Đó là ngày hai mươi tám tháng chạp, nước dòng sông hộ thành đã đóng băng từ lâu. Trên mặt băng phủ một lớp tro đen mỏng mảnh, đó là tàn dư chưa tan hết của chùa Thiên Cơ. Trường An Hữu Môn mở rộng, vô số cây ngô đồng trơ trụi lá đổ bóng xám xịt xuống nền đất khô nứt.
Một tiếng roi quất vút lên xé rách không trung, lá khô và bụi tuyết bay loạn xạ. Nhiều đôi giày tăng rách rưới kéo theo xiềng xích, chậm rãi dẫm qua những bóng cành cây, đi từ gần ra xa.
Những người này là tăng chúng còn sống sót của chùa Thiên Cơ, tổng cộng chỉ có vài chục người, đi đầu là trụ trì Thiền Quang pháp sư. Người này trước khi xuất gia có họ là Dư, tên đơn một chữ Ân, xuất gia từ năm mười tuổi, tu hành tại chùa Thiên Cơ. Sau khi vị trụ trì tiền nhiệm qua đời, Lễ bộ cùng Tăng Lục Ti đã tuyển chọn ông làm trụ trì mới.
Tuổi đời ông không lớn, đến nay cũng chỉ hơn bốn mươi. Làm trụ trì được hai năm, ông kiêm nhiệm thêm chức Tả Giảng kinh của Tăng Lục Ti. Tuy không phải là quan Chưởng ấn trong ti, nhưng ở thành Lương Kinh, ông cũng là người có danh tiếng vang xa.
Nay trở thành tội nhân, đầu tóc rối bù bị Binh mã ti giải đến cửa Trường An Hữu Môn. Phía sau là những tăng chúng sống sót cũng thảm hại không kém, phía trước là Đường quan của Hình bộ và hai vị tăng quan tả hữu Giác Nghĩa phụ trách chấp chưởng giới luật của Tăng Lục Ti.
Hai vị tăng nhân này vốn là sư huynh, cũng là đồng liêu của ông. Gặp nhau tại Trường An Môn, trong lòng họ vừa thương xót vừa không đành lòng, không nhịn được mà đồng loạt cúi đầu, liên tục niệm mấy câu phật hiệu.
Dư Ân nhìn thấy hai vị Giác Nghĩa quan, không màng đến việc quân sĩ Binh mã ti đang lăm lăm binh khí áp giải, quỳ rạp xuống bên đường, hướng về phía hai người mà nói: “Hai vị sư huynh, triều đình đã phán định chùa Thiên Cơ bị lửa trời thiêu rụi, bệ hạ cũng đã hạ chiếu tự trách, tại sao lại khép chúng đệ tử vào trọng tội như thế này?”
Tả hữu Giác Nghĩa quan niệm phật hiệu, nghiêng người nhìn nhau, đều không nỡ mở lời.
Dư Ân tiếp tục hỏi: “Cho dù có lỗi trong việc bảo hộ chùa, đáng bị xử tội, thì cũng nên ở trong Tăng Lục Ti này, do hai vị Thiện Thế* và hai vị sư huynh xử trí, tại sao lại đưa chúng đệ tử đến Pháp ti? Tước bỏ tăng tịch không nói, còn phải chịu hình trượng, lưu đày đến quân doanh Úc Châu làm nô lệ. Chúng đệ tử… chúng đệ tử đều là tăng nhân phát nguyện tu hành trước cửa phật, chúng đệ tử tích lũy vạn thiên công đức, không nên rơi vào bước đường này…”
*Thiện Thế là chức tăng quan đứng đầu hoặc cấp cao trong cơ quan quản lý tăng lữ, phụ trách giáo hóa, giới luật và quản lý chùa chiền của triều đình thời Minh – Thanh.
Ông vừa nói, những tăng chúng trẻ tuổi phía sau không kìm được mà bật khóc thành tiếng.
Dư Ân ngoảnh lại nhìn đám đông tăng nhân, hốc mắt cũng đỏ hoe, ông quay sang Đường quan Hình bộ, không còn giữ gìn tăng nghi nữa, sụp xuống cầu xin: “Chư vị đại nhân, hai trăm tăng nhân trong chùa đều đã chết trong ngọn lửa lớn, chỉ còn sót lại mấy vị sa di này hộ trì cho ta tụng kinh ở tiền điện. Những đứa trẻ này còn chưa đầy hai mươi tuổi mà, chúng chưa thấy sự đời, nay mắc tội thì sợ hãi khôn cùng, lại đang thương tật ốm đau, thực sự khó lòng chịu nổi hai mươi trượng nặng. Xin đại nhân khai ân, xin đại nhân khai ân! Thiền Quang… không, ta là Dư Ân, nguyện một mình chịu tội…”
Ông từ bỏ pháp hiệu, tự xưng tục danh, quỳ dưới đất dập đầu không thôi. Những lời thốt ra đã chẳng còn chút thiền cơ* nào, hoàn toàn là d*c v*ng thế tục, khiến những người xung quanh không khỏi bùi ngùi thở dài.
*Thiền cơ: cơ duyên hoặc điểm then chốt để ngộ ra thiền, ẩn ý, lời nói hay hành động có tính gợi mở để người khác giác ngộ.
Đường quan Hình bộ lạnh lùng nói: “Tước tăng tịch, trượng trách lưu đày đã là bệ hạ khai ân rồi. Ngươi còn dám nói càn, đừng trách bọn ta khép vào tội đại bất kính mà xử tử cả lũ.”
Dư Ân gào lên: “Sau khi chịu trượng, lưu đày ra khỏi kinh thành, chúng nó sẽ chết mất! Chết mất thôi…”
Từng tiếng khóc than ấy xuyên qua đám đông. Đại lý tự khanh Mao Hành cũng mặc thường phục, chen chúc trong dòng người. Ông cứ ngỡ mình vi hành đơn độc thì sẽ không ai chú ý, nhìn đám tăng nhân số phận mịt mờ kia, không nhịn được mà thốt lên một chữ: “Thảm.”
Nào ngờ lời vừa dứt, bên tai đã vang lên một giọng nữ ôn hòa: “Thốt ra được chữ ‘thảm’, nhưng lại không cam lòng vì họ mà biện minh pháp lý.”
Mao Hành quay đầu, thấy Ngọc Lâm đang khoanh tay đứng đó, còn phía sau nàng, Trương Dược đang trưng ra bộ mặt chết chóc, im lặng nhìn ông.
Đối với Mao Hành mà nói, hai người này ông có thể gặp ít đi lần nào hay lần ấy. Đặc biệt là Trương Dược, tên này trước kia chỉ biết lạnh mặt chém người không nói một lời, nhưng sau khi mua Ngọc Lâm về, chẳng biết trúng tà gì mà tính nết thay đổi hẳn, trở nên vừa hung hãn vừa khó nhằn.
Mao Hành đau cả đầu, không tự chủ được mà bước sang một bên, kéo giãn khoảng cách với hai người họ. Nào ngờ Ngọc Lâm lại xoay người nhìn Mao Hành: “Đại nhân rất chán ghét ta sao?”
Mao Hành suýt nữa thì trợn mắt, thầm nghĩ nàng hỏi câu này thật thừa thãi. Tuy nhiên, nghĩ lại câu nói trước đó của nàng thực sự đâm trúng tim đen, ông không khỏi thở dài: “Môn hạ của Triệu Hà Minh thượng vàng hạ cám đủ cả, ngươi coi như là hạng xuất chúng. Năm xưa cùng ngươi cộng sự, ta không thấy ngươi phiền, còn bây giờ… đúng là mặt mũi đáng ghét.”
Ngọc Lâm mỉm cười: “Nhưng ta vẫn kính trọng ngài.”
Mao Hành cười khổ: “Ngươi không chán ghét ta sao? Nửa năm qua, ta chưa từng nhân từ với ngươi, cũng chưa từng nghĩ đến việc giữ mạng cho ngươi.”
“Nhưng với tư cách là quan đứng đầu của Đại lý tự, xét lại án kiện biện minh hình luật, một đôi tay của ngài đã giữ được tính mạng cho rất nhiều người.”
Mao Hành hơi ngẩn ra, rồi nhìn về phía trước Trường An Hữu Môn. Dư Ân vẫn đang nước mắt đầm đìa cầu xin Hình bộ và Tăng Lục Ti khai ân cho chúng tăng, nhưng không một ai đáp lại.
Mao Hành nhìn dáng vẻ thảm hại của Dư Ân, hỏi ngược lại Ngọc Lâm: “Ngọc Lâm, ngươi có từng nghĩ, nếu lúc đó Pháp ti điều tra rõ tội phóng hỏa của Lưu Ảnh Liên, theo luật mà xử tử nàng ta để làm nguôi cơn giận của bệ hạ, thì giờ đây đám tăng nhân này cũng không đến mức rơi vào cảnh ngộ hôm nay.”
“Dựa vào đâu?” Ngọc Lâm vặn hỏi.
“Ngươi…”
“Ta hỏi thay cho Lưu Ảnh Liên đấy.”
Mao Hành bị nàng hỏi vặn, nhất thời cứng họng. Giọng Ngọc Lâm lại vang lên: “Không làm quan hình danh, ta vẫn cứu người. Đích thân cai quản Đại lý tự, ngài vẫn không chịu vì đám tăng chúng này mà biện giải một câu sao?”
“Biện giải thế nào?” Mao Hành cao giọng: “Đây là tội do bệ hạ định đoạt.”
“Tội do bệ hạ định, Nội các có thể bác bỏ, Hình bộ và Đại lý tự có thể dâng sớ biện minh. Thực tế chế độ trong ngoài triều đình chưa bao giờ bịt kín bất kỳ con đường nào thông đến trời cao, Lương Luật cũng chưa bao giờ từ bỏ bất kỳ một mạng người nào. Chỉ là mạng của họ quá hèn mọn, vì họ mà bác bỏ hoàng mệnh, mang đầu ra can gián cũng chẳng để lại thanh danh tốt đẹp gì trong chốn quan trường. Thế nên chư vị đại nhân trên điện mới không muốn làm mà thôi.”
Lông mày Mao Hành nhíu chặt. Lời nàng nói bình thản mà đâm thấu tim, vứt bỏ hết thảy những thói đời đối nhân xử thế nơi quan trường, không hề gọt giũa, quăng thẳng vào mặt Mao Hành, khiến ông kinh hồn bạt vía. Ông tự nhận mình là người thanh chính, ghét ác như thù, không thèm thông đồng làm bậy. Tuy nhiên, lúc này ông cũng phải thừa nhận, việc cân nhắc lợi hại là không thể thiếu. Ông muốn làm một quan tốt, thì trước hết, ông không được để mình ngã khỏi ghế quan. Những người trước mắt này, quả thực không đáng để ông phải biện hộ.
Lúc này, người của Binh mã ti đang bày biện hình trường, gậy trượng mang đến to bằng miệng bát, đám tăng nhân bị xô đẩy đến dưới gậy, ai nấy đều sợ đến mặt cắt không còn giọt máu.
Gậy nặng bổ xuống, Dư Ân tận mắt nhìn thấy cú gậy đầu tiên đã giáng thẳng vào eo của tăng chúng. Đây không phải là hình phạt, đây là giết người. Dư Ân thấy các quan viên tại hiện trường không chút động lòng, đành phải quay sang kẻ chấp hình của Binh mã ti, quỳ lạy giữa tiếng la hét thảm thiết: “Ta biết ta có tội, ta phụ hoàng ân, ta không giữ được chùa Thiên Cơ. Giờ ta không cầu sống nữa, ta chỉ xin các người hãy giữ mạng cho họ, họ thực sự mới chỉ hai mươi tuổi thôi, họ còn trẻ…”
Người của Binh mã ti chẳng màng đến lời van nài của ông, hất văng ông xuống đất, rồi dẫm chặt lấy cổ chân ông. Đám đông tụ tập lại, nhưng tiếng bàn tán lại im bặt giữa tiếng la đau đớn thê lương của tăng chúng.
Dư Ân tuyệt vọng nhìn mọi người, đột nhiên há miệng, gào lên với đám đông: “Ta biết tội danh của ta là gì rồi, nhưng những kẻ đáng chết các người đều đã giết sạch rồi, mấy đứa trẻ còn lại này thực sự không biết gì cả… Các người muốn giết thì giết một mình ta thôi! Giết một mình ta đi, coi như kết thúc hết!”
Ông vừa nói vừa bật khóc, giọng nói càng lúc càng tuyệt vọng, cuối cùng gào lên: “Ta hận quá… ta hận vì đã giúp lũ súc sinh các người, ta hận vì đã tin lũ súc sinh các người…”
Đường quan Hình bộ vội quát: “Còn không mau bịt miệng ông ta lại!”
Dư Ân bị bịt miệng, nhưng thân hình vẫn vùng vẫy điên cuồng, nước mắt chảy ròng ròng. Mao Hành không nỡ nhìn tiếp, chắp tay quay người muốn đi ra ngoài đám đông, nhưng lại bị Trương Dược đưa tay ngăn lại. Vóc dáng Trương Dược cao hơn Mao Hành không ít, cánh tay vươn ra gần như chặn đứng đường đi của ông.
Mao Hành không nhịn được nữa, ngẩng đầu bảo Trương Dược: “Trương chỉ huy sứ, ngươi trúng tà gì từ bao giờ thế, hả? Ngươi cứ nhất định phải…”
Chưa nói dứt lời, giọng của Ngọc Lâm từ phía sau đuổi tới: “Đại nhân thực sự không giúp họ biện minh sao?”
Tiếng la hét thảm thiết sau lưng Mao Hành không dứt, tim ông đau như cắt, bước chân loạng choạng. Ông nhắm mắt lại, đột nhiên thấy khóe mắt mình chẳng biết từ lúc nào đã đẫm lệ, lệ rơi vào trong miệng, chua xót vô cùng.
Mao Hành không kìm lòng được quay người lại, bước vài bước đến trước mặt Ngọc Lâm, chỉ tay lên trời: “Biện minh thế nào? Ngươi nói xem biện minh thế nào? Nếu Ngọc Lâm ngươi có cách biện đổ đạo hoàng mệnh ngày hôm nay, thì Mao Hành ta sẽ mặc bộ thường phục này, đi theo ngươi mà biện!”
Ngọc Lâm không trả lời, quay người bước thẳng về phía hình trường. Mao Hành vừa giận vừa cuống, loạng choạng định đuổi theo: “Quay lại ngay! Đi nộp mạng hả!”
Nào ngờ mới đi được vài bước đã bị Trương Dược tóm lại. Mao Hành tức phát điên, chẳng màng đến thân phận của Trương Dược, mắng lớn: “Trương chỉ huy sứ ngươi trúng cái tà gì thế! Cánh cửa Trấn phủ ti, cổng nhà Trương gia của ngươi không nhốt nổi một người nữ nhân hay sao?”
Trương Dược hất tay Mao Hành ra: “Tại sao ta phải nhốt nàng ấy?”
Mao Hành chỉ tay về phía Ngọc Lâm đã đi vào giữa đám đông: “Nàng ta phát điên rồi mà ngươi không nhốt?”
“Ta không thấy nàng ấy đang phát điên.”
Mao Hành cười gằn vì tức, gọi thẳng tên Trương Dược: “Trương Dược, ngươi tung hoành tàn ác ở Lương Kinh này mười năm rồi, ròng rã mười năm rồi! Ngươi rốt cuộc đã làm gì nàng ta hả? Ngươi có lỗi với nàng ta đến mức nào? Là ngươi mua nàng ta chứ không phải ngươi bán mình cho nàng ta! Hành vi hiện giờ của ngươi khác gì…”
Lời ông còn chưa nói hết, đã bị Trương Dược một tay đẩy ra xa nửa mét.
“Trương chỉ huy sứ, ngươi…”
Chưa nói dứt lời, vị Chỉ huy sứ này đã đuổi theo bóng lưng của Ngọc Lâm.
Mao Hành giậm chân, mắng theo bóng lưng hai người: “Chẳng coi ai ra gì, sớm muộn gì cũng mất mạng!”
Nói xong, ông càng nghĩ càng thấy hoang đường, Trương Dược đúng là bán mình cho Ngọc Lâm thật rồi. Một kẻ quá khứ đi khắp nơi giết người, một kẻ bất kể quá khứ hay hiện tại đều đang liều mạng tìm cái chết. Thế nhưng sự thực lại là: một kẻ ngày ngày muốn chết, một kẻ lấy mạng đổi mạng, nhưng kỳ thực đều đang tìm một con đường sống sót. Kẻ muốn chết thì có đao trong tay, kẻ tìm đường sống thì tay không tấc sắt, và rồi… và rồi kẻ có đao lại bất chấp tất cả để mở đường, chặt gai phá bụi cho kẻ tìm đường sống.
Cái này gọi là gì? Gọi là tự rẻ rúng bản thân thì trời cũng mặc kệ, đáng đời cái tên họ Trương kia gặp báo ứng
Nghĩ đến đây, Mao Hành đột nhiên cười vì tức.
Ngọc Lâm và Trương Dược đã đi đến bên cạnh hình trường, đám đông bị Trương Dược gạt phăng ra. Ánh mắt mọi người dồn về phía Ngọc Lâm, Mao Hành cũng loạng choạng đi theo sau. Nói thật lòng, ông cũng rất muốn xem, một Ngọc Lâm am tường Lương Luật nhưng lại chẳng còn gì trong tay, sẽ mở miệng vì đám tăng chúng này như thế nào.