Trong gian ngục lao của Ngọc Lâm có một ô cửa sổ nhỏ lồng khung sắt được đặt cách đầu nàng khoảng một mét, nằm sát cạnh bức tường ngục là một thân cây cao không rõ tên.
Ngoài cửa sổ mưa lớn không dứt, gió thổi lay cành, những tán lá đậm màu liên tục quật vào thanh sắt, thế mà lại hiện lên vẻ đầy sức sống. Sau khi Trương Dược rời đi, Ngọc Lâm không có việc gì làm nên ngoài việc đối đầu với bát cơm ngục nàng vốn chẳng ưa thích thì chỉ biết rúc vào trong chăn, ngẩng đầu tĩnh lặng nhìn sự thay đổi ngày đêm qua ô cửa nhỏ ấy.
Đêm đầu tiên trong ngục, nàng thấy giữa bóng cây rậm rạp hiện ra một chiếc lá vàng không đúng mùa.
Sáng sớm ngày hôm sau, khi ngục lại đưa cơm nước tới, vài bóng người lướt qua cửa sổ, chiếc lá vàng ấy cũng âm thầm lìa cành.
Ngọc Lâm học theo dáng vẻ của Trương Dược, bẻ nhỏ chiếc màn thầu khô lạnh, tận mắt chứng kiến khoảnh khắc lìa cành của chiếc lá vàng ấy. Ban đầu nàng không quá để tâm, nhưng khi đã nuốt trôi cả miếng màn thầu, nàng nhìn lại cành cây, thấy trên đó lại hiện ra một sắc vàng mới, khiến nàng xác nhận đây chẳng phải mơ. Quả nhiên là xuân sang lá úa, héo rũ lìa cành.
Nàng là người học Nho, cũng từng đắm mình trong bao học thuyết về cương thường luân lý, thiên nhân cảm ứng*. Nếu nói trời xanh can thiệp vào việc của người, người cũng cảm ứng được lòng trời, thì cảnh tượng lá xuân lìa cành này lại giống như một lời chú giải cho câu ‘Ngô Chiếu Bán Tử’ nàng đã viết.
*Thiên nhân cảm ứng(天人感應): con người và Trời là hai mặt của một chỉnh thể, cảm ứng qua lại, tương thông voi hình.
Tuy điều này mang chút phong vị nghệ thuật hư ảo của thơ ca, có vẻ không thực tế, nhưng nó lại an ủi được Ngọc Lâm. Con người đến cả bí mật của bốn mùa còn chẳng thấu hết, nói gì đến việc giải mã thế đạo và thiên đạo. Đối Ngọc Lâm mà nói, đã đến mức này, nàng thực sự chẳng còn gì có thể làm thêm nữa. Người chỉ có thể thắng người, chung quy cũng chẳng thắng nổi trời.
Cho nên thiên tử vạn tuế vạn tuế vạn vạn tuế, mạng của ông ta quý hơn tất thảy mọi người trên thế gian. Nhưng dẫu có gọi là người con của trời, thực tế ông ta cũng giống như bao truyền thuyết thần tiên ngũ sắc khác. Trừ phi đến lúc núi cùng nước tận, không còn lối thoát, bằng không chẳng ai thực sự tin vào sức mạnh thần linh.
Thế nhưng, những văn bản truyền lại nghìn năm qua vẫn cứ lặp đi lặp lại những lời lẽ ‘nhận mệnh từ trời’*, tin tưởng sắt đá rằng ‘trời đất là cha mẹ, thiên tử là tông tử của tông tộc’*. Họ ra sức giải nghĩa cho điều đó, dường như chẳng phải viết cho người xem. Thế nhân sống trong sự chèn ép cao thấp sang hèn, bị kẻ bề trên nắm quyền sinh sát, đa phần đều không biết chữ; mà dù có biết chữ thì cũng bị vây khốn bởi cơm áo gạo tiền hay công danh lợi lộc, chẳng rảnh rang mà nghiên cứu những áng văn thơ gấm vóc ấy. Quân vương sống trong những áng văn thơ châu ngọc, nắm giữ thứ quyền lực mà chính bản thân cũng không tin vào nguồn gốc, ngày đêm nỗ lực khuyên mình tin rằng văn chương gấm vóc cuối cùng có thể giáo hóa thế nhân, để họ tin vào những đạo lý mà chính ông ta cũng chẳng hề tin.
*Nhận mệnh từ trời: cụm này thường dùng trong tư tưởng chính trị cổ đại Trung Hoa để nói vua nhận ‘thiên mệnh’ để cai trị thiên hạ. Nó xuất hiện nổi tiếng trong câu 受命于天,既寿永昌: Nhận mệnh từ Trời, ắt sống lâu và hưng thịnh mãi.” (khắc trên ngọc tỷ ấn truyền quốc của hoàng đế).
*Tông tử: từ này dùng để chỉ trưởng tử đích tôn của dòng trưởng trong chế độ tông pháp thời nhà Chu, người có quyền thừa kế và quản lý các công việc của tông tộc, được tôn là tông chủ.
Quả là đối nghịch. Quả là hoang đường.
Ngọc Lâm rúc vào trong gian lao ngục âm u, chăn nệm lại rất ấm áp, ánh đèn trong ngục lay lắt, bóng người sạch sẽ, tà ma chẳng sinh sôi. Sau khi chiếc lá vàng kia rụng, nàng đã ngủ một giấc rất ngon.
—
Trái ngược với nàng, tại Đông Uyển của Lương Kinh, Phụng Minh đế tỉnh dậy trong lớp mồ hôi lạnh. Người nữ nhân bên cạnh tay chân lạnh lẽo, ngài thẳng chân đạp phăng nàng ta xuống nhuyễn tháp. Trong tẩm điện tối đen vang lên một tiếng bịch khô khốc, lập tức làm kinh động toàn bộ cung nhân trực đêm.
Xung quanh Phụng Minh đế dần sáng đèn. Ngài ngồi bên mép giường liếc nhìn người nữ nhân kia một cái, sớm đã có cung nhân tiến lên dìu nữ nhân y phục xộc xệch dưới đất đứng dậy, vừa đưa nàng ta ra ngoài vừa dặn dò ngàn vạn lần không được khóc.
Bóng ma ác mộng dường như vẫn còn ngay trước mắt, tinh thần Phụng Minh đế chưa định. Hứa Tụng Niên bưng đèn đi vào, đặt đèn bên cạnh ngài, sau đó nhận lấy chén trà sâm từ tay nội thị, đích thân dâng lên.
Phụng Minh đế hỏi: “Đã là giờ nào rồi?”
Hứa Tụng Niên đáp: “Vì hôm nay không thiết triều nên không gọi bệ hạ dậy. Giờ cũng không sớm nữa, đã quá giờ Tỵ rồi. Bệ hạ hãy định thần lại, nô tì sai người vào hầu hạ bệ hạ tắm rửa.”
Đang nói thì ngoài điện chợt truyền đến vài tiếng người lờ mờ. Phụng Minh đế vốn đang phiền muộn, tiện tay ném cái chén không về phía cửa: “Ai ở ngoài đó? Ồn ào cái gì?”
Dứt lời, cửa điện lập tức mở ra, chỉ thấy Dương Chiếu Nguyệt quỳ trước cửa, hai tay giơ cao nâng một bản văn thư. Hứa Tụng Niên định tiến lên lấy, nhưng Phụng Minh đế dường như chê ông chậm chạp, đích thân đứng dậy đi tới cửa, giật phắt lấy bản văn thư đó.
Đó chính là bản Để báo vừa in của Thông chính ti.
Hứa Tụng Niên đứng sau lưng Phụng Minh đế nên chưa nhìn rõ chữ trên đó, chỉ đành nhìn về phía Dương Chiếu Nguyệt. Dương Chiếu Nguyệt chẳng dám động đậy một phân, chỉ có thể dùng ánh mắt ra hiệu: Không ổn.
“Giết…”
Trong tẩm điện tĩnh lặng vang lên một âm thanh rít qua kẽ răng. Không ai dám tiếp lời, ngay cả Hứa Tụng Niên cũng nghi ngờ mình nghe nhầm. Dương Chiếu Nguyệt phủ phục dưới đất, kinh hãi ngẩng đầu nhìn thần sắc của Phụng Minh đế, chỉ thấy thiên tử như bị một chiếc đinh đóng chặt đứng sững tại chỗ, ánh mắt khóa chặt trên bản Để báo, đáy mắt giăng đầy tơ máu đáng sợ.
“Giết…”
Vẫn là chữ ấy, thậm chí còn nhẹ hơn khi nãy, nhưng lại như nghiền nát răng mà thốt ra từng chút một.
Thân hình Phụng Minh đế run lên, Hứa Tụng Niên vội tiến lên đỡ lấy cánh tay ngài: “Bệ hạ… Người nói gì cơ ạ?”
Phụng Minh đế đột nhiên quát lớn: “Trẫm nói giết! Giết!”
Hứa Tụng Niên suýt đứng không vững, vội vàng đáp: “Bệ hạ muốn giết ai?”
“Giết Mao Hành! Giết Ngô Lũng Nghi! Cái thứ gì thế này? Trấn phủ ti của trẫm làm cái việc giết người diệt khẩu từ bao giờ? Vậy mà hai tên kia cũng dám viết vào kinh báo! Cái lũ *** này là cái quái gì?”
Trong cơn cuồng nộ của thiên tử, bản Để báo bị vò nát thành một cục. Hứa Tụng Niên gắng sức đỡ tay Phụng Minh đế cảm nhận rõ ràng thân thể ngài vì phẫn nộ mà run rẩy càng lúc càng mạnh.
Nội thị trong điện quỳ rạp cả lượt. Hứa Tụng Niên nghe những lời kinh hoàng ấy, biết rõ Phụng Minh đế vì lửa giận ảnh hưởng nhất thời mới để đám nội thị nghe thấy lời không nên nghe, một khi bình tĩnh lại, những kẻ vô danh chứng kiến bộ dạng thảm hại của thiên tử này chắc chắn sẽ gặp họa. Tuy lòng rối bời, ông vẫn phải đánh bạo nói: “Tất cả lui ra trước, Dương Chiếu Nguyệt vào đây.”
Đám cung nhân nghe lệnh, như được đại xá mà lùi khỏi tẩm điện, duy chỉ có Dương Chiếu Nguyệt bò lồm cồm vào cửa.
Phụng Minh đế như chẳng nhìn thấy gì, hất mạnh Hứa Tụng Niên ra, ngài đi chân trần trên đất, tóc xõa rũ rượi, đi đi lại lại.
“Bọn chúng định phản rồi, trẫm biết, bọn chúng sớm đã muốn phản rồi! Trong lòng bọn chúng toàn nghĩ về tên huynh trưởng đã chết của trẫm! Đáng giết… đều đáng giết, trẫm nên để Trương Dược giết sạch lũ này!”
Dương Chiếu Nguyệt định tìm kế hoãn binh từ ánh mắt của Hứa Tụng Niên, nhưng thấy Hứa Tụng Niên ngã ngồi dưới đất, rõ ràng là đụng trúng chân đau, vật lộn mãi không đứng lên nổi.
Hắn nhất thời mất phương hướng, chỉ lo an ủi Phụng Minh đế, buột miệng: “Bệ hạ bớt giận, nô tì sai người truyền Trấn phủ ti tới ngay…”
Ai ngờ Phụng Minh đế nghe thấy ba chữ “Trấn phủ ti” thì đột nhiên dừng bước.
“Trấn phủ ti… Phải, lũ tiện nô này cũng đáng giết! Trương Dược… Trương Dược phải là tên đầu tiên bị giết! Người… người đâu! Đưa Trương Dược đi lăng trì cho trẫm! Đưa cả cái lũ Trấn phủ ti đó lăng trì hết cho trẫm!”
Hứa Tụng Niên nén đau, bò vài bước tới trước mặt Phụng Minh đế, dập đầu xuống đất: “Bệ hạ bớt giận, xin bệ hạ bớt giận! Nô tì dẫu không biết Trương Dược phạm lỗi gì nhưng mạng hèn của hắn chết chẳng có gì hối tiếc. Nhưng nếu giết Trương Dược, bãi bỏ Trấn phủ ti thì lúc này bệ hạ dùng ai để răn đe các đại nhân pháp ti? Dùng ai để chấn nhiếp bách quan Lương Kinh đây?”
“Các ngươi không phải là người sao?” Phụng Minh đế chỉ vào trán Hứa Tụng Niên, gân xanh trên cánh tay nổi lên cuồn cuộn, quát hỏi: “Các ngươi không phải gia nô của trẫm sao? Các ngươi…”
Hứa Tụng Niên ngẩng đầu, nghẹn giọng: “Nô tì gãy chân bao năm, chỉ có thể hầu hạ bệ hạ ăn ở thôi ạ…”
Sau lưng Phụng Minh đế truyền đến một trận đau nhói như hàng ngàn mũi kim đâm loạn xạ vào xương sống, đau đến mức đứng ngồi không yên. Nhưng cả người dường như đã tỉnh táo lại đôi chút, dần nhìn rõ sự hỗn loạn trong điện. Hứa Tụng Niên bò dưới đất, y phục xộc xệch, Dương Chiếu Nguyệt thì thu mình lại như một cuộn chỉ rối, chẳng thấy rõ mặt mũi.
Danh nghĩa là công, người trong thiên hạ ngài đều có thể dùng. Danh nghĩa là tư, người thực sự có thể dùng lại chỉ ở chốn tư cận, thậm chí chỉ ở bên giường nằm. Đúng như lời Hứa Tụng Niên, ngoại trừ Trương Dược, ngoại trừ Trấn phủ ti, bên giường của ngài toàn là lũ già yếu tàn tật như ngài mà thôi.
Phụng Minh đế khản giọng ho một tiếng, trong ngực đầy mùi máu tanh, bắp chân mỏi nhừ từng cơn, người không nhịn được lùi lại vài bước. Giây phút này, ngài mới cảm nhận được sự độc ác của kẻ bày ra ván cờ này.
“Chặn bản Để báo này lại.” Phụng Minh để nén cơn buồn nôn, gượng gạo thốt ra câu này.
Dương Chiếu Nguyệt ngập ngừng định nói, Phụng Minh đế mắng: “Đồ chó má này, còn định úp úp mở mở cái gì trước mặt trẫm?”
“Vâng… bẩm bệ hạ, bản Để báo này từ lúc tảng sáng đã phát tới Lục khoa, hẳn là lúc này các Để đường quan các tỉnh đã chép xong hết rồi, các nha môn trong kinh cũng đều đã…”
Lời hắn chưa dứt, thấy Phụng Minh đế ngả người ra sau, lùi liên tiếp hai ba bước, nhấn chặt trước ngực, sắc mặt đỏ gay. Trong phút chốc, một cục đờm lẫn máu đỏ sẫm bị nhổ ra, tiếp đó ngài nôn ra một ngụm máu tươi đỏ thắm.
Dương Chiếu Nguyệt hoảng loạn. Hứa Tụng Niên không đứng dậy nổi, chỉ có thể gọi lớn: “Dương Chiếu Nguyệt, ngươi ngây ra đó làm gì! Mau truyền thái y!”
Thiên tử nôn ra máu, nhưng tin tức trong nội đình bị phong tỏa hoàn toàn. Ngoại triều chỉ biết thiên tử vì long thể bất an nên bãi triều liên tiếp năm ngày, ngay cả kỳ Kim Môn đại nghị ngày mười lăm cũng bị trì hoãn.
Ngô Lũng Nghi và Mao Hành tấu báo vụ án kỳ thi xuân nhưng chưa nhận được hồi đáp của thiên tử, đành tạm gác lại. Ngọc Lâm một mình trong ngục, nhưng nhờ sự thu xếp của Tống Ẩm Băng và Đỗ Linh Nhược, nàng đã tận mắt đọc được bản Để báo đó.
Hôm ấy, Ngô Lũng Nghi tình cờ tới thăm Ngọc Lâm, ông nói với nàng rằng lúc này trong thành Lương Kinh mười phần người thì có tới tám phần đã đọc bản Để báo kia, tuy nhiên chẳng ai dám bàn luận công khai. Các quan viên đều hiểu rõ trong lòng, khi gặp mặt đều cố ý im lặng không nhắc tới. Cả quan trường chìm vào một sự im lặng kỳ quái mà đầy ngầm hiểu với nhau. Duy chỉ có các quan Khoa Đạo trẻ tuổi khéo léo khởi thảo một bài văn khác, ân cần quan tâm tới long thể của Phụng Minh đế.
Phụng Minh đế tuổi tác đã cao mà không có lấy một mụn con nối dõi, dẫu Hoàng phi có thai nhưng chưa biết là trai hay gái, khó lòng lập trữ. Hoàng tộc chính thống chỉ còn một ấu tử duy nhất của tiền Thái tử, nuôi trong tường cao Khánh Dương.
Vì tội của phụ thân, đến nay đứa trẻ ấy vẫn chưa được rời khỏi bức tường, chẳng ai biết rõ tình hình ra sao. Mọi người theo đó lại nhớ về việc cung nhân chết đói ở tường cao Khánh Dương hồi đầu xuân, ai nấy đều kinh hãi thiên tử sau này không người kế vị, thiên hạ sẽ vì thế mà loạn lạc.
Chỉ trong hai ba ngày, tấu chương thỉnh an đã chất thành núi trong Nội các. Cuối cùng, vào ngày thứ năm sau khi Để báo được phát tán rộng rãi, những quan viên trước đây từng kính mộ tiền Thái tử thấy nội đình không có động tĩnh gì, Trương Dược của Trấn phủ ti lại bị kẹt trong vụ án của Tam ti cũng bặt vô âm tín, họ bèn mượn danh nghĩa củng cố giang sơn, đánh bạo nhắc tới việc thỉnh cầu Phụng Minh đế lập trữ trong tấu chương.
Ngọc Lâm ngồi trên lớp cỏ khô, nhìn qua ô cửa sổ duy nhất, khẽ mỉm cười, cúi đầu nói với Ngô Lũng Nghi: “Cảm ơn Tổng hiến đại nhân đã cho ta biết những điều này.”
Ngô Lũng Nghi nói: “Ta và Mao đại nhân chỉ sợ bệ hạ bệnh lâu không chịu lâm triều, cứ kéo dài vụ án kỳ thi xuân này mãi. Án treo không quyết, cô tuy còn giữ được mạng, nhưng rốt cuộc vẫn phải chịu khổ dài ngày trong ngục.”
Ngọc Lâm lắc đầu: “Đã có người nhớ tới đứa trẻ trong tường cao Khánh Dương, lại còn nhắc tới việc lập trữ, bệ hạ làm sao có thể bệnh lâu được? Dẫu có dùng hết linh đan diệu dược bồi bổ khí thần trong thiên hạ này đi chăng nữa thì bệ hạ hẳn là sẽ lâm triều với một vẻ tinh thần quắc thước để xử lý ta. Chỉ trong một hai ngày tới thôi, ta chẳng phải chịu khổ bao lâu đâu.”
Nàng nói xong, hỏi thăm về Trương Dược: “Trương chỉ huy sứ… vẫn ổn chứ?”
Ngô Lũng Nghi do dự một hồi, lắc đầu, cuối cùng vẫn đáp: “E là, không được ổn cho lắm.”