Thẩm Nguyệt Thù

Chương 10



37

 

Nha môn của Ty Đồn Điền đặt tại Vân Châu.

 

Nhưng công sở của ta lại ở Vịnh Trăng.

 

Việc đầu tiên là sửa đường, từ Vịnh Trăng thông đến các châu huyện.

 

Việc thứ hai là đào giếng.

 

Việc thứ ba là dạy nữ nhân biết chữ, biết tính toán.

 

Bùi Cảnh Minh từng đến cầu ta một lần.

 

Hắn muốn vào Ty Đồn Điền làm thư lại:

 

“Dù sao ta cũng từng học qua, biết viết biết tính…”

 

Ta bảo Thiết Đản đưa cho hắn một bao lương:

 

“Phạm nhân lưu đày không được làm lại, đó là luật, số lương này đủ cho ngươi ăn hai tháng, tìm một công việc đứng đắn đi.”

 

Hắn ôm bao lương, lưng còng rời đi.

 

Sau đó nghe nói hắn dựng một quầy viết thư thuê ở cổng thành.

 

Việc buôn bán ế ẩm, nhưng đủ sống qua ngày.

 

Năm thứ bảy, biên Bắc đại được mùa.

 

Ty Đồn Điền khai khẩn mười vạn mẫu đất, xây hai mươi tám kho nghĩa thương.

 

Nhận nuôi hơn bốn trăm trẻ mồ côi từ chiến trường.

 

Triều đình phái ngự sử đến khảo hạch, sau khi về liền dâng tấu, nói rằng:

 

“Phía Bắc có một nữ nhân, có công lao với xã tắc.”

 

Hoàng thượng phê bằng ngự b.út:

 

“Có thể sánh với Ban Chiêu.”

 

Ban thưởng mệnh phụ nhị phẩm, cho phép đi xe An xa.

 

Ngày nhận sắc phong, Vịnh Trăng bày trăm bàn tiệc dài.

 

Dân đồn điền từ khắp nơi kéo về chen kín thung lũng, họ gọi ta là phu nhân, gọi là ân nhân, gọi là Bồ Tát sống.

 

Ta mặc mệnh phục nhị phẩm, từng chén từng chén nâng rượu.

 

Kính những linh hồn t.ử trận, kính những dân đói c.h.ế.t, kính mảnh đất nuốt vào m.á.u và nước mắt rồi sinh ra lương thực này.

 

Trong men say mơ màng, ta nhìn thấy trên sống núi xa có một bóng người mờ nhạt.

 

Giống như Bùi Cảnh Minh, lại cũng giống như tất cả những quá khứ mà ta từng từ biệt, rồi cuối cùng buông xuống.

 

Hắn đứng rất lâu, cuối cùng hướng về phía Vịnh Trăng, cúi sâu một lễ.

 

Rồi quay người, biến mất trong hoàng hôn.

 

38

 

Sau này ta thường ngồi An xa đi tuần tra biên Bắc.

Truyện được đăng trên page Ô Mai Đào Muối

Xe đi đến đâu, dân chúng hai bên đường đều ra đón.

 

[Truyện được đăng tải duy nhất tại MonkeyD.net.vn -

Trẻ con hát những câu đồng d.a.o mới:

 

“Vịnh Trăng cong như trăng, Trong vịnh có Thẩm phu nhân, Phu nhân trồng lương muôn vạn gánh, Nuôi sống mười vạn người phương Bắc.”

 

Có lúc đi ngang cổng thành Vân Châu.

 

Quầy viết thư của Bùi Cảnh Minh vẫn còn, nhưng hắn luôn quay lưng lại, dùng tay áo rách che mặt.

 

Ta không dừng lại, xe cũng không chậm.

 

Tiêu Thiên Hộ, giờ đã là Tiêu tướng quân, thỉnh thoảng gửi thư đến.

 

Thư rất ngắn, chỉ nói chuyện biên quan, không nhắc gì khác.

 

Bức cuối cùng kẹp một đóa hoa kiều mạch khô, trên giấy viết: thấy hoa như thấy người xưa.

 

Ta kẹp bông hoa vào sổ sách của Ty Đồn Điền.

 

Sổ rất dày, ghi lại từng thửa ruộng mới khai ở biên Bắc, từng giếng nước mới đào, từng cái tên nhờ những thửa ruộng và giếng nước đó mà sống sót.

 

Lại năm năm nữa, đến sinh nhật bốn mươi tuổi của ta.

 

Vịnh Trăng dựng một ngôi từ đường nhỏ, thờ tất cả những người đã c.h.ế.t vì khai hoang.

 

Con trai Lý Bá, quả phụ giữ lương, những người c.h.ế.t vì đào kênh…

 

Bài vị san sát, đèn nến sáng mãi.

 

Thiết Đản, nay đã là phó sứ của Ty Đồn Điền, đỡ ta thắp hương trong từ đường, khẽ hỏi:

 

“Phu nhân, người nói việc chúng ta làm, trăm năm sau còn ai nhớ không?”

 

Ta nhìn ngọn nến lay động.

 

“Có nhớ hay không, không quan trọng.”

 

“Quan trọng là…”

 

Ta chỉ ra ngoài cửa sổ từ đường.

 

Ở đó, sóng lúa vàng đang dập dềnh theo gió.

 

Trẻ con chạy trên bờ ruộng, nữ nhân xách vò mang cơm, nam nhân mồ hôi như mưa.

 

Xa hơn nữa, con đường quan mới sửa uốn lượn, nối liền từng thôn làng.

 

Khói bếp lượn lờ, tiếng người rộn rã.

 

“Mảnh đất này nhớ.”

 

“Những người sống trên mảnh đất này, nhớ.”

 

Mặt trời dần lặn, ta quay người bước ra khỏi từ đường.

 

Bước vào chốn nhân gian ấm nóng mà ta đã dùng mười hai năm cuộc đời, tự tay gieo trồng từ hoang vu.

 

Xa xa vang lên tiếng cười của trẻ nhỏ.

 

Gió thổi qua ruộng lúa, xào xạc.

 

Như đất đang thì thầm.

 

Cũng như thời gian đang vọng lại.

 

- Hoàn văn -