Xanh biếc phủ đầy đê, tiếng ve mùa hạ sắp vang lên.
Rõ ràng xuân đã sắp qua.
Có lẽ, hắn đã đợi rất nhiều lần gió, mới đợi được một quẻ như ý.
Vậy mà vui mừng đến nỗi ngất xỉu tại chỗ.
Ta cõng Từ Nhược Chước về phủ.
Môi hắn trắng bệch, gò má đỏ bừng, vừa nhìn đã biết là trúng lạnh.
Trước phủ Từ gia, mặt đất lát ngọc trắng, hoành phi khảm viền vàng.
Ta lúng túng nói với trưởng bối Từ gia:
“Ta là đại phu, có thể chữa trị.”
Nghĩ lại ta và hắn cũng coi như quen biết, do dự nói thêm:
“Không đắt đâu, mười đồng tiền là được rồi.”
Người đàn ông trung niên có vài phần giống Từ Nhược Chước nghiêm mặt.
Lòng ta bỗng chột dạ.
Tuy không muốn thừa nhận, nhưng bệnh này của hắn thật sự có dính dáng tới ta.
Giờ còn đến tận cửa nhà người ta đòi tiền khám.
Nếu họ trách ta, cũng là hợp lẽ.
Nhưng vì cái bụng đói, ta cắn răng nói:
“Năm… năm đồng cũng được.”
Một phụ nhân tóc cài đầy trâm ngọc, xinh đẹp đoan trang, chạy vội ra từ trong phủ.
Nhìn ta đầy tò mò:
“Nghe nói con dâu ta tới rồi?”
Rồi nắm tay ta, cười tươi:
“Ôi chao, mau để ta nhìn xem nào!”
Từ phụ ho nhẹ một tiếng:
“Đừng dọa người ta.”
Lại phân phó:
“Người đâu, đưa thiếu phu nhân đi nghỉ ngơi.”
Ta đơ cả mặt.
Người trong thành… thật kỳ quái.
Từ Nhược Chước tỉnh lại không bao lâu, liền hoạt bát như cũ.
Từ mẫu khen hắn có mắt nhìn người, cưới được một nương tử tốt.
Từ phụ dặn dò hắn nên dâng thêm vài nén hương cho tổ tiên.
Nghe nói, tổ tiên Từ gia quả thực từng có người đắc đạo thành tiên.
Cho nên mấy chuyện thần thần bí bí của Từ Nhược Chước, cả nhà đều đã quen.
Dù rằng, mười quẻ thì chín quẻ sai.
Ta nhỏ giọng nói:
“Vậy… ta xin cáo từ trước.”
Ba đôi mắt sáng rỡ đồng loạt nhìn sang phía ta.
Đúng lúc ấy có hạ nhân vào bẩm:
“Hoàng hậu nương nương nghe nói A Liên cô nương đến, muốn triệu kiến người.”
Thì ra, đương kim hoàng hậu chính là chị ruột của Từ Nhược Chước.
Ta hơi rầu rĩ.
Hoàng hậu… chắc là một người bình thường, phải không?
Ngày vào cung, trên đường dẫn vào điện, ta trông thấy bóng dáng của Triệu Lẫm.
Thị vệ giữ cổng vừa trò chuyện vừa cười:
“Triệu tướng quân cuối cùng cũng chịu vào cung rồi, Hoàng thượng còn đang băn khoăn nên ban thưởng gì đây.”“Nghe nói hôm qua, thái tử phi khóc lóc rời khỏi tướng quân phủ.”
Mấy người kia nháy mắt đưa tình:
“Vị tướng quân này à…”
Cung nữ dẫn ta và Từ Nhược Chước vào điện.
Hắn lơ đãng nói:
“Đừng sợ, tỷ tỷ ta hiền lắm.”
Nhưng vừa hành lễ xong, Hoàng hậu ngồi phía trên liền lạnh giọng quát:
“Láo xược!”
Ta lại thở phào nhẹ nhõm trong lòng.
Bà trách mắng:
“Cha mẹ ngươi không hiểu chuyện thì thôi, đến cưới nương tử mà cũng không biết nạp cát thỉnh kỳ, thiết yến chiêu đãi, cứ thế đưa người ta vào phủ, không thấy ủy khuất cho A Liên sao?”
Từ Nhược Chước cúi đầu hổ thẹn, ngoan ngoãn nhận lỗi:
“Tỷ tỷ dạy rất đúng.”
Lòng ta nghẹn từng hồi.
Họ… thật sự tin vào nương tử do quẻ bói ra sao?
Ta có phần ngơ ngác.
Giữa lúc mọi người đang bàn chuyện chọn ngày lành, ta kịp thời mở miệng:
“Chuyện là… ta hình như chưa từng đồng ý gả cho hắn.”
Không khí bỗng trầm mặc.
Rõ ràng ta nghe thấy tiếng hoàng hậu hít sâu một hơi.
Bà không thể tin nổi, quay sang hỏi Từ Nhược Chước:
“Đến thân cũng chưa từng cầu sao?”
Tiếng hành lễ của cung nhân vang lên.
Hoàng thượng sải bước tiến vào, giọng nói vui vẻ:
“Hoàng hậu mau xem, Triệu tướng quân của chúng ta đúng là yêu thương vị thê tử quê mùa kia thật, không màng ban thưởng gì, chỉ xin trẫm ban cho phượng quan hồng y, nói là năm xưa thành thân quá đơn sơ, muốn dùng kiệu lớn tám người khiêng nghênh nàng vào phủ, còn mời trẫm chủ hôn đấy.”