Đồng Tiền Của Ta Thông Đến Hiện Đại (Cổ Xuyên Kim)

Chương 81: Lại là một năm



“Đồng Trụ, hiện giờ con còn thiếu phần d.ư.ợ.c lý. Sang đầu xuân năm sau, con theo ta vào núi hái t.h.u.ố.c, ta sẽ dạy con cách bào chế d.ư.ợ.c liệu. Mùa đông này, con phải ôn lại 《Thảo Mộc Bị Yếu》 và 《Thang Ca Quyết》 cho thật thuộc lòng, phải đạt đến mức đọc làu làu.” Du Lâm dặn dò Thạch Đầu vào ngày cuối cùng trước khi nghỉ.

Thạch Đầu gật đầu: “Con nhớ rồi, sư phụ.”

“Đồng Trụ, những thứ vỡ lòng như 《Tam Tự Kinh》《Bách Gia Tính》《Thiên Tự Văn》, nếu mùa đông này con không lười biếng, thì đều có thể thuộc làu. Những kiến thức cao hơn thì ta không dạy được.” Hắn chỉ vào nét chữ vẫn chưa đủ tinh tế trên giấy, nói: “Còn chữ này, không thể luyện trong một sớm một chiều. Thiết Trụ, con và Nhị Ni phải luyện tập nhiều hơn, đặc biệt là công phu giữ cổ tay.”

Nhị Ni xem như học trò ngoài danh nghĩa của hắn, viết chữ xong sẽ nhờ Thiết Trụ mang đến để hắn sửa.

“Vâng, thưa tiên sinh. Dịp Tết chúng con không tiện sang chúc Tết, nên ba anh em chúng con chuẩn bị lễ trước, mong tiên sinh nhận cho.” Thiết Trụ cung kính đưa lên giỏ lễ đã chuẩn bị sẵn, bên trong đầy ắp đồ, phía trên phủ một tấm vải.

Du Lâm nhìn giỏ đồ đầy ắp, lẩm bẩm: “Cái này… cái này quý quá.” Nhưng không thể từ chối sự kiên trì của ba đứa trẻ, hắn đành nhận lấy. Hắn thử xách, ước chừng nặng đến ba mươi cân.

Trên đường về, Du Lâm đi được một đoạn lại phải nghỉ, chiếc giỏ tre trên lưng ngày càng nặng. Đến khi về tới nhà, hắn đã mỏi lưng đau vai, nhưng suốt quãng đường đều cười.

“Mang gì về mà nặng vậy?” Du nương t.ử nghe tiếng động, ló đầu ra từ bếp hỏi.

Du Lâm đặt giỏ xuống, thở hổn hển: “Học trò tặng lễ năm.”

Du nương t.ử lau tay bước ra, vui mừng vén tấm vải thô lên. Đập vào mắt đầu tiên là một tấm vải bông màu xanh đen, chất vải mịn màng: “Tấm vải này…” Nàng đưa tay ướm thử: “Đủ để may cho chàng một bộ áo dài mới.”

Lật xuống phía dưới là hai tấm vải màu sắc tươi sáng, một màu hồng, một màu đỏ sậm, rõ ràng là chuẩn bị cho hai mẹ con. Du nương t.ử không nhịn được áp vải lên má, cảm giác mềm mại khiến mắt nàng hơi nóng lên.

Dưới cùng là thịt heo được bọc cẩn thận bằng cỏ khô, nạc mỡ xen kẽ, ước chừng mười cân. Ở giữa là một túi gạo tẻ khoảng mười cân. Trên cùng là bốn gói điểm tâm được gói bằng giấy dầu gọn gàng, dây buộc thắt rất chỉnh tề.

“Này…” Du nương t.ử giọng có chút nghẹn ngào: “Du Lâm, chàng nhất định phải dạy dỗ học trò cho thật tốt.”

“Không phải!” Du Lâm trừng to mắt, không thể tin nổi nhìn nương t.ử của mình, nào có chuyện phu t.ử lại đi hầu hạ học trò.

Du nương t.ử bật cười thành tiếng. Du Lâm cũng cười theo, hắn biết nương t.ử chỉ nói đùa, nhưng trong lòng hắn quả thật không coi mình là một phu t.ử đúng nghĩa. Dù sao, đối với gia đình tiên cô, hắn vẫn luôn mang lòng kính sợ.

Tô Hợp Hương làm xong việc ở trạm thu mua, lái xe trên đường về phòng trọ. Cô chợt phát hiện hai bên đường treo đầy đèn l.ồ.ng đỏ, tỏa ánh sáng rực rỡ trong màn đêm. Cô dừng xe, lấy điện thoại ra xem, lịch hiển thị ngày mai là hai mươi ba tháng Chạp.

“Ôi, sắp Tết rồi. Bảo sao trên đường lại náo nhiệt như vậy.”

Bà chủ trạm thu mua là người siêng năng, vẫn làm ăn đến tận hai mươi chín tháng Chạp. Cuối năm cận kề, nhà nào cũng tổng vệ sinh, người bán phế liệu nối nhau không dứt.

Ngày ba mươi tháng Chạp, Tô Hợp Hương cố ý ra phố vào ban ngày. Những nơi bình thường không được phép bày hàng thì nay đầy ắp quầy sạp. Cô mua một ít giấy đỏ, cùng vài loại bánh kẹo như bánh hoa quế, kẹo mè, bánh hạnh nhân và mật ba đao. Thực ra những thứ này trong không gian của cô vẫn còn, nhưng không khí Tết khiến cô cảm thấy nếu không mua gì đó thì chưa trọn vẹn.

Sau bữa trưa, cô trải giấy đỏ lên bàn, nói với ba đứa trẻ: “Năm nay câu đối xuân trong nhà sẽ do các con viết.”

“Được ạ!” Đồng Trụ là người đầu tiên nhảy dựng lên, giơ hai tay tán thành.

“Nhị Ni viết cửa phòng của mình, Thiết Trụ viết phòng của các con, Đồng Trụ phụ trách cửa bếp.”

Sau nửa năm học tập, chữ của ba đứa trẻ đã tiến bộ rất nhiều. Ít nhất nét ngang dọc đã ngay ngắn, không còn to nhỏ lộn xộn.

Câu đối đỏ được dán hai bên cửa, chữ “Phúc” lớn dán ngay chính giữa, không khí Tết lập tức trở nên đậm đà.

Tô Hợp Hương nhớ lại năm ngoái đón Tết trong hang động, còn đốt pháo hoa. Năm nay ở ngoài hang, vì phòng cháy, cô chỉ treo đèn màu trong nhà.

Trên bàn cơm tất niên, thịt kho tỏa hương, sủi cảo nghi ngút khói, tiếng cười của lũ trẻ vang lên, đèn màu lấp lánh, căn phòng vô cùng náo nhiệt. Bọn trẻ khỏe mạnh, không gian đầy ắp đồ, Tô Hợp Hương cảm thấy vô cùng mãn nguyện.

Sau Tết, mùa xuân lại đến, tuyết trong núi dần tan. Du Lâm lại bước trên con đường núi lầy lội đến dạy học, Tô Hợp Hương cũng quay lại cuộc sống hái thổ sản. Ngày tháng cứ lặng lẽ trôi như dòng suối, thoáng chốc lại qua một năm.

[Truyện được đăng tải duy nhất tại MonkeyD.net.vn -

Mùa đông năm ấy đến sớm và dữ dội. Chưa đến tháng mười một, tuyết lớn đã phủ kín sơn cốc. Dưới mái hiên treo những cột băng dài cả thước.

“Hay là chúng ta dọn về hang ở đi?” Ở trong nhà còn đỡ, vừa bước ra ngoài, gió đã rít từng cơn.

Tô Hợp Hương vừa đi vệ sinh ngoài về, chỉ trong chốc lát mà cả người đã lạnh buốt. Ngoài cửa sổ là một màu trắng xóa, trong hang sẽ ấm hơn nhiều.

“Không cần đâu nương.” Nhị Ni đang đứng bên bếp inox nấu cháo, hơi nước mờ mịt trước mặt nàng: “Trong hang tối quá, đi vệ sinh cũng bất tiện.” Cô bé thêm củi vào bếp, lửa tí tách b.ắ.n ra.

Nhị Ni và Thiết Trụ đều không muốn quay lại hang. Ở đây việc đi vệ sinh, tắm rửa đều thuận tiện, chỉ là ống nước giếng và mặt hồ giờ đã đóng băng, không thể lấy nước.

Trong phòng, dọc theo tường xếp một hàng thùng nhựa đủ màu.

Để giữ ấm, họ dùng cỏ khô bện quanh thùng thành một lớp cách nhiệt, bên ngoài phủ thêm lớp nilon. Bếp inox cháy suốt ngày đêm, chăn điện sưởi ấm giường chiếu.

Trải qua một năm học tập, Thiết Trụ và Đồng Trụ đã nhận biết và sử dụng thành thạo các chữ cơ bản, chữ viết bằng b.út lông cũng đã nhập môn.

Đồng Trụ ngoài việc học những thứ đó, còn học thêm rất nhiều kiến thức cơ bản về d.ư.ợ.c liệu và d.ư.ợ.c lý. Du đại phu không hề giấu nghề, những gì biết đều dạy hết cho họ.

Hôm nay là mùng một Tết, tối qua bọn trẻ thức khuya xem chương trình liên hoan cuối năm, mãi đến mười hai giờ mới ngủ, nên hôm nay dậy muộn.

Bên ngoài băng tuyết phủ kín, không có việc gì để làm. Tô Hợp Hương ngồi bên bàn, trước mặt là một quyển sách lịch sử. Đã ba năm kể từ khi cô vào sơn cốc, cũng đến lúc nên suy nghĩ chuyện rời đi.

Thiết Trụ nói với cô, Du tiên sinh là mười sáu năm trước, vào núi khi hoàng đế Triệu Chân tại vị năm thứ ba mươi tám. Tô Hợp Hương lật sách sử, ngón tay lần theo từng dòng chữ tìm kiếm cái tên này.

“Triệu Chân… Triệu Chân…” Đầu ngón tay cô đột nhiên dừng lại ở một dòng: “Tại vị bốn mươi hai năm, vậy hiện tại hẳn là năm thứ tư Triệu Triết lên ngôi…”

Nếu lịch sử hai thế giới có thể đối ứng, thì hiện tại khoảng năm 1100 sau Công nguyên.

Cẩm triều rất lớn, ít nhất đối với cô là như vậy. Cô đã tính sẵn, nếu đi thì sẽ đi đến nơi phồn hoa nhất — kinh đô Biện Kinh. Nước chảy chỗ thấp, người đi chỗ cao, đã muốn ra ngoài thì cần gì phải tiếp tục ở nông thôn trồng trọt?

“Ba trăm ba mươi năm quốc vận của Cẩm triều, trong đó trải qua một nghìn năm trăm bốn mươi ba lần thiên tai! Trung bình hai tháng lại có một lần?” Tô Hợp Hương hít sâu một hơi. Cô tiếp tục lật sách, ánh mắt bỗng sáng lên:

“Chế độ hộ tịch của Cẩm triều không còn chia dân thành ‘lương dân’ và ‘tiện dân’, mà căn cứ nơi cư trú, phân thành ‘phường quách hộ’ và ‘nông thôn hộ’. Đây là hình thức hộ khẩu cư dân thành thị sớm nhất trong lịch sử, cho thấy dân cư đô thị đã mở rộng, tầng lớp thị dân đã hình thành. Lại căn cứ tài sản, chia thành ‘chủ hộ’ và ‘khách hộ’, rồi tiếp tục phân cấp theo mức độ giàu nghèo.”

Tô Hợp Hương tiếp tục đọc.

“Khách hộ vì thường xuyên di chuyển nên còn gọi là ‘phù khách’. Ở một số nơi, do ‘chủ hộ ít mà khách hộ nhiều, đi lại không cố định, dân số khó kiểm’, nên việc đăng ký hộ tịch cũng gặp khó khăn. Trong thành thị, dân cư lưu động rất lớn, bất cứ ai cũng có thể đổ về, như thương nhân, người làm thuê, dân lưu lạc. Ví dụ như Kiến Khang phủ từng là nơi dân tứ phương tụ hội, phần lớn đều không có nghề nghiệp ổn định.

Quản lý hộ tịch của Cẩm triều cũng có tính mở: một người di cư đến nơi khác sống trên một năm, có thể nhập hộ tịch tại địa phương đó.”

Cô gần như muốn vỗ tay. Đây đúng là tin tốt.

“Quá tốt rồi!” Cô không kìm được vui mừng. Bấy lâu nay, hộ tịch giống như tảng đá đè nặng trong lòng cô, giờ xem ra cũng không khó giải quyết như tưởng tượng.

Cô trở về phòng trọ ở Hoa Quốc, dùng điện thoại tra đường đi đến Biện Kinh. Từ sơn cốc đến Biện Kinh khoảng một trăm ba mươi km, nếu theo tiêu chuẩn hiện đại, lái xe chỉ mất hai giờ.

Nếu đi đường bộ, hơn hai trăm dặm, chân phồng rộp là chuyện nhỏ, nhỡ gặp phải thổ phỉ hoặc những thôn xóm có ý đồ xấu…

Cô nghĩ đến chiếc thuyền của mình, trong đầu chợt lóe lên một ý tưởng. Đi đường thủy! Tô Hợp Hương rất tin tưởng vào chiếc du thuyền nhỏ của mình, chắc chắn không có con thuyền nào đuổi kịp.

Nhưng khi nghiên cứu kỹ tuyến đường, cô lại nhíu mày. Tuyến tốt nhất là theo sông Ngũ Trượng vào Hoàng Hà, nhưng con sông này có nhược điểm là mùa khô dễ cạn nước. Cô nhất định phải xuất phát vào mùa mưa.

Ngoài ra còn vấn đề thuế phí. Sách sử ghi rằng dọc đường có các trạm thu “thuế qua lại”, việc này không phải vấn đề lớn. Quan trọng là chiếc du thuyền của cô quá khác thường, rất dễ gây chú ý. Lúc trước mua chiếc này là hàng có sẵn, còn loại thuyền giả cổ thì phải đặt làm, giá lại đắt gấp đôi.

Cân nhắc rất lâu, Tô Hợp Hương quyết định trước tiên sẽ một mình rời núi thăm dò đường đi. Tìm bến tàu gần nhất, bắt một chuyến thuyền xuôi gió, nếu có thể đi thẳng đến kinh thành thì càng tốt.