôi rồi?” Nàng vừa lẩm bẩm vừa lần tìm trong túi da bên hông ra một miếng thịt khô, bẻ vụn rồi đặt vào lòng bàn tay cho nó ăn.
Con mèo ghé sát vào tay nàng, thong thả l**m láp từng chút một.
Một tiểu đạo sĩ đứng bên cạnh, hai tay đút vào ống tay áo, nghiêng đầu nhìn cảnh tượng trước mắt mà không khỏi ngạc nhiên cảm thán: “Thật là chuyện lạ, con mèo này ngày thường chẳng ai chạm vào được đâu. Mấy hôm trước có vị hương khách cho nó ăn hẳn một con cá đù vàng lớn, định đưa tay vuốt đầu nó một cái đã bị nó cào cho một phát chí mạng, trên mu bàn tay lập tức rớm ra ba vệt máu tươi. Xem ra nó thực sự có duyên với thí chủ này rồi.”
“Con mèo này là do trong miếu nuôi sao?” Hải Triều hỏi.
Tiểu đạo sĩ lắc đầu: “Khoảng chừng một năm trước chẳng biết từ đâu chạy đến đây, cứ mười ngày nửa tháng lại tới một lần, mỗi lần ở lại vài ngày.”
Hải Triều cho mèo ăn xong hai miếng thịt khô, lau lau tay rồi cùng Lục Uyển Anh, Trình Hàn Lân tiếp tục đi ra ngoài.
Mới đi được vài bước, Trình Hàn Lân lại lên tiếng: “Hải Triều muội muội, con mèo kia đang đi theo muội kìa.”
Hải Triều quay đầu lại, quả nhiên thấy chú mèo trắng đang không nhanh không chậm bám theo sau lưng mình.
Nàng dừng bước, con mèo cũng dừng bước, ngoan ngoãn ngồi bệt xuống đất, nghiêng đầu nhìn nàng.
Hải Triều ngồi xổm xuống, xoa xoa cái đầu nhỏ của nó: “Mày mau quay về đi, đừng đi theo ta nữa.”
Nàng ngửa hai bàn tay ra cho nó xem: “Thịt khô đều cho mày ăn sạch rồi, chẳng còn sót lại chút nào đâu, đến bản thân ta còn đang chịu đói đây này.”
Nói đoạn, nàng đứng dậy tiếp tục rảo bước, thế nhưng mới đi được vài bước, con mèo lại lững thững bám theo sau.
Lục Uyển Anh mỉm cười trêu: “Xem ra chú mèo này thích Hải Triều lắm đấy.”
“Nó là đang ăn vạ muội thì có.”
Hải Triều bất lực, đành kiên nhẫn cúi xuống thương lượng với nó: “Ta thật sự không nuôi mày được đâu, ngày mai ta phải lên thuyền đi nơi khác rồi. Mày mau quay lại miếu đi, tự tìm cho mình một chủ nhân tốt. Mày xinh đẹp thế này, nhất định sẽ có người tình nguyện nuôi thôi, sau này đừng có cào người ta nữa đấy.”
Con mèo híp đôi mắt lại, chẳng rõ là có nghe hiểu hay không, nhưng lần này khi Hải Triều cất bước đi tiếp, nó quả nhiên không còn bám theo nữa.
Hải Triều cũng nhanh chóng quẳng chuyện chú mèo ra sau đầu.
Nàng còn phải đến kho hàng để hội hợp với A Cốc, nên lên tiếng từ biệt Lục Uyển Anh và Trình Hàn Lân ngay tại ngã rẽ lối vào phố chợ.
Sáng sớm ngày hôm sau, ba người cùng với A Cốc gặp nhau ở bến sông, thuê một con thuyền xuôi dòng lên phía Bắc để về Quảng Châu.
Thuyền đi ròng rã một ngày, đến Quảng Châu thì trời đã chập choạng tối. Hải Triều và A Cốc nghỉ lại một đêm trong căn nhà do Trình Hàn Lân mua sắm, rồi mới tiếp tục lên thuyền khởi hành đi Hợp Phố.
Đường đến Hợp Phố phải đi đường thủy mất mấy ngày liền.
Bây giờ Hải Triều không thiếu tiền bạc, tuy nàng không thuộc kiểu người hoang phí nhưng cũng chẳng để bản thân phải chịu chút thiệt thòi nào, bèn hào phóng thuê hẳn một con thuyền lớn. Khoang trong được ngăn làm ba phòng, nàng và A Cốc mỗi người ở một phòng đầu và cuối, căn phòng trống ở giữa thì dùng để đồ đạc hành lý.
Phu thuyền điều khiển con thuyền rời khỏi bến, Hải Triều nhìn bờ sông cứ thế lùi xa dần, bóng dáng của Lục tỷ tỷ và Trình Hàn Lân đến tiễn đưa giờ cũng chỉ còn là hai chấm nhỏ nhạt nhòa.
Nàng dùng sức vẫy vẫy cánh tay một hồi, rồi mới quay trở vào trong khoang phòng.
Nàng dọn dẹp lại chăn đệm, lấy bọc vải trong gùi tre ra cẩn thận đặt lên giường, đắp chăn lại tử tế, sau đó tự rót cho mình một ấm trà thanh mát, bắt đầu lật mở sổ sách để kiểm tra đối chiếu lại đơn hàng của chuyến đi biển lần này.
Thấm thoắt hơn một canh giờ trôi qua, con thuyền đã ra đến giữa lòng sông.
Nàng cảm thấy hơi mệt mỏi, đưa tay dụi dụi đôi mắt đã mỏi nhừ rồi cứ thế nằm nguyên cả quần áo xuống định chợp mắt một lát, chợt trong không gian thoang thoảng tiếng mèo kêu “meo meo” mơ hồ.
Hải Triều cứ ngỡ mình nghe nhầm, nhưng ngay sau đó lại là tiếng phu thuyền thốt lên đầy kinh ngạc: “Ôi, sao trên thuyền lại có một con mèo thế này?”
“Nó nhảy lên từ lúc nào vậy? Trước khi nhổ neo đã kiểm tra trong ngoài một lượt rồi, sao không thấy bóng dáng nó đâu nhỉ?”
Hải Triều vội vàng bước ra khỏi khoang phòng, đập vào mắt nàng là một con mèo đang ngồi xổm trên mạn thuyền, lười nhác l**m l**m móng vuốt, cũng chính là con mèo sư tử lông trắng mắt xanh đã quấn lấy nàng ở ngôi miếu ngày hôm qua!
Nàng gần như không tin nổi vào mắt mình.
Phải chăng chỉ là trùng hợp, tình cờ có hai con mèo ngoại hình na ná nhau thôi…
Nhưng làm sao có thể chứ! Nàng sống trên đời hai mươi năm nay, chưa từng thấy con mèo sư tử nào xinh đẹp đến nhường này, thế mà trong vòng hai ngày lại gặp liền hai con, đã vậy còn giống nhau như đúc từ một khuôn?
Thế nhưng, nếu nói có một con mèo bằng cách nào đó đã bám theo nàng từ trấn Nam Hải đến tận Quảng Châu, ở lại Quảng Châu một đêm, rồi lại lặng lẽ theo nàng lên con thuyền này, thì chuyện này nghe qua chẳng khác nào mấy câu chuyện truyền kỳ huyễn hoặc.
Dù chuyện này có kỳ lạ đến mức nào đi chăng nữa, thì việc phải đối phó với chú mèo này ra sao ở hiện tại thực sự khiến nàng đau đầu nhức óc.
Nếu phát hiện ra nó khi đang trên chuyến thuyền từ trấn Nam Hải đến Quảng Châu, nàng còn có thể nhờ phu thuyền mang nó quay về, nhưng ngặt nỗi lúc này thuyền đã ở trên đường tới Hợp Phố rồi.
Đang mải suy tính, có phu thuyền tay cầm chiếc bao tải rón rén áp sát, định thừa cơ con mèo không để ý mà trùm lấy nó, nhưng chú mèo kia vô cùng nhanh nhạy, “vèo” một cái đã lao thẳng về phía Hải Triều.
Hải Triều theo bản năng đưa hai tay ra đỡ, con mèo gọn gàng nhảy tọt vào lòng nàng.
A Cốc nghe thấy tiếng động ồn ào bên ngoài cũng bước ra xem.
Sau khi nghe Hải Triều kể lại đầu đuôi sự tình, hắn đưa tay quệt quệt cằm, trầm ngâm nói: “Đã là mèo trong thần miếu thì có lẽ là có linh tính hoặc điềm báo gì đó rồi. Biết đâu đây lại là món quà mà Quảng Lợi Vương ban tặng cho muội, hay là cứ nuôi nó đi.”
Hải Triều dở khóc dở cười: “Ta quanh năm suốt tháng bôn ba ngoài đường, không có ở nhà, làm sao mà nuôi nó được cơ chứ?”
“Chẳng sao cả.” A Cốc cười đáp, “Cứ mang nó lên thuyền theo cùng, thả nó ở kho lương còn có thể bắt chuột nữa kìa.”
Chú mèo trắng vốn đang nằm ngoan ngoãn trong lòng Hải Triều vẫy vẫy đuôi, như thể nghe hiểu được lời nói của con người, đột nhiên hai chiếc tai nhọn hoắt cụp ngược về phía sau, nhe răng “khè khè” đầy giận dữ với A Cốc.
“Ơ! Cái tính cái nết ghê gớm thật đấy!” A Cốc cảm thán.
Từ nhỏ đến lớn Hải Triều chưa từng nuôi sinh vật sống nào ngoài bản thân mình, nay bị chiếc đuôi xù lông cọ qua cọ lại trên cánh tay, trong lòng nàng không khỏi dao động, bèn thuận nước đẩy thuyền nói: “Vậy thì mày phải ngoan ngoãn đấy nhé, không được hung dữ với người khác đâu.”
Chú mèo trắng ngoan ngoãn kêu lên một tiếng “meo” nũng nịu.
“Cứ như thể nghe hiểu tiếng người thật ấy.” A Cốc chìa tay ra, định v**t v* cái đuôi của nó, thế nhưng đến một sợi lông còn chưa chạm tới, chú mèo đã giơ vuốt vỗ bôm bốp vào mu bàn tay hắn, cũng may nó còn biết nương tay, không hề giương móng vuốt sắc nhọn ra.
A Cốc vội vàng rụt tay về.
Mấy phu thuyền và tạp dịch xung quanh cũng lần lượt thử qua, nhưng chú mèo sư tử này ngoại trừ Hải Triều ra thì không một ai có thể chạm vào được.
Mọi người đành tiu nghỉu rụt tay lại.
Hải Triều bế mèo trở về khoang phòng của mình, đặt nó lên chiếc sập ngắn trước cửa sổ, tìm một chiếc khăn vải sạch, nhúng chút nước ấm rồi lau chùi cho nó từ đầu đến chân.
Nói cũng thật kỳ lạ, chú mèo sư tử này người khác đụng vào một sợi lông cũng không xong, vậy mà lại chịu nằm ườn ra để mặc cho nàng lau chùi, thậm chí còn thoải mái phát ra những tiếng “gừ gừ” trong cổ họng.
Con mèo này còn sạch sẽ hơn cả nàng, lau xong một lượt mà chiếc khăn vải vẫn giữ nguyên màu trắng vốn có. Nàng vạch lông, lật tai nó lên kiểm tra kỹ lưỡng, cũng chẳng tìm thấy một con rận nào.
Thực sự là quá mức kỳ lạ.
Ý nghĩ vừa bị đè nén lúc nãy lại một lần nữa xuất hiện.
Hải Triều chần chừ hồi lâu, cuối cùng vẫn khẽ gọi một tiếng đầy dò xét: “Bích Lưu Ly?”
Ba chữ vừa thốt ra khỏi miệng, chính nàng cũng tự thấy hoang đường.
Thế nhưng chú mèo lại khẽ ngoáy đuôi, phát ra một tiếng “meo~” dài thượt đầy kiêu kỳ nũng nịu, giống như thể đang đáp lời nàng vậy.
Ngay cả cái chất giọng làm bộ làm tịch đó cũng giống đến lạ lùng!
Hải Triều nghi ngờ chỉ là trùng hợp bèn gọi thêm vài tiếng nữa, chú mèo sư tử lần nào cũng “meo meo” đáp lại nàng.
“Hồng Mạt Hạt?” Hải Triều không tin vào tà, đổi sang một cái tên khác.
Con mèo hoàn toàn không có phản ứng.
“Thanh Lang Can, Lục Phỉ Thúy, Hoàng Lưu Ly, Bạch Thủy Tinh…” Hải Triều đem tất cả những tên gọi của các loại bảo thạch mà nàng biết ra đọc một lượt, chú mèo sư tử đều ngó lơ.
“Bích Lưu Ly?”
“Meo~!”
Hải Triều: “…”
“Mày thật sự là Bích Lưu Ly sao? Sao mày lại đến được nơi này? Có phải đi ra từ cánh cửa đó không? Mày có từng gặp A Dạ không?”
Nàng túm lấy con mèo hỏi một tràng câu hỏi dồn dập, rồi mới sực nhớ ra mèo thì làm sao biết nói, sao có thể trả lời nàng được cơ chứ.
Nàng vội vã lục lọi trong hành lý ra một thỏi than và một tờ giấy làm từ vỏ cây, viết lên đó những từ ngữ thường dùng như “Phải/Không”, “Có/Không có”, “Đông/Tây/Nam/Bắc”, cùng các chữ số, can chi… Sau đó nàng trải tờ giấy xuống đất, đặt con mèo lên trên.
“Mày có phải là Bích Lưu Ly không?” Hải Triều hỏi, “Nếu phải thì dùng vuốt chạm vào chữ ‘Phải’ xem nào.”
Chú mèo sư tử đi qua đi lại hai bước trên tờ giấy, rồi đặt cái vuốt trước bên trái ấn ngay lên chữ “Phải”.
Toàn thân Hải Triều run rẩy kịch liệt, nàng không kìm được mà đưa tay lên cắn chặt vào mu bàn tay, sợ rằng bản thân sẽ bật khóc thành tiếng.
Phải mất một lúc lâu nàng mới gượng ép bản thân bình tĩnh lại, dùng chất giọng run rẩy hỏi: “Mày có biết… A Dạ đang ở đâu không?”
Chú mèo sư tử lại chậm rãi bước đi hai bước, từ từ tiến về phía khu vực có các chữ “Đông Tây Nam Bắc”.
Hải Triều vô thức nín thở theo dõi.
Thế nhưng, chú mèo đột ngột lao về phía trước, ngoạm lấy mép giấy rồi ra sức cào xé, chẳng mấy chốc đã xé toạc tờ giấy má thành trăm mảnh vụn vặt tan tác.
Hải Triều ngã ngồi xuống tấm đệm trải trên sàn, giống như một người vừa bị rút mất xương sống, cả cơ thể mềm nhũn ra.
Nàng lấy tay che mặt, tiếng cười cứ thế bật ra không dứt.
Sao nàng có thể ngốc nghếch đến nhường này, lại thật sự tin rằng con mèo này chính là Bích Lưu Ly cơ chứ.
Lại còn làm như thật, định đi hỏi tung tích của Lương Dạ từ một con mèo.
Trên đời này sao lại có người ngốc nghếch đến thế kia chứ.
Cười một hồi, nước mắt từ các kẽ tay âm thầm trào ra.
Hải Triều ôm chặt bọc vải vào lòng, cứ thế chùm chăn ngủ một mạch đến tận khi trời sập tối, cho tới lúc A Cốc đến gõ cửa sổ gọi nàng dậy ăn cơm.
Trên thuyền cũng chẳng có món gì thịnh soạn, nương tử của phu thuyền dùng mấy con cá vừa mới câu được dưới sông, đem nấu chung với rau nước thành một nồi canh súp, cả bọn ăn qua loa cùng với số bánh mang theo lên thuyền cho xong một bữa.
Đêm đã về khuya, phu thuyền điều khiển con thuyền neo đậu vào sát bờ một bãi sa bồi giữa lòng sông.
Hải Triều cũng rửa mặt mũi đơn giản qua loa rồi chuẩn bị lên giường đi ngủ.
Đúng lúc này, bên ngoài có tiếng người gõ nhẹ vào cửa sổ phòng nàng.
“Có chuyện gì thế?” Hải Triều cất tiếng hỏi.
Bên ngoài vang lên giọng nói của nương tử phu thuyền: “Thưa nương tử, đương gia nhà ta sai ta đến hỏi một tiếng. Trên bãi sa bồi ngoài kia có một vị khách cũng muốn đi Hợp Phố, định xin đi nhờ thuyền của chúng ta. Ta nghĩ bụng đằng nào căn phòng ở giữa vẫn đang để trống, cứ để không như vậy thì lãng phí quá…”
Hải Triều chẳng cần suy nghĩ nhiều, khẽ nhướng mày nói: “Bãi sa bồi này hoang vu không một bóng người, lại nằm ở nơi lơ lửng giữa trời và nước thế này, đào đâu ra khách cơ chứ? Đừng bảo là gặp phải kẻ gian hay phường đạo tặc đấy nhé!”
Nữ nhân kia rõ ràng là tiếc rẻ khoản tiền thu thêm được từ vị khách kia, bèn phân trần: “Vị tiểu lang quân kia trông rất nhã nhặn lịch sự, dáng dấp như một người đọc sách…”
Hải Triều đẩy cửa sổ ra, mỉm cười nói với bà ta: “Đại nương à, con thuyền này chúng ta đã bao trọn rồi, tiền thuê cả con thuyền chúng ta cũng đã trả đủ, làm ăn buôn bán đâu có cái lý lẽ như vậy.”
Nữ nhân khó xử, cứ thế vò vò góc áo, miệng lắp bắp ấp úng.
Hải Triều tức thì hiểu ra vấn đề: “Hai người… không phải là đã cho người ta lên thuyền rồi đấy chứ?”
Nữ nhân cười gượng gạo: “Nương tử chớ có giận dỗi, gặp nhau được cũng là một cái duyên, đôi bên đều đi Hợp Phố cả, biết đâu chừng lại là đồng hương ấy chứ!”
Hải Triều giận đến mức suýt bật cười: “Ai thèm làm đồng hương với hắn ta chứ!”
Dứt lời, nàng đẩy cửa bước ra ngoài.
Gần như cùng lúc đó, một bàn tay hơi gầy cũng vừa đẩy cánh cửa của khoang phòng bên cạnh ra.
Dưới ánh lửa chài lay lắt, tù mù nhảy tót, hai người bốn mắt nhìn nhau trân trân.
Nương tử của phu thuyền vẫn đang lải nhải giải thích điều gì đó ở bên cạnh, nhưng Hải Triều lúc này đã chẳng còn nghe thấy bất cứ âm thanh nào nữa rồi.
Tiếng nước vỗ vào mạn thuyền, tiếng khua mái chèo, tiếng côn trùng kêu rả rích trên bãi sa bồi, hay tiếng gió luồn qua những bụi cỏ hoang… tất cả đều biến mất sạch sành sanh.
Dải ngân hà như đảo ngược, đất trời bỗng chốc rơi vào khoảng lặng tịch mịch khôn cùng.
“Hải Triều.” Giọng nói của người kia rất nhẹ, lại hơi khản đặc, giống như vừa bước ra từ vô vàn giấc mộng, đã phải lặn lội qua ngàn núi vạn sông mới có thể chạm đến bên tai nàng.
“Ta đã về rồi.”
truyen full, truyenfull, truyenfullvn, truyenfulllive
truyenfull,truyenfull.com