Một Chén Rượu Độc Xa Nhà Muôn Dặm

Chương 24: Trống Đăng Văn



Ngày hôm sau trời hửng nắng, nước đọng trên đường phố Lương Kinh vẫn chưa khô hẳn. Đám người buôn thúng bán mẹt qua lại dẫm lên những vũng nước trong veo, tiếng rao hàng phá tan bầu không khí trầm mặc của không trung.

Mấy con nhạn lạc đàn bỗng nhiên lao xuống vô định, quyết tuyệt xuyên mình vào rừng ngô đồng ngoài thành, tán cây khẽ rung rinh, rồi ánh dương xuyên qua cánh rừng mà ló dạng.

Ánh trời sáng dần, ngàn hộ muôn mái hiên nhỏ giọt nước tàn, cả thành hiu quạnh.

Tiếng chuông sớm trên Trường An Môn vang vọng đón ánh bình minh. Đề đốc cửu môn nội quan Trần Kiến Vân, giám sát quân thủ thành, khai mở Trường An Môn.

Cửa thành rung lên rầm rầm, cơn gió khô lạnh từ quan đạo thổi tới, vượt qua dòng sông hộ thành phía nam, mạnh mẽ tràn vào thành Lương Kinh. Tiếng chuông sớm còn chưa dứt, tại phía bắc con đường ngoài Trường An Hữu Môn, một tiếng trống Đăng Văn vang lên, xuyên qua tiếng chuông, tức khắc truyền khắp trong ngoài Trường An Môn.

Trần Kiến Vân cùng quân thủ thành đồng loạt ngoảnh đầu lại. Lại một tiếng trống nữa truyền đến, âm thanh trầm đục mà xa xăm, tựa như một người sức yếu đang cố nâng cánh tay vung dùi, dốc hết toàn lực của bản thân trước mặt chiếc trống khổng lồ.

Dưới bầu trời xanh ngắt, tại phía bắc con đường ngoài Trường An Hữu Môn, trước Đăng Văn viện, một quan tì mặc đồ giản dị đang đánh trống…

Nơi này nhanh chóng thu hút vô số đám người vây xem, họ như đàn kiến tụ lại kiếm ăn, vây kín cả Trường An Môn trong ánh ban mai le lói.

Trống Đăng Văn đã vang lên… Triệu Hà Minh đứng trước tấm bia xuống ngựa* của Thần Vũ Môn, nghe thấy tiếng trống thứ ba.

*Bia xuống ngựa hay bia hạ mã là tấm bia yêu cầu xuống ngựa thường đặt trước cổng các công trình quan trọng thời xưa để nhắc nhở người đi ngựa phải xuống ngựa và đi bộ khi đi qua, thể hiện sự tôn kính và trang nghiêm đối với nơi đó.

Mao Hành đi phía trước Triệu Hà Minh vốn đã đặt một chân vào Thần Vũ Môn, nhưng cũng bị ba tiếng trống liên tiếp kia đóng đinh bước chân, lập tức quay người, sải bước tới trước mặt Triệu Hà Minh.

“Tiếng gì vậy?”

Ngô Lũng Nghi đứng sau lưng hai người Triệu – Mao, bình thản nói: “Trống Đăng Văn vang rồi.”

Mao Hành nhìn theo ánh mắt của Ngô Lũng Nghi, giọng nói bỗng hơi run rẩy: “Tám năm rồi… Triệu Hà Minh, chiếc trống Đăng Văn mà ngươi cùng nữ học trò kia của ngươi dựng lên, đã tám năm không vang lên rồi đó.”

Các quan viên trước Thần Vũ Môn đều dừng bước nghe tiếng trống. 

Những năm đầu Phụng Minh, Đại Lương Luật Cáo bắt đầu soạn thảo, trống Đăng Văn được dựng lên. Trong ký ức của Triệu Hà Minh, đó là quãng thời gian Ngọc Lâm sống tự tại nhất. Nàng trẻ trung, sáng láng, tin tưởng rằng luật pháp có thể mở ra chính đạo cho nhân gian. 

Nàng như một người không biết mệt mỏi, ngày qua ngày vùi đầu vào những vụ án thông qua trống Đăng Văn khởi xướng. Cho đến khi vụ án mưu nghịch của tiền Thái tử xảy ra, tiền Thái tử bị tru sát, các phụ quan ở Tả Hữu Xuân Phường* xõa tóc đi chân trần, vì tiền Thái tử mà gõ vang trống Đăng Văn, lời lẽ bi thiết, trần tình nỗi oan của Thái tử. Tiếng khóc than đó phát đi từ trước trống Đăng Văn, vang thấu trong ngoài Trường An Môn.

*Tả Hữu Xuân Phường: Hai bộ phận này có các chức quan như thị giảng, thị độc, học sĩ, chuyên giảng sách Nho giáo và giúp Thái tử học cách trị quốc.

Đó mới thực sự là tử gián*. Tất cả những người đánh trống đều đã chuẩn bị sẵn quan tài ở nhà, có người thậm chí vì không muốn người thân bị liên lụy mà chịu nhục nên đã hạ độc sát hại thê tử con cái trước. Mà Phụng Minh đế cũng không để lại đường sống cho những người này, định tội bằng án mưu nghịch, mười ngày liên tiếp tru diệt hết các phụ quan đánh trống. Máu người đã nuôi no các hình cụ trong chiếu ngục, chiếc áo choàng Phi Ngư đầu đời của Trương Dược cũng bị hủy hoại trong biển máu đó.

*Tử gián: mạo hiểm mạng sống can gián (dám tiến lời khuyên với người có quyền, bất chấp nguy hiểm.

Về sau, trống Đăng Văn không bao giờ vang lên nữa.

“Ai đang gõ vậy…”

Trước Thần Vũ Môn, cơn gió dài thổi qua làm vô số quan bào săn lại kêu lật phật, Mao Hành đón gió nhìn xa xăm, bàng hoàng hỏi.

Hầu như tất cả các quan viên pháp ti có mặt tại đó đều động lòng vì mấy tiếng trống này. Bất kể họ đã đắm mình bao nhiêu năm trong quan trường, học được bao nhiêu đạo minh triết hộ thân, thì khi đối diện với một chiếc trống gõ cửa cung điện kêu oan, ai nấy đều mang một cảm xúc đặc biệt.

Huống hồ, nó đã bao năm không vang lên, nay bỗng kêu vang lại, chẳng khác nào một dòng suối khô cạn bấy lâu bỗng phun trào dịch ngọc.

Họ muốn đi xem kẻ đánh trống đó là ai. Cách đó không xa, Trần Kiến Vân vội vã đi tới, sớm đã có quan viên đón lấy hỏi han: “Trần bỉnh bút, ngài từ trên Trường An Môn qua đây sao? Là ai đánh trống vậy?”

Trần Kiến Vân bước chân không dừng, vừa đi vừa trả lời: “Một đứa nô tì không cần mạng.”

“Nô tì đánh trống? Chuyện này… vì cái gì chứ?”

“Phì.”

Trần Kiến Vân nhổ một bãi nước bọt: “Nàng ta nói nữ nhân đốt chùa Thiên Cơ kia có oan! Ta thấy đám nữ nhân này giờ đây điên cuồng đến mức không biết trời cao đất dày là gì nữa.”

Hắn vừa chửi bới vừa bước vào Thần Vũ Môn.

“Quá đó xem một chút.” Mao Hành quẳng lại một câu như thế cho Triệu Hà Minh rồi sải bước về phía Trường An Môn, mấy vị quan pháp ti trẻ tuổi phía sau cũng lập tức bám theo.

Triệu Hà Minh vẫn đứng nguyên tại chỗ, Ngô Lũng Nghi vỗ vỗ vai y: “Ngươi không đi xem sao?”

Triệu Hà Minh không nói gì, bên tai lại vang vọng câu nói Ngọc Lâm nói với y trong đêm mưa ngày hôm qua.

“Kể từ khi ta cởi bỏ quan phục, ta đã cùng chung hang hốc với đám sâu kiến, không bao giờ… cùng lối chung đường với ân sư nữa.”

Những năm Phụng Minh này, người của pháp ti dẫu liều mạng cũng muốn cứu nữ tử chỉ có Ngọc Lâm. Mà hiện giờ trong thành Lương Kinh, một quan tì biết dùng trống Đăng Văn để ngăn chặn việc hành hình tử tù, tự nhiên cũng chỉ có thể là Ngọc Lâm.

“Không cần xem nữa, ta biết ai đánh trống.”

“Ai?”

Triệu Hà Minh cúi đầu, để lộ một nụ cười khổ: “Học trò của ta.”

Ngô Lũng Nghi lập tức hiểu ra, cũng không nhịn được mà mỉm cười, dường như có chút đồng cảm với Triệu Hà Minh, nhưng trong lời nói lại có vài phần tán thưởng. “Ồ, là cô nương đó sao.”

Triệu Hà Minh lắc đầu: “Tổng hiến, không giấu gì ngài, có những lúc ta cũng rất sợ nàng.”

Câu nói này có bảy phần chân ý, còn ba phần không thốt ra lời. Ngoài sợ ra, có lẽ còn có cả chán ghét.

Giống như trước trống Đăng Văn, đám đông vây quanh xem Ngọc Lâm đánh trống lúc này đang vô cùng phẫn nộ, sự chán ghét đã hiện rõ trên nét mặt.

“Lại là nàng ta, lại là con ả này! Đã thành quan tì rồi mà vẫn không chịu an phận!”

“Trống Đăng Văn vang lên, tất liên quan đến đại vụ quân quốc của triều đình, th*m nh*ng cực độ, kỳ oan dị thảm. Nếu cáo trạng không thực, kẻ đánh trống sẽ chịu trọng tội, ta đây phải chống mắt lên xem trong mắt ả có kỳ oan dị thảm gì.”

Những lời này truyền rõ vào tai Ngọc Lâm, nàng nắm chặt dùi trống, không đáp lại một lời nào.

Trống vang mười tiếng, nàng đã dùng hết toàn lực, lúc này cánh tay đã rã rời, ngón tay cũng không nắm vững dùi trống được nữa.

Sau đám đông, Mao Hành rẽ lối đi tới, nha sai Đại lý tự theo sau tiến lên, một tay giật lấy dùi trống từ tay Ngọc Lâm.

Ngọc Lâm ngoảnh đầu lại, Mao Hành kinh hãi: “Là ngươi?”

Ngọc Lâm bị cướp mất dùi trống cũng không hề cuống quýt, Mao Hành không nhịn được mắng khẽ một câu: “Điên rồi.” Tiếp đó quát hỏi: “Tại sao ngươi lại đánh trống?”

Lời vừa dứt, nữ tử trước mặt đã quỳ sụp xuống, một chiếc hộp gỗ được giơ cao quá đỉnh đầu.

“Cái gì đây…”

“Nô tì Ngọc Lâm, thay cho phạm nhân Lưu thị trong vụ án phóng hỏa chùa Thiên Cơ kêu oan.”

Ngọc Lâm ngẩng đầu lên: “Tố cáo đương triều Thượng thư Hình bộ Triệu Hà Minh, chỉ thị Lưu Ảnh Liên phóng hỏa đốt chùa Thiên Cơ, dẫn đến chùa Thiên Cơ bị thiêu rụi hoàn toàn, tăng chúng thảm tử vô số!”

Mao Hành nghe thấy ba chữ “Triệu Hà Minh” thì gần như ngây dại, một lúc lâu sau mới tiến lên mấy bước, áp sát trước mặt Ngọc Lâm: “Ngươi có biết mình đang nói cái gì không?”

Ngọc Lâm dưới chiếc hộp gỗ ngẩng đầu lên: “Ta có bằng chứng.”

“Ta không cần biết bằng chứng gì!”

Cảm xúc Mao Hành dâng lên mãnh liệt, ông và Triệu Hà Minh giao hảo nhiều năm, ít nhiều cũng biết tâm ý Triệu Hà Minh dành cho Ngọc Lâm. Lúc này thấy nàng lấy thân phận kẻ dưới tố cáo sư phụ, lấy phận nô lệ tố cáo thượng quan, nhất thời cơn giận khó nhịn, gần như quát mắng Ngọc Lâm: “Triệu Hà Minh là ân sư cũ của ngươi! Lúc ngươi chịu tội trong ngục, y đã đích thân chăm sóc ngươi, lúc ngươi tố cáo Vương Thiếu Liêm, y cũng dốc sức giúp ngươi. Cho dù hành vi của ngươi là khi quân khi sư, khiến y hổ thẹn, y cũng chưa từng nói ngươi lấy một lời sai trái. Còn về chiếc trống Đăng Văn ngươi vừa gõ, chính là chiếc trống trước cửa cung điện kêu oan năm xưa y và ngươi cùng dựng lên, ngươi nay lại gõ trống tố cáo y, quả thật là nghịch thiên cương, đảo lộn luân lý!”

Ngọc Lâm đón nhận ánh mắt của Mao Hành: “Ta không muốn làm tổn thương ngài ấy, ta cũng chẳng thể làm tổn thương ngài ấy được.”

“Vậy thì ngươi…”

“Hôm nay gõ trống, chỉ để cứu người.”

“Cứu người?”

Giọng Mao Hành đột nhiên cao vút: “Ngọc Lâm ơi là Ngọc Lâm, ta cũng coi như bậc tiền bối nhìn ngươi bước lên quan lộ, ngươi chính là vì cứu người mới rơi vào cảnh ngộ hôm nay, ngươi…”

Nói đến đây, ông lại không thể nói tiếp được nữa, ngón tay nắm chặt thành quyền trong ống tay áo, nhìn Ngọc Lâm đang quỳ dưới đất, ông thở dài một tiếng bàng hoàng.

Trước Trường An Môn tiếng người ồn ã, mà trong hình phòng của chiếu ngục lúc này bốn bề lại lặng ngắt.

Trong bức tường thỉnh thoảng vang lên vài tiếng r*n r* khản đặc, ngoài tường là tiếng lá khô cào vào vách.

Trương Dược ngồi trong hình phòng, gác một chân lên một chiếc gông nặng trước mặt, khuỷu tay chống đầu gối, lòng bàn tay đỡ cằm, nhắm mắt dưỡng thần.

Hắn đã cả đêm không chợp mắt, dù thân thủ có tốt thì ít nhiều cũng thấy mệt mỏi.

Lý Hàn Chu từ nha môn bên ngoài đi vào, theo sau là hai Đề kỵ, mỗi người bưng một gói giấy dầu.

“Chỉ huy sứ, bánh thịt nướng ở ngõ Long Chính đây ạ.”

Trương Dược không mở mắt, Đề kỵ phía sau vội dâng thêm một gói nữa: “Ồ, còn có cả cơm gói…”

Đang nói thì tiếng xiềng xích kéo lê truyền đến. Tay của Lưu Ảnh Liên bị bỏng nặng không thể đeo còng, Đề kỵ chỉ dùng một sợi dây sắt buộc vào cổ nàng rồi dắt từ Binh mã ti về.

Nàng quỳ xuống trước mặt Trương Dược, dáng vẻ lại không giống với hôm ở đám cháy chùa Thiên Cơ. Không khóc lóc, cũng chẳng vùng vẫy, nàng lặng lẽ và ngoan ngoãn quỳ trong hình phòng, bình thản chờ đợi một kết cục mà nàng đã biết rõ.

Chiếu ngục giam giữ nữ tử không nhiều. Thế gian đồn rằng, nữ tử khi sắp chết đa phần đều khóc lóc thảm thiết, hành xử điên loạn.

Nhưng thực tế, hạng nam nhân khóc lóc thảm thiết Trương Dược đã thấy quá nhiều. Kẻ từng giữ vị trí cao không nỡ rời xa vạn mẫu ruộng tốt, nghìn lượng vàng ròng, không cam lòng cả đời này kết thúc trong một bộ tù phục, nằm vào một cỗ quan tài rẻ mạt. Họ cầm bút viết xuống những lời tuyệt mệnh thanh tao như sương tuyết, nhưng trước khi chết lại thốt ra những lời dơ bẩn, phủ nhận sạch bách cái tu dưỡng cả đời đã hạ bút trên giấy.

Kẻ tâm khẩu bất nhất thực sự khiến Trương Dược chán ghét. Hắn thậm chí không muốn nhìn thấy bộ dạng điên khùng của những người này trước khi chết, thà rằng ở trong bóng tối không người của chiếu ngục mà đưa tiễn thê tử con cái họ một đoạn đường. 

Những nữ tử đó cũng giống như Lưu Ảnh Liên đang quỳ trước mặt hắn hôm nay, sau khi khóc cạn nước mắt thì tuyệt vọng và tĩnh lặng, nhìn đao phủ tiến sát lại gần liền thuận theo mà vươn cổ ra. Người hành hình nếu có hỏi một câu nguyện vọng chưa thành, đa phần cũng chẳng nhận được lời đáp lại.

Lúc đến trắng tay, lúc đi cũng trắng tay, nên trước cái chết nhìn thấu được thì dễ hơn đám mày râu quá nhiều. Dù Lưu Ảnh Liên vẫn còn là một cô nương chưa đầy hai mươi, Trương Dược cũng thấy được sự thấu triệt đó trong mắt nàng.

“Bánh thịt nướng, có ăn không?” Trương Dược ngồi trên ghế, cúi đầu hỏi Lưu Ảnh Liên.

Lưu Ảnh Liên lắc đầu.

Trương Dược cầm lấy gói giấy dầu đi đến trước mặt nàng, khom lưng đưa cho nàng: “Dưới tay ta không có quỷ chết đói.”

Lưu Ảnh Liên cúi đầu nhìn bàn tay mình, Trương Dược quay lại ra hiệu cho Lý Hàn Chu tiến lên: “Đút cho nàng ta.”

Lý Hàn Chu nhận lấy gói giấy nhưng nét mặt có chút ngập ngừng.

“Có gì thì nói.”

“Dạ.”

Lý Hàn Chu nhìn ra ngoài hình phòng, khẽ nói: “Dương bỉnh bút của Ti Lễ Giám đang ngồi ở ngoài nha môn, trước giờ Thìn, ngài phải đích thân tới hồi báo. Xem ra sắp đến giờ Thìn rồi…”

Lý Hàn Chu chưa nói dứt lời, Đề kỵ ở trước nha môn bỗng nhiên gõ cửa hình phòng. Lý Hàn Chu ngoảnh lại hỏi: “Chuyện gì…”

Trương Dược ngoảnh đầu, ngắt lời Lý Hàn Chu: “Vào đây hồi báo.”

Đề kỵ vâng lệnh bước vào hình phòng, thưa với Trương Dược: “Chỉ huy sứ, người của Đại lý tự và Đô sát viện đã đến, yêu cầu lập tức áp giải Lưu Ảnh Liên.”

Lý Hàn Chu nói: “Vụ án do Trấn phủ ti tiếp quản, Đại lý tự và Đô sát viện lấy tư cách gì mà can thiệp?”

Đề kỵ vội đáp: “Thiên hộ đại nhân, bọn ta cũng đã nói như vậy, nhưng ngặt nỗi… Ngô tổng hiến của Đô sát viện đích thân đến nha môn, người hiện đang ngồi ở tiền đường.”

Lý Hàn Chu liếc nhìn Lưu Ảnh Liên, có chút sững sờ, lại vội hỏi: “Rốt cuộc là có chuyện gì?”

Đề kỵ đáp: “Đã xảy ra một vụ án lớn.”

“Nói cho rõ xem nào…”

Lời vừa dứt, lại nghe Trương Dược nói: “Liên can đến quan đứng đầu của Hình bộ?”

Đề kỵ đáp: “Không chỉ có vậy, còn có… Ti Lễ Giám…”