Ba ngày trước kỳ thi Xuân, giờ Dậu, Tống Ẩm Băng tan làm, cùng hai ba vị quan viên sánh vai bước ra khỏi nha môn Hình bộ.
Ngày hôm ấy gió ấm nắng đẹp, ánh hoàng hôn trên ngọn liễu cũng đặc biệt dịu dàng. Bên ngoài nha môn, Ngọc Lâm đang cùng Lưu Ảnh Liên ngồi xổm trước giỏ hoa của người bán hoa chọn mấy cành đào. Những ti quan đi cùng Tống Ẩm Băng vốn là hạ thủ và người quen cũ của Ngọc Lâm, thấy cảnh này đều dừng bước. Ngọc Lâm cầm một cành đào, mỉm cười quay về phía cổng chính bộ nha, nhóm người nhất thời tâm trạng phức tạp, sắc mặt mỗi người một vẻ.
Ngọc Lâm mỉm cười hành lễ: “Đã lâu không gặp các vị đại nhân.”
“Thiếu ti…”
Ngọc Lâm khẽ cười: “Các vị cứ gọi ta là Ngọc Lâm, hoặc Tiểu Phù cũng được.”
Vị quan viên vừa lên tiếng nghe vậy thì im lặng cúi đầu. Tống Ẩm Băng thấy thế bèn giải vây: “Các vị đi trước đi, ta có vài lời muốn nói với muội ấy.”
Mọi người vốn dĩ đang lúng túng không biết đối diện với Ngọc Lâm thế nào, thấy Tống Ẩm Băng đưa bậc thang bước xuống bèn vội vàng thuận thế mà đi, ai nấy cáo từ.
Tống Ẩm Băng bấy giờ mới bước xuống bậc thềm, đi đến trước mặt Ngọc Lâm, cúi người đỡ Lưu Ảnh Liên vẫn đang ngồi chọn hoa đứng dậy, nói với Ngọc Lâm: “Là Ảnh Liên lại làm phiền muội đưa muội ấy ra ngoài sao? Muội ngày thường vất vả, đừng quá miễn cưỡng bản thân.”
“Không phải.” Ngọc Lâm ngẩng đầu nhìn Tống Thẩm Băng: “Ta đến tìm sư huynh.”
“Tìm ta có việc sao?”
“Ừm.” Ngọc Lâm gật đầu: “Muốn nhờ sư huynh giúp một tay.”
“Được.”
Tống Ẩm Băng gần như không cần suy nghĩ đã nhận lời ngay lập tức. Ngọc Lâm nhướng mày cười: “Cứ thế… mà đồng ý luôn sao?”
“Việc của muội, ta nhất định sẽ giúp.”
“Được.” Ngọc Lâm vắt cành đào lên vai: “Chúng ta đổi chỗ khác.”
Nơi đổi chỗ chính là nhã gian bên trong trà xá Bích Hồng. Lưu Ảnh Liên ngồi tựa bên cửa sổ, tĩnh lặng nhìn dòng người qua lại dưới lầu. Tống Ẩm Băng nhìn quanh quất, có chút đứng ngồi không yên.
“Tiểu Phù, nơi này thường có tai mắt của Trấn phủ ti, có phải là nơi thích hợp để nói chuyện không?”
Ngọc Lâm rót cho Lưu Ảnh Liên một chén trà hoa quế, giữa làn khói trà, nàng nhẹ nhàng ngẩng đầu đáp: “Trấn phủ ti sẽ không nhìn chằm chằm vào ta, ngược lại họ sẽ giúp chúng ta canh chừng kẻ bên ngoài. Với ta mà nói, nói chuyện ở đây là tốt nhất.”
Tống Ẩm Băng nghe vậy, không kìm được mà nói: “Vậy là người của Trấn phủ ti kia… thực sự đang bảo vệ muội.”
Ngọc Lâm “ừm” một tiếng. Tống Ẩm Băng rủ mi mắt: “Thực lòng, sư huynh… thấy rất hổ thẹn.”
“Không cần phải nghĩ như vậy.” Ngọc Lâm trải một tờ giấy tuyên lên bàn trà: “Giúp ta việc này đi.”
Tống Ẩm Băng thu lại tâm trạng, định thần nhìn vào tờ giấy sinh tuyên. Trên giấy là một bài văn, hắn vuốt giấy đọc kỹ, vừa lướt qua mấy dòng đầu đã hỏi: “Lễ Nhạc luận?”*
*Lễ Nhạc luận là một khái niệm trong tư tưởng Nho giáo. Lễ: lễ nghi, quy tắc ứng xử, trật tự xã hội.
Nhạc: âm nhạc, nhưng trong Nho giáo nó tượng trưng cho sự hòa hợp, giáo hóa con người. Luận: bàn luận, học thuyết, luận thuyết. Thế nên Lễ Nhạc luận là học thuyết / quan điểm bàn về ‘lễ và nhạc’ trong việc trị quốc và giáo hóa con người.
Lễ Nhạc luận thường xuất hiện trong kỳ thi Hội thứ hai. Kỳ thi xuân sắp tới, Tống Ẩm Băng đọc đến đây khó tránh khỏi cảm thấy đau lòng thay cho Ngọc Lâm.
Ngọc Lâm mỉm cười: “Huynh thẩm định thử xem, xem công lực của ta còn lại mấy phần.”
Tống Ẩm Băng bấy giờ mới cúi đầu đọc tiếp. Đọc xong một bài, hắn không khỏi tán thưởng: “Không thấy cái vẻ tối nghĩa của Thái học*, hành văn tươi mới tinh xảo, là bài văn hay. Chỉ là…”
*Thái học ở đây chỉ văn phong học viện, kiểu hàn lâm của Thái học (trường cao nhất đào tạo quan lại thời xưa), thường bị chê là cứng nhắc, khó đọc.
“Chữ xấu đúng không?”
Tống Ẩm Băng không tiện nói thẳng, ngẩng đầu hỏi: “Tay của Ảnh Liên e là khó mà cầm bút viết chữ lại được, còn tay của muội… cũng không khá lên được sao?”
Ngọc Lâm giơ bàn tay phải lên, nhìn vào các khớp ngón tay, giọng nói có chút bất lực: “Thực ra đã khỏi rồi, chỉ là kiểu chữ trước đây của ta quả thực đã hỏng rồi. Tống sư huynh, huynh nhìn kỹ lại xem, đây giống kiểu chữ của ai?”
Tống Ẩm Băng dời bài văn ra dưới cửa sổ, mượn ánh sáng nhìn kỹ, sau đó khẳng định: “Phỏng theo Trương thể.”
Ngọc Lâm cười nói: “Không hổ là Tống sư huynh, viết thế này mà huynh cũng nhận ra được.”
Tống Ẩm Băng đặt tờ giấy xuống: “Khải thư của Trương Dung Bi viết rất vững, trước đây ở Quốc Tử Giám có rất nhiều người học chữ của ông ấy. Nhưng sau khi ông ấy gieo mình xuống sông, người viết kiểu chữ này ít dần, những năm gần đây hầu như không còn thấy nữa. Muội là nữ tử, lại từng chịu hình kẹp ngón, miễn cưỡng phỏng theo kiểu chữ cần lực bút thâm hậu này, tự nhiên là rất khó.”
Ngọc Lâm bảo: “Cho nên muốn nhờ huynh sao chép lại giúp ta một bản, đúng theo Trương thể.”
Tống Ẩm Băng không đồng ý ngay, chỉ hỏi: “Khi nào thì đưa cho muội?”
Ngọc Lâm đáp: “Nếu có thể, sư huynh viết cho ta ngay bây giờ.”
“Được.”
Tống Ẩm Băng dứt lời liền gọi tiểu nhị vào, dặn hắn đi tìm bút mực giấy nghiên ngay lập tức. Tiểu nhị nhận tiền rồi đi, một lát sau, trên bàn trà đã trải sẵn một xấp giấy tuyên mới.
Tống Ẩm Băng đứng dậy rửa tay xắn tay áo, sau đó vuốt phẳng mặt giấy, tự mình thêm nước mài mực, chiếu theo bài văn của Ngọc Lâm mà sao chép không sai một chữ. Chỉ trong vòng nửa tuần trà, hắn đã chép xong quá nửa.
Ngọc Lâm chống cằm, một mặt nhìn hắn viết chữ, một mặt gọi: “Tống sư huynh.”
“Sao?”
“Huynh không hỏi ta kêu huynh viết những thứ này để làm gì sao?”
Đầu bút của Tống Ẩm Băng hơi khựng lại, khẽ nói: “Nói là ta hoàn toàn không nghi ngờ thì là giả, nhưng muội đã cầu đến ta rồi, sao ta có thể không giúp.”
Ngọc Lâm mỉm cười: “Tống sư huynh là một người rất mềm lòng.”
Tống Ẩm Băng dừng bút, tự giễu: “Cho nên đường quan lộ mới mãi không thuận lợi, luôn khiến mọi người thất vọng.”
Ngọc Lâm giọng điệu nhẹ nhàng: “Vậy huynh hứa với ta, lần tới hãy quyết liệt một chút.”
Tống Ẩm Băng cười hỏi: “Muội muốn ta quyết liệt với ai?”
Ngọc Lâm đổi tay chống cằm, nhìn Tống Ẩm Băng cười: “Cứ hứa với ta trước đã.”
Tống Ẩm Băng bất lực cười cười, chấm mực l**m bút: “Được, sư huynh hứa với muội.”
Ngọc Lâm quay sang nhìn Lưu Ảnh Liên: “Ảnh Liên, muội nghe thấy rồi đấy, huynh ấy hứa với ta rồi. Nếu đến lúc đó huynh ấy lại mềm lòng, muội nhất định phải giúp ta thức tỉnh huynh ấy.”
Lúc bấy giờ, Lưu Ảnh Liên không hề biết ý nghĩa thực sự đằng sau câu nói của Ngọc Lâm, chỉ biết Ngọc Lâm đã nhờ thì mình dù thế nào cũng phải đồng ý.
“Móc ngoéo nào.” Ngọc Lâm chìa ngón út về phía Lưu Ảnh Liên.
Lưu Ảnh Liên cũng chìa bàn tay đầy vết sẹo do đám cháy ở chùa Thiên Cơ gây ra, nhẹ nhàng chạm vào ngón tay Ngọc Lâm.
“Nói rồi đấy nhé.” Ngọc Lâm cười.
Ánh sáng ấm áp, bóng tay, hương mực, khói trà, cành đào tươi bên cửa sổ, hoàng hôn mùa xuân dịu dàng ngoài lầu… Cảnh vật thế gian bình lặng, đẹp đẽ biết bao.
Tống Ẩm Băng không nói thêm gì nữa, cúi đầu định thần, tiếp tục đưa bút. Chẳng bao lâu sau, chén trà hoa quế đã nguội ngắt, Tống Ẩm Băng cũng đã chép xong chữ cuối cùng.
—
Ba ngày trôi qua trong nháy mắt, kỳ thi Hội tại Lương Kinh diễn ra đúng như dự kiến.
Ngày khóa viện, các cử tử từ khắp mọi miền đất nước tụ hội về Lương Kinh, lưng đeo gạo mì bước vào lều thi của mình. Giờ Ngọ, các quan viên đề điều và đốc trường lần lượt rút lui, một ổ khóa lớn sập xuống cửa viện.
Ngọc Lâm đứng bên ngoài miếu Bì Trường, nhìn thấy một đàn chim nhạn mùa xuân trở về bay ngang qua bầu trời Cống viện, tiếng kêu thê lương, hướng về phía Đông Uyển của hoàng thành.
Lúc này, trong Trì Tâm Đình giữa hồ sen ở Đông Uyển, Hoàng thị cùng mẫu thân và hai ba tỷ muội đang thưởng ngoạn kỳ thạch, có khoảng mười mấy nữ quyến của giới quyền quý đứng hầu bên cạnh.
Hoàng thị có thai nhưng tháng còn nhỏ nên chưa rõ bụng, eo thon dáng mềm, mặc bộ đồ bằng lụa yên la màu vàng nhạt, đang lúc xuân phong đắc ý, là người nổi bật nhất giữa rừng châu báu trong đình. Các nữ quyến đều nịnh nọt Hoàng thị và mẫu thân nàng ta, tiếng cười nói vang lên không ngớt.
Phụng Minh đế dẫn theo Hứa Tụng Niên, Trần Kiến Vân và những người khác tản bộ ven hồ, thỉnh thoảng bị tiếng cười thu hút, thường xuyên đưa mắt nhìn về phía Trì Tâm Đình.
Hứa Tụng Niên đứng bên cạnh nói: “Từ khi đến Đông Uyển, sắc mặt của Hoàng nương nương ngày càng tốt hơn.”
Trần Kiến Vân thấy Phụng Minh đế mỉm cười, cũng hùa theo: “Bệ hạ ban thưởng cho nương nương nhiều thứ như vậy, lại đón cả tỷ muội và mẫu thân nương nương đến Đông Uyển dạo chơi, nương nương nhẹ lòng, chẳng trách sắc mặt lại hồng hào như vậy. Nói đi cũng phải nói lại, đều là nhờ ơn đức của bệ hạ, nghĩ đến tiểu điện hạ trong bụng nương nương cũng là người có phúc khí lớn.”
Phụng Minh đế liếc nhìn: “Ngươi khéo miệng đấy, vậy thì đến trước mặt Hoàng phi mà hầu hạ đi, nói mấy câu ngọt tai cho nàng ấy vui lòng.”
“Dạ…” Trần Kiến Vân hiểu rằng Phụng Minh đế có chuyện muốn nói riêng với Hứa Tụng Niên, nên không nán lại, cáo lui đi ngay.
Phụng Minh đế dừng bước trước một bụi lau sậy, quay sang hỏi Hứa Tụng Niên: “Ngươi đã tính qua chưa? Nguồn cung cho tường cao Khánh Dương đã cắt bao lâu rồi?”
Hứa Tụng Niên thành thật đáp: “Nửa tháng rồi ạ.”
Phụng Minh đế dùng ngón cái miết nhẹ từng vòng lên chiếc nhẫn ban chỉ dương chi bạch ngọc, khẽ nói: “Trụ cũng được lâu đấy.”
Hứa Tụng Niên bảo: “Trước đây nguồn cung đều là nửa tháng đưa một lần, nô tì tính toán, bên trong… cũng đến giới hạn rồi. Tuy nhiên, tháng giêng vừa qua không lâu, nghĩ là bên trong đó ngày Tết ít nhiều cũng có đồ dự trữ, cho nên…”
“Cho nên vẫn chưa chết đói được, đúng không?”
Hứa Tụng Niên nghe thấy chữ chết không khỏi giật mình, một lúc sau mới đáp một tiếng: “Vâng.”
“Cũng tốt.” Phụng Minh đế nhìn lên bầu trời, một đàn chim nhạn kêu thê lương bay qua, bóng nhạn lướt qua mặt hồ làm đàn cá hoảng sợ tản ra. Ngài nói tiếp: “Đợi đến khi kỳ thi xuân kết thúc, chắc chắn sẽ có kẻ không sống nổi nữa. Lần này, ngươi bảo Đỗ Linh Nhược và Thành vệ doanh canh chừng thật chặt tường cao Khánh Dương. Triệu Hán Nguyên không muốn Hộ bộ bị liên lụy cùng bị khép trọng tội, chắc chắn sẽ có những nước đi sai lầm như lần trước thôi.”
Hứa Tụng Niên đáp: “Vâng, nô tì sẽ đích thân dặn dò Đỗ Linh Nhược.”
Phụng Minh đế quay đầu nhìn Hứa Tụng Niên, bỗng cười thành tiếng: “Hôm nay ngươi trả lời hơi chậm đấy.”
Hứa Tụng Niên vội quỳ xuống: “Nô tì đáng tội chết.”
“Chết cái gì?” Phụng Minh đế nói: “Giết ngươi rồi trẫm cũng chẳng có người nào thuận tay mà dùng.” Nói đoạn, ngài chỉ tay về phía Trần Kiến Vân đang ở Trì Tâm đình, lại bảo: “Hắn ta ngược lại có tư tâm, muốn ngồi vào vị trí của ngươi, nhưng trẫm vẫn thấy hắn làm việc kém xa ngươi.”
Hứa Tụng Niên nghe vậy, lập tức dập đầu sát đất: “Nô tì tạ ơn bệ hạ nhắc nhở.”
Phụng Minh đế nhìn bàn tay Hứa Tụng Niên đang áp trên mặt đất: “Ngươi cũng đáng thương, đối với trẫm thì tận trung bẩm báo, đối với dưới cũng coi như khoan dung, nhưng cuối cùng cũng chỉ có đứa trẻ Đỗ Linh Nhược kia là một lòng hiếu kính ngươi. Ngươi ấy à, cũng nên có chút thủ đoạn đi.”
Hứa Tụng Niên đáp: “Bên cạnh bệ hạ sao có thể có kẻ dùng thủ đoạn. Nô tì dù có chết cũng không thể khiến bệ hạ bất an. Nếu có ngày nào đó nô tì mang tội, bệ hạ trông vào mà ban cho nô tì một cái thây toàn vẹn, đó đã là ân điển lớn nhất rồi.”
Phụng Minh đế cười: “Lại nói mấy chuyện này. Đứng dậy đi, cùng trẫm đi dạo phía trước một lát.”
Hứa Tụng Niên chống tay đứng dậy, theo sau Phụng Minh đế tiếp tục thả bộ. Phụng Minh đế bỗng hỏi: “Hôm nay kỳ thì xuân đã khóa viện rồi nhỉ?”
“Vâng.”
“Chủ khảo bên trong là ai ấy nhỉ…”
Hứa Tụng Niên đáp: “Là Đại học sĩ Hàn lâm viện Tề Nhiên.”
“Ồ.” Phụng Minh đế cười nhạt: “Là kẻ được Triệu Hán Nguyên dùng danh nghĩa Nội các tiến cử lên, ngươi xem, trẫm đến cái tên còn chẳng nhớ rõ. Chậc…”
Ngài chắp tay sau lưng: “Xem ra năm nay người được điền bảng phần lớn lại là đám Bắc quyển rồi. Ái chà…” Nói đoạn ngài khẽ thở dài, nghiến răng nói thêm: “Trẫm thực sự có chút phát chán với lũ người này rồi.”
Hứa Tụng Niên nói: “Dù có được điền bảng trong kỳ thi Hội thì ngày sau xếp hạng thi Đình chẳng phải vẫn do bệ hạ quyết định sao?”
“Hừ.” Phụng Minh đế cười lạnh: “Quan viên thiên hạ nhiều như vậy, trẫm sao nhớ hết được. Chỉ cần được làm quan, thì sau này làm quan ở đâu? Làm chức quan gì? Đám người bên dưới ông ta còn có thủ đoạn hơn trẫm nhiều. Hứa Tụng Niên à…”
“Nô tì có mặt.”
“Trương Dược đang ở đâu?”
“Hôm nay… e là đang ở bên ngoài, bệ hạ triệu kiến, nô tì sẽ sai người đi truyền ngay.”
Phụng Minh đế ngoảnh lại: “Hôm nay không vội, đợi ngày mai bắt đầu kỳ thi, trẫm có ý để hắn thay trẫm nhập liêm, đi tuần sát kỳ thi xuân năm nay một chuyến.”
*Liêm (帘) nghĩa đen chỉ tấm rèm / màn dùng để ngăn cách khu chấm thi với bên ngoài trong trường thi (đồng thời cũng để chỉ toàn trường thi). Trong các kỳ thi lớn như thi Hội, quan chấm thi làm việc bên trong khu vực được che bằng rèm. Khu này cách ly hoàn toàn với bên ngoài để tránh gian lận và quan hệ riêng.