“Ta làm sao đáng giá?”
Trương Mẫn rủ mắt: “Ta chẳng qua chỉ là một hạng phụ nhân tầm thường ở kinh thành Lương Kinh này thôi…”
“Tỷ không phải.” Ngọc Lâm nâng tay áo lau đi nước mắt cho Trương Mẫn: “Mấy ngày nay, khắp kinh thành đều truyền tụng và bình phẩm bài văn tỷ viết. Trương Mẫn, bất luận khen chê, đó đều là vinh nhục của riêng tỷ, không liên quan gì đến Trương chỉ huy sứ hay Hứa chưởng ấn cả. Nhưng ta thấy vinh dự thay cho tỷ. Trương Mẫn, nếu có được thân tự do, tỷ nhất định phải bước ra ngoài, lắng nghe cho thật kỹ.”
Trương Mẫn không nói gì, cúi đầu rơi lệ không thôi, một lát sau, nàng bỗng ngẩng đầu gọi tên Ngọc Lâm, kể lại một chuyện khác.
“Ngọc Lâm, muội có biết trên đài Ngục Thần của ngục Hình bộ có khắc một chữ Ngọc không?”
“Sao cơ?”
“Là một cô nương tên Ngân Thanh khắc đấy.”
“Ngân Thanh cô nương.”
Ngọc Lâm nhớ lại cô nương đã từng túm lấy ống tay áo cai ngục trong ngục Hình bộ, khóc lóc nói muốn thay nàng đi hầu hạ cái màn dâm ô kia. Ngọc Lâm đã từ chối nàng ấy, lúc chia ly nàng ấy đã hứa với Ngọc Lâm: Nếu có được thân tự do, nhất định sẽ tới miếu Bì Trường báo tin cho Ngọc Lâm về trận tuyết đầu mùa của Lương Kinh mà nàng ấy nhìn thấy.
Về sau Ngọc Lâm không bao giờ quay lại ngục Hình bộ nữa, Ngân Thanh đi đâu nàng cũng không rõ.
“Ta nhớ nàng ấy, nàng ấy vẫn còn ở trong ngục sao?”
“Tống tư ngục nói, nàng ấy đã trong sạch rời ngục về nhà rồi.”
Trương Mẫn trầm giọng, giơ tay lau nước mắt, nói với Ngọc Lâm: “Ngọc Lâm, sống ở đời, muội có rất nhiều công đức. Nếu có thân tự do, muội cũng nhất định hãy đi ngắm nhìn một chút.”
“Được.”
Nghe Ngọc Lâm đáp lời, Trương Mẫn cuối cùng cũng quay người lại, hít một hơi thật sâu. Đến lúc này nàng quyết định không phụ lòng Ngọc Lâm nữa, quyết định tin nàng. Tin vào câu nói kia: Nữ nhân có thể cứu được nữ nhân.
Công là như chiếc cân trời không thiên lệch; Chính là khuôn phép chuẩn mực không dời đổi.
“Từng nghe: Công là như chiếc cân trời công thiên lệch; Chính là khuôn phép chuẩn mực không rời đổi…” Nàng nhắm mắt đọc thuộc lòng, khởi đầu câu thứ nhất.
Triệu đường quan và Ngô Lũng Nghi đồng thời đứng dậy, tụ lại sau lưng Mao Hành, tập trung tinh thần nhìn vào từng chữ trong bài văn, đối chiếu theo giọng đọc của Trương Mẫn.
Trong hành lang gió thổi từng trận, vô số hoa lá hỗn loạn bay lên theo gió lướt qua chân Triệu Hà Minh, trong đó có lá sồi, có hoa hạnh, có lá đông thanh, lại có cả lá ngô đồng xanh biếc tươi mới. Triệu Hà Minh tựa bên cột hành lang, cũng không tự chủ được mà mặc niệm theo.
“Giữ lòng công chính thì lòng người quy phục, thiên hạ được trị yên. Vì tư lợi mà uốn pháp, dẫu có ban lệnh cũng không ai phục tùng dẫn đến kỷ cương suy đồi. Khi xưa Bao Chửng treo gương ở phủ Khai Phong, Hải Thụy khiêng quan tài can gián vua, đều dùng tấm lòng sắt đá để làm sáng tỏ công đạo, bởi thế thanh sử lưu danh, vạn dân ngưỡng mộ. Đại khái trời đất có cán cân đo, không phải mặt trời thì chẳng thể lay chuyển cái bóng; sông biển vốn có quy luật, không phải tảng đá lớn thì chẳng thể đổi được dòng. Người sống ở đời nếu mất đi sự công bằng chính trực, khác nào đi đêm không đuốc, cuối cùng sẽ rơi xuống vực sâu…”
Trong đầu mỗi người đều đang hóa hình từng dòng chữ ấy, chỉ có tiếng của một mình Trương Mẫn vang vọng giữa công đường. Nàng không nhanh không chậm, từng chữ từng câu đọc ra không sai một ly, cuối cùng, nàng đọc tới đoạn cuối.
“Gia thụ đãi lương cầm tương trạch…” (Cây quý đợi chim lành chọn đậu) – Đây là câu đầu tiên của đoạn cuối.
Trương Mẫn vừa dứt lời, sắc mặt ba vị thẩm quan đều không khỏi biến đổi. Mao Hành và Ngô Lũng Nghi nhíu chặt lông mày, Triệu đường quan lại càng nhất thời không phòng bị, thốt lên kinh ngạc: “Cây quý đợi chim lành chọn đậu… sao lại là…”
Ngọc Lâm ở dưới đường ngẩng đầu nói: “Sai mất một chữ đúng không?”
Ánh mắt mọi người đều tập trung vào Ngọc Lâm, nàng cười một tiếng, đáp: “Không phải cây quý (Gia thụ), mà là cây ngô đồng (Ngô thụ), cây ngô đồng đợi chim lành chọn đậu.”
Triệu đường quan chẳng màng tới lễ tiết với vị thượng ti đang ngồi trên công đường, giật phăng bài văn từ tay Mao Hành, vùi đầu đọc kỹ đoạn sau, càng đọc càng thấy da đầu tê dại, lúc ngẩng đầu lên thì đột ngột chạm phải ánh mắt của Ngọc Lâm.
“Ngươi…”
“Khắp thành truyền tay nhau chép lại đều là ‘Cây quý đợi chim lành chọn đậu’, không một ai biết rằng, với tư cách là vật chứng, bài văn này viết là ‘Cây ngô đồng’. Bởi vì lúc ta sao chép đã cố ý sửa chữ này, mục đích là để đưa bản thân tới đây.”
Nàng vừa nói vừa nắm chặt tay Trương Mẫn, trấn an nàng ấy đừng sợ hãi. Nói đoạn, đối diện với đường quan bên trên nói: “Ba vị đại nhân, bài văn trong tay các ngài quả thực xuất phát từ tay ta. Trương Mẫn không biết tiền căn hậu quả nên bị liên lụy vô tội, tuy cũng có lỗi nhưng tội rất nhẹ, về tình có thể dung thứ, kính mong các đại nhân xử lý kẻ hèn theo đúng phép công, xá tội cho Trương Mẫn.”
Triệu đường quan toàn thân run rẩy, nghiến răng nghiến lợi hỏi: “Rốt cuộc tại sao ngươi lại làm như vậy?”
“Tại sao ư?” Ngọc Lâm cười, trực tiếp đọc lên đoạn văn sau đó.
“Ngô chiếu huyền minh nguyệt thủy bạc thanh (Ánh trăng soi sáng bến nước trong), gương nước sáng soi, chẳng vì đẹp xấu mà đổi bóng. Đây là chữ đầu của hàng thứ hai.”
“Chiếu bán khuất hào hữu, bán tuân thỉnh thác (Nửa vì khuất phục kẻ quyền thế, nửa vì nể nang lời nhờ vả), không đâu là không khiến đan thư* phủ bụi, thiết luật hoá nhẹ như tơ. Đây là chữ đầu của hàng thứ ba.”
“Bán tử bất giám thiện ác, sinh bất tra trung gian (Người chết mà không soi rõ thiện – ác, kẻ sống mà chẳng tra trung – gian), ấy là phụ lòng thánh nhân treo gương soi dân. Đây là chữ đầu của hàng thứ tư.”
*Đan thư (丹书) nghĩa là chữ viết bằng chu sa (mực đỏ), thường dùng trong văn thư thề ước, khế ước hoặc văn khắc trang trọng. Ví dụ nổi tiếng là Đan thư thiết khoán: bia lời thề hoặc văn tự được viết bằng chu sa trên tấm sắt do hoàng đế ban cho công thần. Nên ý ở đây là những lời thề, phép tắc hay chuẩn mực chính đạo bị bỏ xó, không còn được coi trọng.
*Treo gương soi dân ở đây ẩn dụ cho xét xử công minh. Trên đại đường ở nha môn của quan viên thời cổ, đa phần đều có tấm biển 明镜高悬 (gương sáng treo cao). Ý nghĩa là bản thân có thể thấy rõ thị phi, có thể phân biệt thiện và ác, trung thành và gian nịnh.
Triệu đường quan lúc này đã ngã ngồi trên ghế, Ngọc Lâm lại quỳ thẳng người lên, nói thẳng với ông ta: “Đại nhân hỏi ta tại sao làm vậy, là ta cố ý đấy.”
Nàng nói xong câu này, khóe miệng nhếch lên một tia cười: “Bốn chữ đầu của bốn hàng liên kết lại, viết là gì?”
Một câu hỏi đưa ra, không ai dám nói, chỉ có nàng từng chữ một, cất cao giọng tự đáp: “Ngô – Chiếu – Bán – Tử.”
Mao Hành quát lớn: “Thật hỗn xược! Ngươi câm miệng cho ta! Người đâu! Vả miệng nàng ta cho ta!”
Ngọc Lâm quay mặt lại nói: “Danh tính của đương kim thiên tử là gì? Vả miệng? Vả miệng e là nhẹ quá rồi.”
Đương kim thiên tử họ Ngô, tên Chiếu.
Năm đó một câu: “Cây ngô đồng trong thành đã héo tàn quá nửa” (Thành ngoại ngô đồng dĩ bán tử), người làm thơ bị chỉ trích là nguyền rủa thiên tử. Trương Dược ở Trấn phủ ti đã bắt bớ kẻ chủ bút và những người minh oan cho hắn, đều bị coi là đồng đảng, quan lại bị liên lụy mất chức rất nhiều. Hôm nay bốn chữ “Ngô Chiếu Bán Tử” này lại trực tiếp lồng ghép danh tính thiên tử vào hành văn thì phải xử trí thế nào?
Nghĩ đến đây, ngoại trừ Ngọc Lâm, cả công đường đều kinh hãi. Mao Hành siết chặt nắm đấm, hồ sơ trên án suýt bị ông vò nát.
Ngọc Lâm mỉm cười nói: “Mao đại nhân sợ điều gì? Đây là chỗ sai sót của Hình bộ trong việc thẩm án, dẫu có lỗi thì cũng là lỗi của công đường lần trước, Mao đại nhân đường đường là Đại lý tự khanh, chính là lúc nên dẹp loạn phò chính.”
“Dẹp loạn phò chính không sai! Nhưng Ngọc Lâm…” Mao Hành khựng lại, trong giọng nói lại mang theo ý xót thương, ông bước thẳng từ sau án xuống trước mặt Ngọc Lâm, cúi đầu hạ thấp giọng hỏi: “Lẽ nào ngươi không muốn sống nữa sao?”
Giữa tiếng quát tháo của Mao Hành, Ngô Lũng Nghi cúi đầu nhìn Ngọc Lâm, ánh mắt đầy bi phẫn. Những quan viên hình danh triều này, hạng tuổi như Tống Ẩm Băng hay Ngọc Lâm đa phần đều xuất thân từ môn hạ của ông và Triệu Hà Minh. Vì không nắm giữ kinh tế trọng yếu, cũng không thiết lập tài chính quốc kế, quan viên tương đối nhàn tản, việc môn hạ đấu đá lẫn nhau rất ít, lúc rảnh rỗi thường biện luận pháp lý, thảo luận án lệ, giao vãng thân thiết, vốn là chuyện tốt đẹp trong quan trường. Ngọc Lâm tuy không phải môn hạ của ông, nhưng trước đây thường đến nghe giảng, cũng chịu ơn dạy dỗ của ông. Ông già rồi, trên con đường tư pháp quan vị đã tới hàng cực phẩm, không có ý định đăng các bái tướng, điểm này khác với Triệu Hà Minh, ông thực lòng thương xót những người trẻ tuổi này.
Những năm qua, môn hạ không thiếu những kẻ nhiệt huyết mãnh liệt làm tổn thương chính mình khiến ông đau đầu, nhưng Ngọc Lâm tuyệt đối không nằm trong số đó. Nàng cảm xúc bình ổn, lời lẽ có chừng mực, một lòng trị học nhập sĩ, muốn có vị trí, có tiếng tăm và cả thanh danh quan trường. Nàng đã tiến bước rất tốt, chỉ vì vụ án Lưu thị mà mất trí, tự đẩy mình vào tử địa nhưng lại vô ích. Hôm nay là lần thứ hai, Ngô Lũng Nghi lại thấy Ngọc Lâm tự đưa mình vào chỗ chết, chỉ là lần này, nàng khoác lên mình bộ đồ màu u tối giống như vị chỉ huy sứ Trấn phủ ti kia, hệt như người sống mặc đồ tang, lại hệt như khiêng quan tài lên đường.
Nàng không hề mất trí, trái lại còn dày công mưu tính, dường như chỉ để chứng thực đạo tu hành bao năm của mình, vì thế thậm chí không tiếc để lại cho bản thân một con đường lui nào.
Kẻ trẻ tuổi thanh sạch, cầu chết trên công đường. Cảnh tượng này đâm nhói trái tim lão Ngự sử Ngô Lũng Nghi, ông không kìm được cúi đầu lau dòng lệ, rủ mắt lặng thinh.
Giang Sùng Sơn nghe thấy hai chữ “Ngô Chiếu” thì đã sợ mất mật, vì sợ hãi mà dần hóa điên dại, đột nhiên nhảy dựng lên, túm lấy tóc Ngọc Lâm, lôi nàng xềnh xệch mấy bước rồi quẳng xuống đất, quát mắng: “Tiện nhân! Ngươi hãm hại ta! Ta với ngươi không oán không thù, tại sao ngươi lại hại ta như thế!”
Đầu Ngọc Lâm đập xuống đất, búi tóc tức khắc trở nên tán loạn. Nàng thấy trước mắt tối sầm, không ngồi dậy nổi, đang lúc giằng co, nào ngờ Trịnh Dịch Chi lại chắn trước mặt Ngọc Lâm, thẳng tay đấm một cú thật mạnh vào mặt Giang Sùng Sơn. Lúc này luồng khí uất ức trong lòng hắn vì Trương Mẫn và Ngọc Lâm mà được trút ra hết, dứt khoát trút sạch lên người Giang Sùng Sơn: “Ta với ngươi cũng không oán không thù, tại sao ngươi lại hãm hại ta, khiến thê tử con cái ta ly tán! Ngươi vô sỉ! Vô sỉ! Vô sỉ!”
Hắn vừa nói vừa ấn mặt Giang Sùng Sơn xuống, nắm đấm rơi xuống như mưa, đấm đến mức Giang Sùng Sơn gào gọi phụ mẫu, Mao Hành vội kêu sai dịch lên kéo hai người ra. Ngọc Lâm cuối cùng cũng gượng dậy được, chẳng màng đến thân mình nhếch nhác, nói với Giang Sùng Sơn đang mặt mũi bầm dập: “Giang công tử, ngươi có biết thế nào gọi là nhân quả báo ứng không?”
Trong miệng Giang Sùng Sơn chỉ còn lại một câu: “Tiện nhân.”
Ngọc Lâm chẳng hề để tâm, tiếp tục lời sát nhân tâm: “Giang công tử, nếu ngươi không nổi lòng gian lận, ngươi đã chẳng có được bài văn này. Nếu sau khi có được nó, ngươi đọc kỹ suy xét, ngươi sẽ phát hiện ra manh mối trong đó, vì thế sẽ không mang nó vào trường thi. Sau khi vụ án xảy ra, nếu ngươi không vu hãm Trịnh cống sinh, tự mình nhận tội thì Trương Mẫn cũng chẳng tố giác chính nàng. Càng chẳng có buổi trên công đường hôm nay giữa ta và ngươi. Giang công tử, ngươi là kẻ ngu muội nhất trong vụ án này, nhưng vì ngươi mà những kẻ tự xưng là thông minh kia đều phải cùng ta chờ hỏi tội.”
Nói xong, nàng lau đi bụi bặm dính trên mặt, gom mớ tóc dài tán loạn bị Giang Sùng Sơn túm lấy ra trước vai, rồi tự tay chỉnh đốn vẻ ngoài tư thái, quỳ xuống trước ba vị đường quan một lần nữa.
“Kính xin chư vị đại nhân thẩm xét ta.” Nàng lau đi vết son bị lem, mím lại môi cho đều, ngẩng đầu nói: “Ta biết gì nói nấy, không nửa lời giấu giếm.”
Ngô Lũng Nghi quay lưng đi không nỡ nhìn Ngọc Lâm, Triệu đường quan thì sớm đã bị biến cố bất ngờ này làm cho kinh hãi đến mất hồn mất vía, đầu óc mông lung, hầu như không nghe rõ Ngọc Lâm đang nói gì.
Mao Hành thấy vậy, buộc phải ngồi lại ghế chủ tọa, trầm ngâm hồi lâu rồi thấp giọng bảo sai dịch: “Xích nàng ta lại trước đã, ta sẽ hỏi lời sau.”
Ngọc Lâm không nói lời nào, mặc cho sai dịch mang xiềng xích lên khóa tay chân mình. Lúc khóa xích, Mao Hành không nén nổi kinh động trong lòng, cất tiếng hỏi: “Ngọc Lâm, rốt cuộc ngươi có biết ngươi phạm tội gì không?”
Ngọc Lâm gật đầu: “Ta đương nhiên biết.”
Mao Hành tiếp lời: “Ngươi nửa đời tu tập hình danh, cũng coi như có chút thành tựu, dẫu nay sa sút thì nửa đời sau vẫn còn có thể mưu cầu, tại sao lại chọn cách thức này để tự giết mình vậy?”
“Đây không phải là lời mà đại nhân nên hỏi phạm nhân trên công đường.”
“Ngọc Lâm!” Mao Hành dẫu đang mắng nàng nhưng giọng lại có chút nghẹn ngào: “Ngươi… ngươi đừng có tự cho mình là đúng!”
“Phải.” Nàng rủ mi mắt, đặt đôi tay đã bị xiềng xích lên đầu gối: “Ta không nên mạo phạm đại nhân.”
Mao Hành thở dài một tiếng, nén cơn giận xuống: “Ngươi có biết sẽ liên lụy đến bao nhiêu người không?”
“Xin lỗi.” Nàng nói một câu mềm mỏng, khiến Mao Hành không tài nào ghét nàng nổi, nào ngờ lại nghe Ngọc Lâm nói: “Ta biết đại nhân dẫu ghét ta nhưng không thật tâm muốn ta chết. Ta cũng không muốn làm hại đại nhân. Hôm nay ta đã tận lực rồi…”
Ngọc Lâm nói xong dường như cũng có chút mệt mỏi, cúi đầu chậm rãi thở hắt ra một hơi, đôi vai buông thõng, mang theo xiềng xích mà quỳ ngồi xuống. Xiềng sắt chạm đất, phát ra tiếng kêu lẻ loi. Nàng sụt sịt mũi, bình thản nói: “Ta thừa nhận, mỗi bước ta đi đều là cố ý. Mục đích là để trong vụ án này, mỗi một kẻ tự cho là mình có thể mượn mạng người khác làm bè vượt biển đều phải trả giá. Còn những người vô tội như Trương Mẫn, Trịnh Dịch Chi, thậm chí là các đại nhân ở Ngự sử đài và Đại lý tự ta đều đã tìm cách chu toàn trước khi trù mưu. Mao đại nhân, ta sở dĩ đợi đến lúc Tam ti hội thẩm mới nói ra sự thật là vì ta muốn đợi Hình bộ cùng các học quan kỳ thi xuân và đám quyền quý Giang gia cấu kết một giuộc, thực sự phán xuống vụ án oan hại Trịnh Dịch Chi này.”
Mao Hành nói: “Ngươi làm được rồi, giờ đây các thẩm quan công đường trước, các chủ khảo kỳ thi xuân đều phải gánh tội. Mọi chuyện không còn đường cứu vãn, nhưng chính ngươi cũng không còn đường lui nữa!”
“Không sao cả.” Ngọc Lâm đáp: “Nay mọi người vì vụ án oan này mà để ta ngang nhiên giấu lời đại nghịch trong văn, bao che cho ta nhởn nhơ ngoài vòng pháp luật…” Ngọc Lâm nói đoạn liền cười một tiếng: “Ta mưu nghịch thì ta đáng chết, ta không biện minh nửa chữ cho bản thân. Còn về những kẻ bao che cho ta mưu nghịch.”
Nàng quét mắt nhìn Triệu đường quan và phụ tử Giang Sùng Sơn, tiếp tục: “Các người cứ tự mình biện bạch đi. Ta hôm nay vào ngục, sau này mỗi lần ra đường, ta chỉ làm một việc, dùng hết sở học và sự tu tập cả đời nơi pháp ti để khiến các người phải chịu tội thích đáng.”
Nàng nói xong câu đó, Trịnh Dịch Chi bật khóc thành tiếng, tiếng khóc bi thiết ấy khiến Ngọc Lâm cũng sinh lòng ai oán. Nàng nén đau thương, từ trong tay áo lấy ra một cuộn giấy mới, quỳ dâng lên Mao Hành: “Đây là hai bản án lệ, một bản là quyết định của vụ án thơ ngô đồng năm xưa, một bản trích từ Vấn Hình Điều Lệ, là vào năm Phụng Minh thứ hai mươi, trong kỳ thi Hương tại Lương Kinh, có thí sinh hành văn không tránh kỵ húy danh thiên tử, sỉ nhục thánh nhân, sau khi tra ra, thí sinh đó và Học chánh quan đều bị khép tội. Thượng thư Hình bộ Triệu Hà Minh sau khi nghị tội định hình thì mọi người đã lấy đó làm lệ và đưa vào Vấn Hình Điều Lệ. Hôm nay ta đã trích lục ra để ba vị đại nhân tham khảo.”
Mao Hành ấn tay Ngô Lũng Nghi lại, thấp giọng gấp gáp: “Ông không thể không lên tiếng nữa, vụ án năm thứ hai mươi đó ông biết mà, khi ấy thí sinh đó bị phán cực nặng, ngay cả thê tộc và thân thích đều bị khép tội, người bị giáng chức, kẻ bị lưu đày, nàng ta nay đưa vụ án này ra, nàng ta…”
“Giết đỏ mắt rồi…” Ngô Lũng Nghi cười khổ một tiếng: “Thân thích của Giang gia là ai?”
“Triệu…” Mao Hành nhất thời ngẩn người.
“Giết điên rồi.” Ngô Lũng Nghi lặp lại một lần, quay người nhìn về phía Ngọc Lâm: “Nàng ta căn bản không hề quên mối thù cũ năm ngoái, cũng căn bản không hề tha thứ cho vị lão sư kia của nàng ta.”
Ngô Lũng Nghi nói xong câu đó, cuối cùng cũng bước xuống khỏi án, đi tới bên cạnh Ngọc Lâm, vén quan bào, chậm rãi ngồi xổm xuống. Ông đã già rồi, lúc này trong mắt đã đầy những tia máu. “Tiểu Phù.”
“Vâng.”
“Có thể dừng tay được không?”
Ngọc Lâm lắc đầu: “Tổng hiến đại nhân, chỉ có các ngài mới có thể dừng tay ban ân, ta không thể. Nếu ta mềm lòng một phân, ta sẽ có lỗi với chính bản thân mình vì đã liều mạng sống sót.”
“Cho nên đây vẫn chưa phải là kết cục sao?”
“Phải. Mọi việc luôn phải có một kết quả.”
Ngô Lũng Nghi không còn lời nào để đáp. Lúc này trong rừng gai ở tiền viện, mấy con chim sẻ không tên bay vút ra, vượt qua tường cao của Đại lý tự, sải cánh về phía nội thành.
Trương Dược tựa bên tường cao, ánh mắt đuổi theo đàn chim ấy, dần dần cũng nghe thấy tiếng khóc của Trịnh Dịch Chi.
“Nếu có Quan Âm tại thế…” Trương Dược lần đầu tiên trong đời chắp hai bàn tay lại.
“Xin chớ bỏ mặc nàng nơi luyện ngục.” Trương Dược nhắm mắt lại: “Ta cam nguyện cầu sống không được, cầu chết chẳng xong.”
“Tiểu Phù sẽ không để ngươi cầu sống không được, cầu chết chẳng xong đâu.”
Bên tai truyền đến câu nói này, Trương Dược không mở mắt, bình thản nói: “Các người đã ở gần đây nhìn ta chằm chằm từ lâu rồi, cuối cùng cũng chịu lộ diện sao?”
Giọng nói kia tiếp tục: “Thật không hiểu nổi, một kẻ thối nát tận xương tủy như Trương chỉ huy sứ lại có thể được Tiểu Phù thương xót.”
Trương Dược buông tay, mở mắt ra, thấy Giang Huệ Vân đứng trước mặt, sau lưng còn có một người đội mũ có mạng che.
“Không ngờ người mà Lý Hàn Chu tìm không ra lại ở trong phủ của phu nhân.”
Giang Huệ Vân nói: “Trương chỉ huy sứ biết hắn là ai sao?”
Trương Dược là hạng nhãn lực gì, căn bản không cần người đó tự báo danh tính, trực tiếp chỉ ra thân phận: “Hàn ngự sử.”
Người đó cũng đáp: “Không hổ danh là Trương chỉ huy sứ.”