Nguyệt Hòe Thụ Một Đời Không Thể Buông Tay

Chương 26



Chương Vọng Sinh bận rộn tối ngày sau khi trở về tỉnh lỵ. Anh vừa phải làm báo cáo cho đơn vị, vừa tranh thủ ghé bưu điện gửi ít t.h.u.ố.c về nhà chú sáu Mã ở Nguyệt Hòe Thụ. Chiếc xe đạp cũ kỹ hiệu Phượng Hoàng của anh vốn đã rệu rã, bao năm dầm mưa dãi nắng, gánh vác bao hơi sức nhưng anh vẫn chẳng hề có ý định đổi mới. Trước cổng bưu điện có một bé gái tết hai b.í.m tóc, thắt nơ bướm đỏ rực, anh cứ thế đứng nhìn cô bé ấy một hồi lâu, gương mặt không giấu nổi nụ cười rạng rỡ.

 

Anh đã để lại số điện thoại văn phòng làm việc cho Nam Bắc. Thời gian đầu, hễ chuông reo là tim Chương Vọng Sinh lại đập thình thịch, hoặc ngày nào anh cũng hỏi bảo vệ xem có thư gửi cho mình không. Khoảng chừng một tháng sau, anh quyết định tới Bắc Kinh một chuyến nữa.

 

Lẽ dĩ nhiên là chẳng tìm thấy người. Chương Vọng Sinh hỏi thăm khắp nơi mới biết tin cô đã ra nước ngoài. Đó là chuyện đã định từ lâu, nhưng anh hoàn toàn không hay biết, xem chừng cô cũng không có ý định nói với anh. Chương Vọng Sinh lại lên tàu hỏa ra về trong trạng thái hồn xiêu phách lạc. Một gã đàn ông đã ba mươi tuổi đầu, song vẫn vì tình yêu mà điên đảo, lặn lội ngàn dặm đi tìm một cô gái, nói ra chắc người ta cười cho bẽ mặt. Anh cảm thấy kết cục này dường như mình đã biết trước từ lâu, chuyến đi này chẳng qua là để xác nhận lại một lần nữa mà thôi.

 

Lòng anh đau như cắt, nỗi đau thấu cả tâm can. Xuống xe trong trạng thái thẫn thờ, anh về ký túc xá ngủ liền hai ngày. Bên ngoài trời mưa tầm tã, chẳng phân biệt nổi thời gian, trông ra lúc nào cũng như buổi hoàng hôn. Khi thức dậy, đầu óc anh mơ màng một lúc, cảm thấy vô cùng trống trải và cô độc. Cảm giác ấy giống như một mình bị bỏ lại trên hòn đảo mênh m.ô.n.g, mưa phùn dầm dề, chẳng ai quen biết mình và mình cũng chẳng quen biết ai, trời đất bao la chỉ độc một mình mình.

 

Bên ngoài vang lên tiếng trò chuyện của những hộ dân khác, rồi có tiếng gõ cửa: “Tiểu Chương có nhà không? Anh cả cậu đến này!”

 

Chương Vọng Sinh ngồi dậy bật đèn rồi đi ra mở cửa. Anh cả Chương Vọng Hải đang cầm ô, vai áo đã bị mưa hắt ướt sũng. Ông bước vào nhà thu ô lại, nói: “Anh đến đơn vị tìm em, người ta bảo em xin nghỉ phép, sao ban ngày ban mặt lại ở nhà ngủ thế?”

 

Gương mặt Chương Vọng Sinh lộ rõ vẻ tiều tụy, anh bảo anh cả vào nhà thay bộ quần áo khác.

 

“Ốm à?” Chương Vọng Hải sờ trán em trai, cử chỉ ân cần như chăm sóc con trai mình, rồi lại tìm nhiệt kế bắt anh đo thân nhiệt.

 

Chương Vọng Hải mở xưởng sản xuất săm lốp cao su ở tỉnh, thường xuyên về nước. Mỗi lần về, ông đều ở cùng Chương Vọng Sinh. Hai anh em trò chuyện, ra vườn hái rau, nấu cơm, dường như có bao nhiêu chuyện nói mãi cũng không hết.

 

Chương Vọng Sinh nói: “Em hơi mệt trong người chút thôi, nghỉ ngơi chút là khỏe.”

 

Chương Vọng Hải bèn thay ủng, ra vườn hái rau xanh chuẩn bị nấu mì. Chương Vọng Sinh ngồi bên mép giường, ánh mắt có chút đờ đẫn. Qua khung cửa sổ, anh thấy anh cả lom khom hái rau, lúc đứng thẳng dậy thì hơi loạng choạng, chân sau bị lún xuống bùn, lòng anh chợt nhớ lại cảm xúc lần đầu tiên gặp lại ông.

 

Anh và anh cả gặp lại nhau vào mùa đông năm 1978. Khi ấy, Chương Vọng Hải mặc com lê chỉnh tề, tay xách vali đi tới công xã Nguyệt Hoè Thụ để hỏi thăm về nhà họ Chương. Xã viên chưa bao giờ thấy ai có vẻ ngoài sang trọng như thế, ai nấy đều đứng bên đường nhìn ngó. Chương Vọng Hải lúc đó đã bước vào độ tuổi trung niên nhưng giọng quê vẫn không đổi, vừa nghe thấy khẩu âm của mọi người là nước mắt ông đã rơi lã chã, ông lấy kẹo sô cô la ra chia cho lũ trẻ đang vây quanh. Xã viên hỏi có phải ông từ Đài Loan về không, ông bảo không phải, ông từ Singapore quay về. Những người xã viên chỉ ồ ồ cho qua chuyện chứ cũng chẳng biết viết mặt chữ Singapore ra sao, chắc cũng không phải tên một công xã nào đó.

 

Sau đó, có người dẫn ông đến nhà họ Chương. Trên đường đi, người nọ kể cho ông nghe rằng nhà họ Chương chẳng còn ai cả, chỉ sót lại mỗi Chương Vọng Sinh vừa mới được minh oan. Chương Vọng Hải hỏi minh oan là gì, xã viên đáp là bỏ đi cái danh phần t.ử xấu cho cậu ấy đấy.

 

 

Khi Chương Vọng Hải theo bác lên Thượng Hải ăn học, người em thứ hai còn chưa chào đời. Đến năm ông rời bỏ đại lục hoàn toàn, Chương Vọng Triều mới chỉ là một đứa trẻ hai ba tuổi. Là anh cả, ông từng bế cậu em ấy trong khu viện của nhà họ Chương, nhìn mẹ thay cho em đôi giày đầu hổ mới khâu, thêu thùa vô cùng tinh xảo.

 

Đứa em nhỏ đi giày đầu hổ ấy cùng với mẹ và cha đều đã không còn nữa. Chương Vọng Hải không biết về người em thứ ba, cũng không biết về Tiểu Trú. Khi đến nhà họ Chương, ông nói: “Đây không phải nhà tôi.”

 

Người xã viên đáp: “Sao lại không phải, đây chính là nhà của Chương Vọng Sinh mà.” Ngôi nhà trong ký ức của ông là một khu viện lớn cơ mà.

 

Trong căn nhà vách đất thắp một ngọn đèn dầu, dưới ánh đèn là một Chương Vọng Sinh gầy gò ốm yếu chỉ còn da bọc xương. Chú sáu Mã vừa cho anh ăn xong bát cháo loãng rồi ra về. Đứng trước gian nhà chính tối om như một cái hố đen, Chương Vọng Hải hỏi: “Là Vọng Sinh phải không?”

 

Chương Vọng Sinh chưa từng gặp anh cả. Người thân của anh đã lần lượt rời xa, anh nằm một mình trên chiếc giường với đôi mắt u uất, sức cùng lực kiệt.

 

Hai anh em nhận nhau, ai nấy đều khóc nức nở. Vốn dĩ Chương Vọng Sinh chưa từng thấy anh cả, nhưng anh biết chắc chắn đây là anh mình, anh vẫn còn người thân. Anh cả trở về, Chương Vọng Sinh anh sẽ không còn là một hồn ma cô độc nữa, sẽ có người yêu thương, che chở cho anh. Đây là m.á.u mủ, là thứ không thể cắt rời.

 

Chương Vọng Sinh lúc đó ốm rất nặng, ở Nguyệt Hòe Thụ người ta đồn anh sắp đi theo con đường của Chương Vọng Triều. Anh có nghe thấy nhưng không cảm thấy sợ hãi, anh đã chẳng còn sợ cái c.h.ế.t nữa rồi. Nếu có thể gặp lại song thân và anh hai, c.h.ế.t thì cứ c.h.ế.t thôi, anh sẽ không còn cô độc nữa, anh sắp được gặp người thân rồi. Nhà họ Chương sẽ chẳng còn ai sống sót, sẽ hoàn toàn biến mất khỏi Nguyệt Hòe Thụ, chẳng còn ai nhớ đến, trở thành những người đã khuất trong câu chuyện của kẻ khác, đến một người cúng bái tiết Thanh minh cũng chẳng có, mộ phần cỏ dại mọc đầy, người ta đi qua cũng không biết nằm dưới đó là ai. Điều đó cũng chẳng sao cả, kết cục của những kẻ vô danh phàm trần vốn dĩ đều như vậy, mọi yêu hận buồn vui rồi sẽ mãi mãi chôn vùi cùng xương trắng.

 

Nhưng ai mà ngờ được, anh cả vẫn còn sống, dẫu trong lời kể của người dân ở Nguyệt Hòe Thụ, ông đã c.h.ế.t từ lâu. Ông từ Singapore tới, năm xưa theo người bác sang Nam Dương, từng nếm mật nằm gai một thời gian rồi mới khấm khá lên. Ông và bác lúc nào cũng nhớ về mảnh đất Trung Hoa cổ kính, nhớ về cây nguyệt hòe già ở Nguyệt Hòe Thụ, nhưng thời thế quá loạn lạc, loạn như những cơn mưa Nam Dương cứ tầm tã không dứt. Quê hương của họ nào có nhiều mưa đến thế, Malaysia thì ẩm ướt, rồi sau đó họ lại trở thành người Singapore. Trước lúc lâm chung, người bác dặn: “Nếu cháu có thể về nhà, hãy mang cho bác một nắm đất quê hương, vậy là bác mãn nguyện rồi.” Chương Vọng Hải đáp: “Được mà, chắc chắn chúng ta đều sẽ được về nhà.” Người bác trút hơi thở cuối cùng trong khi hát bài dân ca:

 

“Trăng treo cao giữa trời xa,

 

Ánh vàng soi tỏ muôn nhà bốn phương.

 

Trong đêm tĩnh lặng mênh mang,

 

Cố hương chợt hiện ngập tràn nhớ thương.”

 

Hát xong, ông thốt lên một câu: Trăng ở Nguyệt Hòe Thụ lên rồi kìa, thế rồi rồi ông qua đời.

 

Chương Vọng Hải mang một nửa tro cốt của bác về, ông khóc như một đứa trẻ. Thời trẻ ra đi khi già trở lại, ông chạy ra nghĩa địa dập đầu trước mộ cha mẹ. Cậu em thứ hai từng đi giày đầu hổ giờ nằm cạnh cha và mẹ, trái tim ông như bị x.é to.ạc ra vậy.

 

Nhà họ Chương chật kín người, ai nấy đều kéo đến xem Chương Vọng Hải, người vốn đã c.h.ế.t trong miệng thế gian từ lâu. Tóc ông chải sáp, trông mới oai phong làm sao! Chiếc áo khoác, khăn quàng cổ, đôi giày da bóng loáng, chao ôi, thật là đẳng cấp! Các xã viên vô cùng nhiệt tình, niềm nở, ai cũng muốn nhân dịp này mà bắt quàng làm họ với nhà họ Chương.

 

Người ở Nguyệt Hòe Thụ bảo, lần này Chương Vọng Sinh chắc chắn là không c.h.ế.t được rồi. Đúng thật, thấy anh cả, anh giống như một con thú nhỏ lạc đường không ngừng r*n r* trước mặt ông. Nỗi đau thấu xương thấu tủy đều hóa thành nước mắt, thấm đẫm vạt áo trước của Chương Vọng Hải, nước mắt ông cũng tuôn trào đầy mặt.

 

Chương Vọng Sinh bỗng chốc có được niềm an ủi mới. Anh cả lớn hơn anh nhiều tuổi, vừa là anh vừa là cha. Anh bỗng chốc tìm lại được hình bóng của cha và anh hai, anh có thêm sức sống mới, thật tốt quá. Những đắng cay, nhục nhã anh từng chịu đựng giờ đã lùi xa, vết thương trong lòng được chữa lành. Thời gian đó anh không rời anh cả nửa bước.

 

Chương Vọng Hải thương anh như thương con, ông đưa anh đi chữa bệnh, may quần áo mới, đưa anh đi thi cử. Ông bảo: “Từ nay về sau em không phải lo chuyện tiền nong nữa, anh cả kiếm được tiền rồi, rất nhiều.” Nói đoạn, cả hai anh em lại nghĩ đến những người thân đã nằm dưới mộ sâu. Dẫu có nhiều tiền hơn nữa, ngày rộng tháng dài hơn nữa, thì cũng chẳng còn liên quan gì đến họ nữa rồi. Hai người lại không kìm được mà cùng nhau rơi nước mắt.

 

“Mưa thế này trong nhà ẩm thấp quá, ở Malaysia thì ẩm ướt quanh năm suốt tháng.” Chương Vọng Hải vừa rửa rau vừa nói.

 

Chương Vọng Sinh thay than tổ ong xong, cầm tờ báo địa phương mà anh cả mang tới lên xem. Thấy có hình minh họa một con vật, anh hỏi anh cả: “Đây là con gì thế anh?”

 

Chương Vọng Hải đáp: “Đây là con heo vòi Mã Lai. Hồi trước bên đó người ta bảo nó sống nhờ ăn giấc mơ của người khác, thực ra nó chỉ là một loài động vật sống trong rừng nhiệt đới thôi.”

 

Chương Vọng Sinh mỉm cười: “Nếu có thật thì tốt quá, mời nó đến ăn sạch những cơn ác mộng đi.”

 

Hai người nói về rừng nhiệt đới, về phong tục ở Malaysia, thực sự là hai thế giới hoàn toàn khác biệt với Nguyệt Hòe Thụ. Nhưng giờ đây, thế giới đã bắt đầu chuyển động, Chương Vọng Sinh hiểu thêm nhiều chuyện về Đông Nam Á. Singapore phát triển rất nhanh, kinh tế rất phồn thịnh, không biết người ta đã làm cách nào.

 

Chương Vọng Hải có thể nói tiếng Anh lưu loát, điều này giúp ích rất nhiều cho việc kinh doanh của ông. Ông khuyên em trai vẫn nên học tốt tiếng Anh để thuận tiện cho việc tra cứu tài liệu nước ngoài.

 

Chương Vọng Sinh hỏi: “Singapore có nhiều người Hoa thế, họ còn nói tiếng Hán không anh?”

 

Chương Vọng Hải dùng đũa đảo mì, nghiêng mặt sang một bên để tránh hơi nóng bốc lên.

 

“Nhiều người không biết nói nữa rồi. Nhưng từ năm 79, chính phủ bắt đầu đẩy mạnh chiến dịch nói tiếng Hoa. Dẫu có nói thế nào đi nữa, đa số họ cũng chẳng còn thấy mình là người Trung Quốc nữa đâu.”

 

Chương Vọng Sinh im lặng.

 

“Còn anh thì sao?”

 

Chương Vọng Hải thở dài: “Anh sống hơn nửa đời người rồi, hồi mới sang Nam Dương, bác luôn nhắc nhở anh phải nhớ kỹ thân phận người Trung Quốc của mình, anh cũng từng nghĩ như vậy. Sau này thấy việc về quê nhà chẳng còn hy vọng gì nữa, anh lập gia đình, nói tiếng Mã Lai, nói tiếng Anh với người ta, dần dà cũng chẳng biết mình là người phương nào nữa. Giờ bảo anh định cư ở đây thì không thể nào rồi. Nhưng anh thấy mình vẫn có thể làm được gì đó, giờ thời thế tốt rồi, tràn ngập hứa hẹn.”

 

Nét mặt Chương Vọng Sinh u uất. Con người khi ở một nơi quá lâu, tập quán, ngôn ngữ, văn hóa đều thay đổi, dần dần quả thực sẽ quên mất lối về. Một thế hệ không muốn lãng quên, nhưng đến thế hệ thứ hai, thứ ba, cuối cùng rồi cũng sẽ quên sạch.

 

Chương Vọng Hải vui vẻ nói: “Malaysia có câu tục ngữ: Đại dương nơi nào mà chẳng có sóng, đất mẹ nơi mà nào chẳng gặp mưa. Đời người chính là như vậy, luôn có sóng gió dập dìu, vượt qua được thì sẽ thấy biển rộng trời cao. Anh còn có thể gặp lại em, còn có thể đóng góp chút gì đó cho đại lục, thật đúng là trời cao thương xót anh.”

 

Chương Vọng Sinh bày chiếc bàn ăn nhỏ, lấy ít tương ớt ra ăn cùng mì trứng rau xanh. Chương Vọng Hải lại bảo, nhớ hồi nhỏ có món củ cải muối ngon tuyệt, cho thêm ít ớt, dầu mè, đúng là mỹ vị nhân gian. Những thứ đó vốn dĩ chẳng bao giờ thiếu, ai mà ngờ được sau này lại nghèo túng, đói kém đến thế, lại còn bao nhiêu cuộc đấu tranh nữa.

 

Chương Vọng Sinh không thích bàn chuyện chính trị, nhắc đến những chuyện mười mấy năm qua, anh không kích động như những người khác, chỉ nói với anh cả rằng: “Thời thế không do mình, phần lớn mọi người đều chẳng biết mình đang làm gì. Những năm được mùa thì có thể làm người tốt, đến lúc sắp c.h.ế.t đói rồi thì khó mà giữ mình để mà làm người tốt được.”

 

Anh hỏi một vài chuyện về du học. Singapore rất hiện đại, rất lôi cuốn. Chương Vọng Hải cứ ngỡ anh muốn tìm hiểu chuyện ở Singapore, lại thấy xót xa vì Chương Vọng Sinh không được học đại học, suốt ngày vẫn phải giao thiệp với nông thôn, cả năm trời thì có tới một nửa thời gian là đi khảo sát, nghiên cứu ở dưới quê.

 

Họ lại bàn luận nhiều chuyện về cải cách. Trời mưa không dứt nên cũng chẳng thể đi dạo, đành ngồi trên ghế sofa trò chuyện. Chương Vọng Hải thấy mệt nên đi ngủ trước. Lưng ông không được tốt nên phải nằm giường cứng, Chương Vọng Sinh đặc biệt đóng cho ông một chiếc giường gỗ, quét sơn dầu, chỉ trải một lớp nệm mỏng.

 

Tiếng mưa đập vào cửa sổ. Chương Vọng Sinh ngồi bên bàn học đọc tập thơ Đỗ Phủ một lúc, rồi cũng cầm b.út lên bắt đầu viết thư.

 

“Nam Bắc,

 

Nghe nói em đã sang Mỹ, anh ba e là khó lòng đợi được thư của em nữa rồi.

 

Em đi mà không nói với anh một lời, ý tứ trong đó đã quá rõ ràng. Anh biết mình nợ em quá nhiều, chắc hẳn em hận anh tới thấu xương, không thể tha thứ được nữa nên mới ra đi không lời từ biệt. Anh đến Bắc Kinh tìm em, hỏi thăm đến đây mà lòng đau như thể bị ai đó giật phăng đi một mảng da thịt. Nghĩ lại chuyện cũ năm bảy lăm, nhất thời anh chẳng phân biệt nổi là mơ hay thực, liệu anh có thực sự từng gặp em ở Bắc Kinh hay không, cũng khó lòng đoán định được nữa.

 

Anh thường nhớ lại những chuyện hồi em còn nhỏ, nhớ lúc anh hai và chị dâu còn sống, chúng ta cùng nhau ăn mì trộn rau kinh giới. Em thích ăn rau kinh giới, không biết bên Mỹ có món đó hay không. Em tới Mỹ, vốn dĩ không đến lượt anh phải lo lắng, nhưng cứ nghĩ đến việc em thân gái dặm trường, nơi xứ lạ quê người, anh lại không khỏi lo âu. Sợ em ăn không quen, ở không quen, sợ em bị kỳ thị khi giao tiếp. Nước Mỹ quá xa xôi, lỡ như em có mệnh hệ gì, cha mẹ em làm sao có thể lập tức có mặt bên cạnh em được? Anh biết em thông minh, làm việc gì cũng đâu ra đấy, môi trường hiện tại cũng đã hoàn toàn khác xưa. Thế hệ du học sinh như các em sẽ không phải chịu nhiều khổ cực như những người Hoa buộc phải rời quê hương sang Nam Dương năm nào. Mỹ là quốc gia phát triển nhất thế giới, chắc chắn sẽ cho em một nền giáo d.ụ.c tốt nhất. Em đi để mở mang tầm mắt với thế giới là điều đúng đắn, là điều mà người trẻ nào cũng khao khát. Tại sao anh vẫn lo âu như vậy? Rõ ràng biết là quá dư thừa.

 

Nơi này đang mưa. Hồi nhỏ em cứ náo loạn đòi ngủ cùng anh bằng được. Lúc ở Bắc Kinh, khi ôm em vào lòng, anh cảm thấy hoảng hốt cực độ. Là em sao? Một cô nhóc nhỏ tí xíu ngày nào giờ đã trưởng thành thế này rồi ư. Anh cứ nghĩ xem nên đối tốt với em thế nào, tâm trí rối bời, thấy đối với em thế nào cũng không đủ tốt. Em vẫn còn chịu gọi anh một tiếng anh ba, thực sự lúc này anh có c.h.ế.t cũng không còn gì hối tiếc. Anh thực sự đã ngỡ rằng chúng ta đã hòa làm một, không thể khăng khít hơn được nữa. Anh cảm kích đến mức chẳng biết làm sao cho phải, nhưng rồi mọi chuyện lại tan thành mây khói. Anh nghĩ mình đã quen với những sự hụt hẫng trong đời, nhưng với em, anh vẫn không biết phải nói sao.

 

Anh nào có khác gì kẻ khiến người ta phải hụt hẫng! Anh chưa bao giờ nhắc với em rằng, anh còn có một cô em gái nhỏ đã c.h.ế.t trong những năm tháng đói kém. Khi bọn anh bỏ con bé lại trên tảng đá, nó vẫn còn ngây thơ đòi anh bế bồng. Lúc đó anh đến bước đi còn không nổi, chẳng còn sức đâu mà bế con bé nữa, khoảng cách chỉ trong gang tấc mà như cách trở nghìn trùng. Con bé có lẽ đã bị sói tha đi, hoặc thậm chí còn thê t.h.ả.m hơn thế, anh chưa bao giờ dám nghĩ chi tiết. Sau này, có lần thấy anh hai gục xuống bàn khóc, đợi anh ấy ra ngoài, anh lại gần xem cuốn sách đang mở trên bàn mới biết đó là bài Tế muội văn của Viên Mai. Viên Mai đau buồn vì em gái thứ ba của ông qua đời năm bốn mươi tuổi, còn em gái anh đến bốn tuổi cũng chẳng thể sống tới. Anh đã khiến em gái mình phải hụt hẫng, anh từng tự hứa với lòng rằng sau này tuyệt đối sẽ không dễ dàng để ai phải hụt hẫng vì mình nữa, nhưng sự đời chẳng toại nguyện, anh vậy mà đã làm em đau lòng. Nhà họ Chương vốn dĩ con đàn cháu đống, đến thời thiếu niên của anh thì đã tiêu điều đến mức chỉ còn lại mình anh. Nếu không có em, anh khó lòng vượt qua được những năm tháng ấy. Em đã mang lại cho anh niềm an ủi to lớn, cho anh dũng khí để sống tiếp, vậy mà anh lại chẳng thể khiến em được toại nguyện, ngược lại còn khiến em đau khổ khôn nguôi. Thời gian trôi qua, hồi bé em tin tưởng anh biết bao, giờ đây hố ngăn cách lại sâu đến vậy, đều do một tay anh gây ra. Cứ nghĩ đến điều đó là lòng anh lại đau như d.a.o cắt. Nay em đã đi xa ngàn dặm, anh không biết liệu còn có thể gặp lại em thêm một lần nào nữa không. Nếu em gặp chuyện chẳng lành, anh có thể làm gì được cho em đây? Anh chưa học đại học, lại càng chưa từng ra nước ngoài, chẳng biết phong tục con người nước Mỹ ra sao, chỉ mong em làm việc gì cũng phải cẩn trọng, tuyệt đối đừng quá mạo hiểm, nhớ kỹ phải chú ý an toàn. Vạn nhất có chuyện gì hãy nhớ đến đại sứ quán tìm kiếm sự giúp đỡ, đừng để bản thân phải chịu uất ức, nhưng cũng đừng quá cố chấp. Trăm lời nghìn chữ, mong em muôn vạn lần hãy trân trọng bản thân. Một mình em nơi đất khách quê người, lúc này anh chẳng biết nói gì thêm, bảo trọng, hãy thật bảo trọng.”

 

Chương Vọng Sinh viết xong bức thư, giấy viết đã thấm ướt vài chỗ. Đợi thư khô hẳn thì đêm đã về khuya, thần trí anh mê muội ngồi trên chiếc ghế mây rồi khép hờ đôi mắt.

Bức thư ấy đã bị tiêu hủy ngay ngày hôm sau. Chương Vọng Sinh lại lặn lội đến Bắc Kinh một chuyến, cầm theo giấy giới thiệu, thông qua nhà trường để tìm hiểu hoàn cảnh gia đình Nam Bắc. Anh tìm đến tận nhà vợ chồng Lê Quân Hồng, họ tuy rất ngạc nhiên nhưng vẫn tiếp đãi anh vô cùng nồng hậu.

 

Chương Vọng Sinh không nói quá nhiều, cũng không đòi hỏi gì quá đáng, anh chỉ hy vọng có thể từ phía họ nhận được chút tin tức rằng cô vẫn bình an là đủ. Vợ chồng Lê Quân Hồng tự nhiên là nhận lời và hứa sẽ gọi điện cho anh. Chương Vọng Sinh để lại địa chỉ cùng số điện thoại rồi không nán lại lâu, anh vội vã trở về để cùng đoàn xuống cơ sở khảo sát các doanh nghiệp hương trấn ở Nguyệt Hòe Thụ.

 

Một phần đất đai của nông dân đã được chuyển đổi thành đất thương mại, công xã dần tan rã, chính sách quốc gia khuyến khích nông dân tự thân vận động, làm gì cũng được, miễn là làm. Đất đai nằm trong tay nông dân, họ muốn canh tác gì thì làm c** **. Nguyệt Hòe Thụ vẫn là Nguyệt Hòe Thụ, nhưng khắp đông, tây, nam, bắc trong vòng trăm dặm này, các loại nhà xưởng mọc lên san sát. Đất thì không mất tiền, một đại gia đình người thì làm ruộng, kẻ thì vào xưởng làm công, tiền bạc trong tay bỗng chốc rủng rỉnh, ai nấy đều phấn khởi đến mức chẳng biết nên tiêu pha thế nào cho phải.

 

Công việc này diễn ra vô cùng rầm rộ. Ở nông thôn, người ta chẳng hiểu gì về khái niệm tích lũy tư bản nguyên thủy, nhưng thực tế chính là nó. Họ cũng chẳng biết việc mở xưởng hay lên thành phố mua một cái máy tiện thì gọi là kích cầu nội địa, chẳng ai quan tâm mấy từ ngữ đó dùng để làm gì, chỉ thấy tiền về túi, ngày tháng càng sống càng có hy vọng, thế là chuyện tốt rồi.

 

Con gái chú sáu Mã vào làm việc ở xưởng may, vừa phát lương xong đã ra ngay chợ mua một tảng thịt heo thật lớn về cho cha. Các chợ phiên từ năm 1978 đã bắt đầu mở cửa trở lại, cái gì cũng cho phép bán, nuôi con gà con vịt muốn bán bao nhiêu tùy ý, chẳng còn ai đến cắt cái đuôi tư bản của bạn nữa. Lúc đầu, mọi người còn do dự quan sát, lén lút dò xét vì sợ lại bị lôi ra sân tập thể mà phê đấu, nhưng sau đó họ hiểu ra rằng không còn chuyện đó nữa, vĩnh viễn không bao giờ còn nữa.

 

Chú sáu Mã vừa thấy Chương Vọng Sinh là ăn nói vô cùng khách khí. Chú cảm thấy Vọng Sinh giờ đã là người thành phố, đến từ tỉnh lỵ, không thể nào giống như những năm trước ngồi bừa bãi ngoài ruộng rồi muốn nói gì thì nói được nữa.

 

Người ở Nguyệt Hòe Thụ, hay nói rộng ra là người dân ở các vùng nông thôn phía bắc Trung Quốc luôn có một nỗi kính sợ tự nhiên đối với người thành phố. Mười năm xuống nông thôn tham gia đội sản xuất đã từng phá vỡ nỗi kính sợ ấy, nhưng giờ đây, nó lại trỗi dậy.

 

Chương Vọng Sinh nói: “Chú Sáu, chú nhìn mà xem, cháu vừa mới đến mà chú đã coi cháu như khách thế này, đừng làm vậy, chú cháu mình lại thành ra xa cách.”

 

Chú sáu Mã có chút ngại ngùng, nói: “Đôi lúc chú cứ thấy như đang nằm mơ vậy, giờ không còn thịnh cái lối cũ nữa, nói bỏ là bỏ sạch. Nghĩ kỹ lại, cháu bảo hai chú cháu ta mấy năm đó chịu bao nhiêu là tội, rốt cuộc là vì cái gì?”

 

Chương Vọng Sinh mỉm cười: “Chú Sáu, mọi chuyện đều qua cả rồi.”

 

Chú sáu Mã ngập ngừng ghé sát lại hỏi nhỏ: “Vọng Sinh, cháu nói thật lòng cho chú biết, cháu thực sự không để bụng sao? Chú nói cháu nghe, thằng Lý Đại Thành dạo này cứ như bị tâm thần ấy, hắn cứ lải nhải bảo cháu sẽ trả thù hắn, sợ đến mất mật. Hắn bảo cháu ở thành phố làm cán bộ lớn, muốn quật ngã hắn thì cũng dễ như bps c.h.ế.t con kiến thôi.”

 

[Truyện được đăng tải duy nhất tại MonkeyDD.com -

Chương Vọng Sinh đáp: “Cháu chẳng rảnh rỗi đến thế, cháu cũng không phải cán bộ lớn gì đâu ạ.” Anh còn phải đi thăm Phượng Chi, chị ốm rồi, ốm rất nặng, anh muốn đưa chị lên tỉnh để chữa trị.

 

Những năm qua, Tuyết Liên chỉ nhờ anh giúp đúng một việc, đất đai nhà cô bị người ta lấn chiếm mất. Chồng của cô là hạng vô dụng, cô có gào rách họng ra tranh cãi cũng chẳng ăn thua, nên chỉ còn cách tìm đến Chương Vọng Sinh, vì cô biết anh đã thành đạt rồi. Lúc gặp lại anh, cô vô cùng lúng túng. Cô đã bị năm tháng mài mòn cho già cỗi đi, dầm mưa dãi nắng khiến da dẻ thô ráp, chảy xệ; còn anh thì khác, anh trông vẫn trẻ trung, phong độ, lại thêm phần trầm ổn, bảo đảm những cô gái hay phụ nữ trẻ thấy anh là tim lại đập loạn nhịp.

 

Những chuyện cũ rích ngày xưa không ai còn nhắc lại, cô thậm chí còn cảm thấy hổ thẹn không dám hé răng vì sợ anh coi thường mình. Nhưng đất bị chiếm mất rồi, mặt mũi có quan trọng bằng mảnh đất không? Mặt mũi giờ chẳng đáng giá bằng một cây bắp cải. Cô tìm đến anh, ngập ngừng kể lể một hồi chẳng ra đầu ra đũa, Chương Vọng Sinh nói: “Chị Tuyết Liên, em hiểu rồi, chị đừng cuống, để em đi xem cho.” Cô không phải người dưng, cô là chị Tuyết Liên, tuy cô đã bị cuộc đời bào mòn trở nên già nua và mệt mỏi, hoàn toàn trở nên giống như chị dâu hay những người phụ nữ nông thôn khác, nhưng cô vẫn là chị Tuyết Liên của anh. Chương Vọng Sinh đã tìm cách giải quyết êm xuôi việc đó giúp cô.

 

Khi điện thoại gọi đến văn phòng, Chương Vọng Sinh không có mặt ở đó. Vừa về đến nơi, đồng nghiệp bảo anh rằng có người họ Lê gọi tới tìm, anh không thể chờ đợi thêm mà gọi lại ngay lập tức. Lê Quân Hồng nói với anh rằng Nam Bắc đã gọi điện về, mọi chuyện đều ổn, cả việc học lẫn cuộc sống đều tốt. Lê Quân Hồng cố ý gọi là Nam Bắc, đó là cách ông quan tâm đến cảm xúc của anh.

 

Anh đặt điện thoại xuống, trái tim đang lo âu thấp thỏm cũng dần bình lặng lại: Cô ấy vẫn ổn, ổn là tốt, ổn là tốt rồi…

 

Nam Bắc quả thực rất ổn, cô không gặp khó khăn gì về vật chất vì đã có cô ruột ở đó. Vốn dĩ số du học sinh cùng đi không nhiều, mọi người hễ nhớ nhà là lại tụ tập lại với nhau; nhưng cô không nhớ nhà, cũng chẳng thấy không quen với ngôn ngữ hay chuyện ăn uống. Cô thích nghi cực kỳ tốt khiến bạn học phải ghen tị. Cô có thể chơi cùng với người nước ngoài và nhanh ch.óng có một anh bạn trai người da trắng. Khuynh hướng của cô rất cởi mở, hôn nhau giữa sân trường mà chẳng cần kiêng dè gì.

 

Anh bạn trai này giúp cô nhanh ch.óng làm quen với môi trường mới. Nam Bắc thấy nước Mỹ đúng là danh bất hư truyền, quá tuyệt. Lúc thì cô đi chơi cùng bạn trai, lúc thì đi cùng cô ruột, đi khắp nơi, ngắm nhìn mọi thứ, tất thảy đều mới mẻ và phồn vinh. Các bạn học cũng giống như cô, nước Mỹ đã khiến họ mở mang tầm mắt, ai nấy đều cảm thấy giáo d.ụ.c hồi nhỏ đúng là lừa người, quốc gia tư bản tốt đẹp thế này cơ mà! Cả nhóm cười ầm lên, bảo lúc nhỏ cứ tin sái cổ rằng người dân nước Mỹ đang sống trong cảnh lầm than cơ cực, chờ chúng ta đến cứu giúp.

 

“Thế sau này các cậu có định quay về không?” Không biết ai bất chợt hỏi một câu khiến cả nhóm im bặt. Biết nói sao nhỉ, trước khi ra nước ngoài, ai nấy đều hừng hực khí thế với chí hướng học thành tài để về cống hiến cho tổ quốc.

 

“Ngành của mình thì nói thật nhé, ở trong nước không có thiết bị nghiên cứu và nguồn vốn tương ứng để hỗ trợ đâu. Nếu mình quay về, chắc chắn chẳng làm ra kết quả gì. Nhìn phòng thí nghiệm ở Mỹ mà xem, thiết bị hiện đại đến mức trước đây nằm mơ cũng chẳng thấy được!”

 

“Nếu Viện Công nghệ Massachusetts mời mình làm giáo sư trọn đời, mình sẽ không quay về đâu, thề c.h.ế.t bảo vệ sự tôn nghiêm của lá cờ hoa!”

 

Họ cùng nhau nói cười, có bao nhiêu phần là thật thì chỉ mình họ rõ. Nhưng mọi người đều nhất trí cho rằng, Lê Dữ Thời chắc chắn sẽ không quay về.

 

Nam Bắc lúc đó đang trong giai đoạn mặn nồng nên tâm trạng rất tốt, cười hì hì bảo: “Ôi, mình chẳng biết đâu, thôi cứ để sau này tính!” Chính vào quãng thời gian ấy, cô theo anh bạn trai học cách chơi cá cược đua ngựa. Nhà trai rất khá giả, có nghiên cứu am hiểu sâu về ngựa, mà cô lại thông minh như thế nên dù là học hành hay thú vui bên ngoài đều làm đến nơi đến chốn. Bốn trăm đô la Mỹ được tạo ra từ mồ hôi nước mắt từ mười nghìn người nông dân quả thực quá đỗi chua chát, đôi khi nghĩ đến điều này cô lại thẫn thờ. Tiền ở Mỹ kiếm được sao mà dễ dàng đến thế, Trung Quốc đúng là quá nghèo, quá khổ.

 

hằng nguyễn

Khoảng năm thứ hai, Phùng Trường Canh cũng sang Mỹ. Khi gặp lại Nam Bắc thì cô đã hoàn toàn Mỹ hoá. Mùa hè cô mặc đồ bơi chơi đùa ở công viên nước, thân hình cô rất đẹp mà cô cũng chẳng ngại ngần để người khác ngắm nhìn. Cô còn rất thích khiêu vũ, luôn là tâm điểm trong các buổi dạ tiệc. Cô không ngờ Phùng Trường Canh cũng sang đây, nhưng cũng chẳng quá ngạc nhiên.

 

Phùng Trường Canh nhìn thấy cô nhảy nhót sát rạt, uốn éo cùng những gã đàn ông khác thì cảm thấy rất chướng mắt. Cậu ta biết nước Mỹ phóng khoáng, nhưng sự phóng khoáng này đối với một du học sinh Trung Quốc mà nói thì quá xa lạ, nó mang lại một cảm giác phức tạp và đầy xung kích.

 

Nam Bắc nhảy mệt, mồ hôi lấp lánh đầy cổ, chiếc áo hai dây trễ nải ôm lấy đôi nò bồng đảo dường như vẫn còn đang phập phồng không ngơi. Cô ngồi xuống, trêu chọc anh chàng Phùng Trường Canh đang nghiêm túc quá mức: “Mời tôi một ly rượu chứ?”

 

Phùng Trường Canh cảm thấy con người cô lúc này quá nóng bỏng, nóng đến mức hễ ai chạm vào là có thể bị thiêu rụi. Cậu ta có chút sợ cô rồi, vì cô quá rực rỡ, tự tin, lại không thiếu tiền, nghe đâu có một vị đại gia từ Hồng Kông hay Đài Loan gì đó đang theo đuổi cô.

 

Túi tiền của Phùng Trường Canh eo hẹp nhưng không muốn mất mặt, liền hỏi cô muốn uống gì.

 

Nam Bắc gọi loại rất đắt tiền. Tuy Phùng Trường Canh túng quẫn nhưng đã lỡ mời thì cũng đành thản nhiên mà tiếp tục.

 

Nam Bắc chẳng khách sáo, uống cạn một hơi rồi đặt ly xuống, mời cậu ta nhảy một bản.

 

Phùng Trường Canh nói: “Tôi không biết mấy thứ này.”

 

Nam Bắc đáp: “Không biết mới phải học chứ, để tôi dạy cậu.” Khóe miệng cô nhếch cao, kéo Phùng Trường Canh ra sàn nhảy. Cậu ta đúng là vụng về hết chỗ nói, một gã đàn ông sao có thể cứng nhắc như thế được? Lại còn cứ giẫm vào chân cô mãi. Nam Bắc cười ngặt nghẽo, chẳng yêu cầu gì cao xa ở cậu ta, hơi thở nóng hổi cứ thế phả vào tai Phùng Trường Canh: “Cậu bớt giẫm vào chân tôi vài cái là tôi cảm tạ trời đất lắm rồi!”

 

Phùng Trường Canh bị ánh đèn sàn nhảy làm cho ch.óng mặt, mọi thứ quá đỗi ảo diệu. Nghĩ lại những chuyện ở quê nhà, cậu ta cảm thấy thật không tưởng. Cái cảm giác ưu việt trước đây khi đứng trước Chương Vọng Sinh, giờ sang đến Mỹ đã hoàn toàn tan biến. Trên đường phố Mỹ toàn là xe hơi, người da đen nhảy Breakdance, trong phòng gym đàn ông hùng hục luyện cơ bắp, họ còn mua sắm qua màn hình, trong khi ở Trung Quốc lúc này, phần lớn các gia đình còn chẳng biết cái tivi là cái giống gì. Cậu ta vốn tự hào mình là sinh viên đại học ở Bắc Kinh, thuộc tầng lớp ưu tú xuất sắc nhất, nhưng sang đến Mỹ, đừng nói là so với Chương Vọng Sinh, ngay cả bản thân cậu ta cũng thực sự chẳng là gì cả.

 

Cậu ta gặp Chương Vọng Sinh vào tiết Thanh minh trước khi đi, lúc cậu ta về Nguyệt Hòe Thụ đốt vàng mã cho bà ngoại thì tình cờ chạm mặt. Chương Vọng Sinh mặc một chiếc áo khoác jacket, nhìn thoáng qua thấy toát lên vẻ rất thư sinh, người đàn ông ba mươi tuổi dù trông có trẻ trung đến mấy thì chung quy vẫn khác hẳn so với cậu ta.

 

Phùng Trường Canh nghe nói Chương Vọng Sinh thường xuyên đi xuống các vùng nông thôn, không chỉ ở Nguyệt Hòe Thụ mà còn đi qua nhiều tỉnh: Giang Tây, An Huy, Cam Túc… Người này xem ra dẫu có làm người thành phố thế nào thì cả đời cũng không thoát khỏi việc giao thiệp với nông thôn. Lúc nhỏ Phùng Trường Canh thấy nhà họ Chương khá đặc biệt, giờ nhìn lại thấy cũng chỉ có đến thế thôi, giỏi giang đến mấy thì cũng chỉ là xuất thân từ gia đình địa chủ, tầng lớp thân sĩ, nói cho cùng vẫn là người nhà quê.

 

Chương Vọng Sinh thấy cậu ta thì bình thản chào một câu, hỏi có phải cậu ta về để cúng bái không.

 

Phùng Trường Canh luôn có một nỗi thù địch khó gọi tên đối với anh. Trong một tiết học ở khoa Trung văn, cậu ta từng thấy Chương Vọng Sinh một lần, chỉ có điều cả Nam Bắc và Chương Vọng Sinh đều không biết cậu ta cũng ở đó.

 

“Chào anh ba Chương.” Phùng Trường Canh đáp lại. Hai người trò chuyện xã giao vài câu, quanh đi quẩn lại cũng chỉ là chuyện về Nguyệt Hòe Thụ, cho đến khi cậu ta nói mình sắp ra nước ngoài, sang Mỹ. Chương Vọng Sinh gửi lời chúc mừng cậu ta.

 

Trường Canh nói: “Anh ba Chương, anh không thể tiếp tục học đại học, chắc hẳn là một điều hối tiếc nhỉ?”

 

Chương Vọng Sinh gật đầu. Phùng Trường Canh lại bảo: “Tôi nghe nói Lý Kỳ cuối cùng vẫn rời đi rồi, bỏ lại vợ con để về Thượng Hải.”

 

Chương Vọng Sinh không muốn bàn tán về chuyện riêng tư của người khác. Chuyện của Lý Kỳ từng một thời khá nổi tiếng ở Nguyệt Hòe Thụ, các xã viên đều mắng đám thanh niên tri thức là đồ không có lương tâm.

 

Phùng Trường Canh nói: “Người tìm chỗ cao, nước chảy chỗ trũng, Lý Kỳ làm vậy cũng là lẽ thường tình thôi.”

 

Chương Vọng Sinh không đáp gì.

 

Trường Canh lại tiếp: “Nam Bắc cũng đi Mỹ rồi, anh ba Chương có biết không?”

 

“Biết.”

 

Phùng Trường Canh thao thao bất tuyệt về việc nước Mỹ phát triển ra sao, rồi nhìn ra những xưởng sản xuất ở phía xa, lắc đầu bảo: “Mấy cái xưởng nhỏ tí thế này chẳng làm nên trò trống gì đâu. Nông nghiệp Mỹ là cơ giới hóa, canh tác quy mô lớn, hoàn toàn là hiện đại hóa, cho nên nông dân của họ cũng rất giàu có.”

 

Cậu ta dường như trở nên rất mồm miệng. Chương Vọng Sinh nhớ hồi nhỏ cậu ta lúc nào cũng có vẻ lầm lì, cứ im lặng đứng trong góc nhìn chằm chằm người khác, chẳng rõ đang nghĩ gì.

 

Đợi cậu ta nói xong, Vọng Sinh mới hỏi: “Cậu đã từng tới Mỹ chưa?”

 

Câu hỏi khiến Phùng Trường Canh hơi ngượng nghịu: “Chưa, nhưng sắp rồi. Nước Mỹ thực sự đúng như những gì tôi vừa nói đấy.”

 

Chương Vọng Sinh nói: “Nước Mỹ tốt hay không thì tôi không rõ, nhưng chúng ta có tình hình và đặc điểm quốc gia của chúng ta, cứ mù quáng bắt chước người khác, bê nguyên xi bộ máy của họ về chắc chắn là không ổn. Những công xưởng này cậu đừng nên coi thường, một là chúng giúp tăng thu nhập cho nông dân, hai là những đồ thủ công mỹ nghệ như mây tre đan hay gốm sứ này có thể xuất khẩu để thu ngoại tệ, giúp quốc gia trả nợ nước ngoài.”

 

Lòng Phùng Trường Canh tràn ngập sự khinh bỉ. Cậu ta nghĩ Chương Vọng Sinh chỉ có thể nhìn thấy đến thế mà thôi, anh sẽ không bao giờ hiểu được cái hay của nước Mỹ đâu. Chương Vọng Sinh đúng là ếch ngồi đáy giếng, làm sao có thể hy vọng bàn luận về nước Mỹ với một kẻ suốt ngày lặn lội ngoài đồng ruộng?

 

“Anh ba Chương, nếu có cơ hội, anh không muốn sang Mỹ nhìn ngắm thử một chuyến sao?”

 

Chương Vọng Sinh đáp: “Có cơ hội đương nhiên là tốt, để học hỏi thêm những kinh nghiệm hay của người ta.”

 

Phùng Trường Canh cười bảo: “Chỉ sợ anh ba Chương đi rồi là chẳng muốn về nữa.”

 

Chương Vọng Sinh từ đầu đến cuối vẫn rất bình thản. Trên mặt anh không lộ vẻ khao khát nào, cũng không giống như những người khác hễ bàn chuyện lớn là lại kích động. Anh không để lộ buồn vui ra mặt, trông lúc nào cũng như một người có tính tình cực kỳ tốt.

 

Phùng Trường Canh thấy trong lời nói của anh chẳng hề thể hiện sự hướng ngoại về nước Mỹ, cũng không có ý ghen tị với mình, cậu ta quy kết điều đó là do sự tầm thường và thiếu hiểu biết của Chương Vọng Sinh.

 

Chương Vọng Sinh chỉ coi cậu ta như một người bình thường, trò chuyện vài câu cũng chỉ đến thế.

 

Ánh đèn lại lóe lên loạn xạ, Phùng Trường Canh nheo mắt bảo mình thực sự không nhảy nổi nữa. Nam Bắc liền buông cậu ta ra, mời cậu ta cùng những du học sinh khác về căn hộ của mình ăn cơm.

 

Phùng Trường Canh cảm thấy Nam Bắc giờ đây nhiệt tình hơn nhiều, thực ra cô vẫn luôn nhiệt tình như vậy, chỉ là trước đây cô hơi khắc nghiệt với cậu ta.

 

Cả nhóm cùng nhau nấu món ăn quê hương, nguyên liệu không đúng vị, chỉ là tạm bợ cho xong. Họ còn mời hai người bạn Mỹ gốc Hoa thế hệ thứ ba tới cùng, tổ tiên của họ đã định cư ở Mỹ từ lâu. Nam Bắc nhìn mọi người làm chứ cô chẳng buồn động tay, cô chỉ thích uống rượu tây, ăn đồ tây, sinh hoạt theo lối sống Mỹ, chỉ có ngày Tết mới chịu về ăn một bữa sủi cảo. Phùng Trường Canh làm món mì trộn bưng lên, Nam Bắc chẳng thèm nếm lấy một miếng, cô hất tóc đầy vẻ khinh khỉnh: “Mấy thứ này tôi ăn chán chê rồi, hễ ngửi thấy mùi đó là tôi muốn nôn, còn cả cơm độn khoai lang nữa, đời này tôi không bao giờ muốn nhìn thấy nó thêm lần nào nữa.”

 

Một người bạn hỏi: “Dữ Thời, cậu cũng từng ăn cơm độn khoai lang cơ à?”

 

Nam Bắc bảo: “Chuyện này các cậu phải hỏi bạn học Phùng Trường Canh đây này, chúng tôi coi như là một nửa đồng hương đấy.”

 

Phùng Trường Canh chẳng hề muốn nhắc đến Nguyệt Hòe Thụ trước mặt mọi người, cậu ta không ngờ cô lại nói thế, đành tiếp lời: “Hồi nhỏ ăn phát ngán rồi, ăn đến mức trướng cả bụng.”

 

Sau khi mọi người ăn uống nhốn nháo xong xuôi rồi ngồi tán gẫu, Phùng Trường Canh tiên phong cảm thán một hồi về nước Mỹ, rồi nói trong nước thế này thế nọ. Nam Bắc nghe mà phát ngán nhưng vẫn giữ nụ cười trên môi. Giờ đây cô không dễ nổi nóng, chỉ muốn sống những ngày tháng vui vẻ.

 

Phùng Trường Canh nói: “Biết bao nhiêu người cả đời không bước chân ra ngoài, chẳng biết thế giới bên ngoài ra sao, nghĩ cũng thấy tội nghiệp.”

 

Người bạn gốc Hoa hỏi về cuộc vận động trước đây, hỏi xem liệu nó có thực sự đáng sợ như lời đồn không.

 

Mọi người cũng chẳng kiêng dè gì, dù sao cũng đang ở Mỹ, tự do vô cùng, ở Bắc Kinh chuyện này đã bị nói đến phát chán rồi.

 

Chỉ có Nam Bắc là im lặng, cô không thích lấy chuyện đó ra làm chuyện phiếm.

 

Càng nghe cô càng thấy bực dọc, cố kìm nén cảm xúc trong lòng. Cô nghĩ: Các người thì biết cái gì chứ? Chẳng biết thứ gì cả. Nhất là khi thấy người bạn gốc Hoa có ý mỉa mai, hỏi có phải người Trung Quốc cực kỳ ngu muội lạc hậu không, rồi lại hỏi về chuyện c.h.ế.t đói, cô cuối cùng cũng lên tiếng: “Thế tổ tiên các cậu lúc làm phu phen ở San Francisco có phải cũng sống như kiếp ch.ó ngựa không? Có quyền con người không?”

 

Lời này nghe chẳng lọt tai chút nào, khiến mọi người vô cùng lúng túng. Nam Bắc cười nói: “Nước Mỹ rất phát triển, người ở đây suốt ngày rêu rao dân chủ tự do, đúng là tự do thật. Nhưng cái dân chủ tự do đó được xây dựng trên nỗi đau của kẻ khác. Sao không thử hỏi những thổ dân da đỏ xem, lúc bị cướp đoạt đất đai, họ có cảm thấy dân chủ tự do không? Nhân quyền là dành cho ai?”

 

Người bạn gốc Hoa không phục: “Thế tại sao cậu lại đến Mỹ, nếu chỗ này không tốt như thế.”

 

Nam Bắc đáp: “Tôi không bảo chỗ này không tốt, chỗ này tốt cực kỳ. Tôi chỉ đang nói về lịch sử phất lên của nước Mỹ, đó là sự cướp bóc đẫm m.á.u, tích lũy đẫm m.á.u. Đã như vậy thì có tư cách gì mà đi cười nhạo nỗi khổ đau của nhân dân và quốc gia khác? Chỉ vì nước khác không đi cướp bóc, hay vì thế giới đã bị chia chác hết rồi ư? Tôi biết các cậu muốn biểu đạt điều gì. Bất cứ lúc nào, việc giễu cợt quần chúng nhân dân đang chịu khổ đều là chuyện vô vị và nông cạn. Huống hồ, tổ tiên các cậu rõ ràng đã chịu bao đắng cay nhục nhã ở chính nơi này. Tôi nghĩ, những thứ tốt đẹp như dân chủ, tự do hay nhân quyền không phải để dành cho họ đâu.”

 

Bầu không khí trở nên cực kỳ căng thẳng khiến ai nấy đều bồn chồn không yên. Có người vội nói đỡ: “Thôi chúng ta đừng bàn chuyện này nữa, nào, ăn cơm thôi, ăn cơm thôi.”

 

Bữa cơm này đương nhiên là ăn không trôi, mà không trôi thì thôi. Nam Bắc cảm thấy chuyện giao tiếp xã hội cũng chỉ đến thế. Khi mọi người đã giải tán hết, Phùng Trường Canh nói: “Sao phải đắc tội với họ chứ? Biết đâu sau này đều là quan hệ cả đấy.”

 

Nam Bắc quấn mình trong tấm chăn mỏng, cô quay đầu nhìn ra ngoài cửa sổ, thành phố rực rỡ ánh đèn như một thiên đường lộng lẫy. Còn trên mảnh đất Trung Quốc kia, vẫn còn biết bao nhiêu người cho đến nay vẫn chưa từng thấy điện, ngay cả đèn dầu cũng chẳng nỡ thắp.

 

Phùnh Trường Canh vẫn đang khuyên cô: “Nếu cậu muốn ở lại Mỹ thì nên chú ý đến các mối quan hệ một chút. Có những chuyện giữ trong lòng là được rồi, hà tất phải nói ra?”

 

Vì cùng ở nơi đất khách, xa rời quê hương, chỉ dựa vào cái danh nghĩa người Trung Quốc thôi cũng đủ để kéo con người ta lại gần nhau hơn về mặt tâm lý. Nam Bắc mỉm cười, cô sẵn lòng ban cho cậu ta một nụ cười, có trời mới biết điều này trước đây hiếm hoi đến nhường nào.

 

Phùng Trường Canh lại nói tiếp: “Trước khi sang đây tôi có gặp anh ba Chương. Thực ra sức học của anh ta không tồi, không được học lên đại học đúng là đáng tiếc. Giờ gặp anh ta, những gì anh ta có thể bàn luận cũng chỉ quanh quẩn mấy chuyện nông thôn, nào là xưởng phân bón. Con người một khi đã bị hạn hẹp thì không thể nhìn thấy những thứ xa xôi hơn được.”

 

Cậu ta nói rất nghiêm túc, cũng chẳng có ý mỉa mai gì. Nam Bắc nghe người ta đột ngột nhắc đến Chương Vọng Sinh thì thẫn thờ một lúc. Cô hiểu rằng, Phùng Trường Canh tự cảm thấy mình rất khác biệt, cậu ta thông minh, lại có chí tiến thủ, sau này có lẽ còn rất giỏi luồn lách để sống tốt. Nhưng cho dù là vậy, cậu ta chung quy vẫn chỉ là một người bình thường. Chính cô cũng thế, cũng tham luyến vật chất, tham luyến hưởng lạc, họ đều là những kẻ phàm phu tục t.ử. Chỉ có những người ở lại với mảnh đất ấy, bám rễ sâu vào đó để mọc ra những tán lá xanh tốt, rồi khi lá rụng xuống lại quay về nuôi dưỡng mảnh đất, đó mới là những bậc thánh nhân. Vì cả hai đều không phải hạng người đó, nên khi Phùng Trường Canh nói ra những lời này, cô có thể tha thứ cho cậu ta, giống như tha thứ cho chính bản thân mình vậy.