Chầm chậm mở miệng:
“Chuyện đó là ta sơ suất.”
Nhưng hắn vẫn kiên quyết nói:
“Người nàng có thể gả chỉ có ta.”
Cảm giác nghẹn ngào từng bị mưa đè nén lại dâng lên trong ngực.
Nỗi tủi hờn từng khiến ta thao thức trắng đêm rốt cuộc không thể nén thêm.
Ta lớn tiếng hỏi:
“Là sơ suất của ngươi, hay là trong mắt ngươi, ta căn bản không đáng để ngươi coi trọng?”
“Trong lòng ngươi, ta là nha đầu quê mùa không hiểu lễ nghi, còn ngươi là đại tướng quân cao cao tại thượng, ngươi chịu lấy ta, ta liền phải biết ơn trời đất?”
“Ta không xứng có ba thư lục lễ, không xứng mặc hồng y cưới hỏi, cũng chẳng xứng có một tờ hôn thư?”
“Nhưng Triệu Lẫm, dựa vào cái gì chứ?”
Trong thôn, dù là nhà nghèo nhất, khi thành thân cũng sẽ nhịn ăn nhịn mặc để mua tấm vải đỏ cầu may.
Mà ngày ta gả cho ngươi, chỉ có cây nến đỏ Vương thẩm mang tới.
Bà nghẹn ngào nói:
“Từ nay về sau, A Liên có nhà rồi, sẽ không còn ai dám bắt nạt con nữa.”
Ta không nhịn được đỏ hoe mắt.
Giọng trầm xuống:
“Ngươi chẳng qua là biết ta không nơi nương tựa, mới dám bắt nạt ta thế này.”
Triệu Lẫm đứng sững tại chỗ, nhất thời tay chân luống cuống.
Hắn giải thích:
“Không phải như vậy… nàng xưa nay thuần khiết, khác biệt với mọi người, ta tưởng nàng chẳng bận lòng mấy chuyện lễ nghi ấy.”
“Vả lại, nếu lòng nàng có điều không vui, đáng lẽ nên nói sớm với ta.”
Chưa ai từng dạy ta điều đó.
Sư phụ cũng đã qua đời từ lâu.
Triệu Lẫm cúi đầu, từ trong ngực lấy ra một cây trâm gỗ.
Nghiêm túc nói:
“Đây là ta tự tay khắc.”
“Trước kia ra chiến trường, ta chẳng màng sống chết. Nhưng lần này lại biết sợ, vì trong lòng luôn nghĩ ở nhà có nàng chờ ta.”
“A Liên, không biết từ khi nào, nàng đã trở nên quan trọng hơn ta tưởng.”
Ta hung hăng lau nước mắt nơi khóe mắt.
Bẻ gãy cây trâm, ném xuống chân hắn.
Nhìn vẻ mặt ngỡ ngàng rồi dần u sầu kia, ta buông lời tuyệt tình:
“Không được phép đến Bình Xuân phường nữa.”
“Nếu không…”
“Ta sẽ thả rắn độc cắn ngươi.”
Ngày trước, bọn lưu manh trong thôn cũng bị ta đuổi đi như thế.
Nhưng so với lưu manh, Triệu Lẫm càng biết cách ức hiếp người hơn.
Hắn dẫn người tới, lục soát toàn bộ Hoa Lâu.
Các hoa nương trong lâu mất kế sinh nhai, trong chốc lát, ai nấy đều hoang mang, thấp thỏm.
Hồng Nhụy và Kỷ La cũng mang vẻ mặt lo lắng.
Ta áy náy vô cùng, bèn đem toàn bộ số bạc mang theo trao hết cho hai người họ.
Hồng Nhụy nghe ta kể đầu đuôi, còn an ủi:
“Bọn ta vốn như bèo dạt phương trời, Bình Xuân phường mười mấy Hoa Lâu, đi đâu chẳng giống nhau.”
Nghe vậy, lòng ta càng thêm khó chịu.
Không bao lâu, ta rời khỏi Bình Xuân phường.
Ta mơ hồ cảm thấy, nếu còn ở lại, ắt sẽ kéo theo rắc rối lớn hơn cho họ.
Nhưng ngoài tướng quân phủ của Triệu Lẫm ra, ta đã chẳng còn chốn nào để đi.
Hắn sai gã sai vặt đến truyền lời:
“Phu nhân, tướng quân đang chờ người ở phủ.”
Ta ngồi xổm bên bờ nước, vừa mắng Triệu Lẫm, vừa nghĩ cách kiếm tiền.
Hay là lên Nam Sơn hái ít dược thảo, cũng có thể đổi được vài cái bánh bao.
Có người bàn tán:
“Hắn lại tới rồi.”“Bao nhiêu ngày rồi cơ chứ.”“Từ sáng đến tối cứ đứng đó đợi, không sợ nhiễm lạnh sao, đúng là trai trẻ.”
Nghe vậy, ta quay đầu nhìn—Từ Nhược Chước đang đứng trên bờ đê, ngơ ngác nhìn nhành liễu.
“Ngươi làm gì ở đây?”
Hắn không quay đầu lại, đáp:
“Đợi xuân phong.”
Rồi quay lại, mắt sáng lên kinh ngạc:
“A Liên!”
Liễu đã đâm chồi từ lâu, gió xuân cũng đã vượt mấy tầng núi mà thổi tới.
Gió nổi rồi.
Từ Nhược Chước thả đồng tiền trong tay.
Đồng tiền xoay mấy vòng trên mặt đất rồi dừng lại, hắn thả liền sáu lần.
Cuối cùng ngồi xổm xuống, cẩn thận xem thật lâu.
Rồi mừng rỡ thốt lên:
“Lần này rốt cuộc đã đúng rồi!”