Trận tuyết tháng tư ấy mang theo hơi lạnh tích tụ cả một mùa xuân, tựa như tất cả phúc phần mà Ngọc Lâm gom góp cả đời này, từ trên không trung bao la của thành Lương Kinh trút xuống người nàng.
Trong tuyết có tiếng gió rít khe khẽ, như thể thay những người nằm lại dưới đáy sông năm xưa mà hỏi nàng rằng: “Cô nương à, đến giờ phút này, cô vẫn không nỡ nhìn cảnh tuyết lạnh trời đông sao?”
Có những chấp niệm trên đời không cách nào buông bỏ, có những sai lầm chẳng thể nào bù đắp hay tiêu tan. Chẳng hạn như hòn đá ném vào mẫu thân thuở ấu thơ, hay như nữ nhân vô tội mà đến khi trưởng thành, dù đánh đổi cả quãng đời tươi đẹp mà nàng cũng không cứu nổi ấy. Con người cầu trời xá tội, cầu trời thứ tha. Trời đáp: “Ngươi vẫn phải tiếp tục tu hành, để thấy nhân quả, để nhìn báo ứng.”
Ngọc Lâm không phải không muốn chết, mà là tu hành chưa đủ, nhân quả chưa hiện, báo ứng chưa thông, nên phải sống tiếp. Nhưng đêm nay, trời ban cho nàng một trận tuyết như câu trả lời cho mọi dằn vặt bấy lâu: Ngọc Lâm à, không ai trách con, không ai hận con, con không sai, con đường con đi cũng không hề sai.
Thế nhưng thiên cơ huyền bí, nàng nghe không rõ, giải không thấu. May thay, tại nơi này có một kẻ không thông kinh sử, lại giải được ý trời một cách thấu triệt nhất: “Nàng… thực sự là Quan Âm mà…”
Ngọc Lâm cúi đầu, thấy nơi đáy mắt Trương Dược cũng có lệ, nhưng hắn vẫn cố mỉm cười với nàng.
“Ta chỉ nói vớ vẩn vậy thôi.” Ngọc Lâm nhìn đôi tay đẫm máu, run rẩy: “Nếu ta là Quan Âm, sao ta không bịt nổi vết thương này? Sao không cầm nổi máu cho chàng?”
“Nàng là Quan Âm mà…”
Tiếng gió tuyết gào thét bên tai, nhưng Ngọc Lâm chỉ nghe thấy thanh âm của người đang gối đầu trên đùi mình. Thanh âm ấy thành kính, chấp nhất, chẳng có ý tứ sâu xa gì, chỉ có mặt chữ đơn thuần, ngậm đầy gió tuyết mà lặp đi lặp lại, như muốn nàng tin tưởng, từ nay không còn nghi hoặc: “Nàng thực sự là Quan Âm mà…”
“Nàng là Quan Âm…”
“Nàng…”
“Nàng đã từng cứu ta mà…”
Ngọc Lâm một lần nữa ấn chặt vết thương đang tuôn máu, gật đầu lia lịa: “Vậy chàng sống cùng ta nhé? Trương Dược, cùng ta sống tiếp nhé?”
“Được…” Trương Dược áp bàn tay mình lên tay Ngọc Lâm đang đặt trên vết thương. Hắn đã khó lòng cử động, ngay cả xoay cổ cũng gian nan, nhưng hắn cố hết sức để ánh mắt đuổi kịp gương mặt nàng, khẩn khoản hứa hẹn: “Sống cùng nàng… Trương Dược sống cùng nàng, ta nhất định sẽ trụ vững… ta đi theo nàng mà sống…”
Tiếng chuông từ cổng thành xa xăm vọng lại, canh bốn đã qua, lệnh giới nghiêm đã dỡ bỏ. Trên con đường phủ đầy tuyết, một bóng dáng thanh mảnh từ xa tiến lại, tay xách giỏ trúc đựng đầy hương nến. Tiếng gõ cửa vang lên lạch cạch: “Ơ, sao lại khóa thế này… có ai không?”
Mọi người dướn cổ nhìn ra, lão thợ thuyền ngỡ ngàng: “Có… có người tới kìa…”
Tiếng gõ cửa lại vang lên, giọng nói nhẹ nhàng đằm thắm vọng vào: “Bên trong có ai không? Ta không ở lại lâu đâu… ta chỉ tới thắp nén nhang cho tỷ tỷ của mình, nói với tỷ ấy một tiếng rằng thành Lương Kinh có tuyết rơi rồi.”
Ngọc Lâm hỏi: “Muội tên là gì?”
Người bên ngoài ngẩn ra một lúc, rồi rụt rè đáp: “Ta tên Ngân Thanh…”
Đám thợ thuyền vội vàng tháo then cài, cánh cửa mở toang, hơi tuyết thanh tân ùa vào mặt mọi người. Tất cả dạt sang hai bên nhường lối. Ngọc Lâm quỳ ngồi dưới đất chậm rãi ngẩng đầu, cuối cùng, tại nơi cuối con đường tuyết, nàng đã đợi được người cố nhân đã lâu không gặp.
—
Đêm nay thiên tử không ngủ, cả Ti Lễ Giám cũng chẳng ai chợp mắt. Phụng Minh đế ngồi thẫn thờ trong Văn Uyên Các, khói hương Thụy Não trong lư đồng như một sợi chỉ dài thẳng tắp bay lên bên cửa sổ.
Ánh tuyết đầy cửa, hơi ấm đầy phòng, Phụng Minh đế đưa tay cầm lấy cái chặn giấy bằng đá Tú Nham, vuốt phẳng tờ giấy tuyên trên bàn. Dương Chiếu Nguyệt vội dời đèn lại gần: “Bệ hạ muốn dùng bút mực ạ?”
Phụng Minh đế lắc đầu: “Trần Kiến Vân đâu?”
Dương Chiếu Nguyệt đáp: “Đang ở nha môn Trấn phủ ti đợi tin báo từ ngoài thành, vẫn chưa thấy về ạ.”
Phụng Minh đế không hỏi thêm, vân vê cái chặn giấy, chợt nói: “Một người thông tuệ như ngươi, tại sao lại không để lại một mụn con trai?”
Dương Chiếu Nguyệt không biết bệ hạ đang nói đến ai, cũng không dám hỏi. Chợt Phụng Minh đế hít một hơi lạnh: “Suýt…”
“Ối trời, chuyện này…” Dương Chiếu Nguyệt vội buông đèn tiến lại xem, thấy tay bệ hạ bị cạnh của thanh đá chặn giấy cứa cho một đường. Nhìn kỹ mới thấy chặn giấy có điêu khắc cành đào, nhưng phần đầu không biết vì sao lại bị khuyết một miếng, chính cạnh sắc ấy đã làm đứt tay ngài.
“Mau truyền thái y…”
“Không cần.” Phụng Minh đế phẩy tay: “Lấy khăn lau là được.”
Dương Chiếu Nguyệt lấy khăn lụa quỳ xuống lau cho ngài, lại nói: “Vật này tuy tốt nhưng đã sứt mẻ, nô tì thấy bệ hạ giữ mãi bên mình mà ít khi dùng đến, hay là bỏ đi thôi ạ.”
“Láo xược!”
Dương Chiếu Nguyệt vội sụp lạy: “Nô tì lỡ lời!”
Phụng Minh đế nhìn xuống: “Ngươi không nhận ra lai lịch của cái chặn giấy này sao?” Ngài tự lau vết máu, tự trả lời: “À cũng đúng, kẻ biết lai lịch của nó đều đã chết cả rồi, chẳng hầu hạ trẫm được nữa. Đứng lên đi, trẫm nói cho ngươi biết, đây là món quà sinh thần Triệu thị tặng trẫm khi còn ở vương phủ Úc Châu. Chỗ khuyết này vốn là một quả đào Lý Công, nàng nói đào tượng trưng cho vạn thọ, ý nghĩa rất tốt, hầy… đúng là có ý nghĩa thật.”
Ngài nâng chặn giấy lên, cười bảo: “Một người thanh nhã như nàng mà lại thích những chữ như Phúc, Lộc, đến cả tên cúng cơm của con gái cũng phải có chữ Phúc…”
Dương Chiếu Nguyệt ngẩng đầu: “Bệ hạ… sao bỗng dưng lại kể với nô tì những chuyện này?”
Phụng Minh đế cười: “Trước đây cũng kể, chỉ là không kể cho ngươi nghe thôi. Đêm nay…” Ngài nhìn tuyết ngoài cửa sổ: “Chắc vì tuyết rơi thấy lòng thanh tịnh, nhớ lại chuyện xưa, cảm thấy tiếc nuối. Nghĩ lại cái chặn giấy tốt thế này, vậy mà khi nàng phát điên phát hận, nhất quyết phải đập vỡ. Cũng là người ở bên trẫm hơn mười năm, cuối cùng chẳng để lại gì tốt đẹp cho trẫm, đến cả con gái… cũng muốn mang đi.”
Dương Chiếu Nguyệt nghe mà lòng lạnh ngắt từng cơn. Người trước đó nghe tâm sự của thiên tử giờ đã là đống thịt nát ngoài Thần Vũ Môn. Hắn không phải Hứa Tụng Niên, cũng chẳng muốn làm Hứa Tụng Niên, nhất thời không biết đáp sao cho phải.
May thay canh bốn đã qua, tiếng chuông nam thành vang vọng. Trên con đường tuyết ngoài Văn Uyên Các, Trần Kiến Vân hớt hải chạy tới. Cửa vừa mở, hơi tuyết như yêu ma quỷ quái ùa vào tưởng chừng xé rách vạt áo Phụng Minh đế.
Trần Kiến Vân quỳ rạp, run rẩy báo: “Bệ hạ… không cháy chết, không cháy chết được ạ…”
“Xằng bậy!” Phụng Minh đế đứng bật dậy, bước tới ép sát Trần Kiến Vân: “Sao có thể không cháy chết? Dù tuyết rơi thì đã sao? Đóng cửa đốt sạch, trẫm lại không thắng nổi trận tuyết đại nghịch bất đạo này sao? Thật hoang đường!”
Trần Kiến Vân ngước đầu: “Nhưng mà… cửa tường mở rồi ạ…”
“Mở rồi?” Phụng Minh đế giật mình, cao giọng: “Mở thì đã sao? Lý Hàn Chu và Trấn phủ ti chết cả rồi à? Giết sạch bọn chúng rồi quăng lại vào đám lửa, tro bụi xóa sạch dấu vết, cái đó còn cần trẫm dạy sao? Mất đi tên tội nô kia, lẽ nào chúng không làm nổi việc nhuốm máu? Chúng đang ở đâu, không cần ngươi, trẫm đích thân hỏi!”
Trần Kiến Vân hoảng loạn nói càn: “Người của Trấn phủ ti… đều đã đến nha môn Đại lý tự rồi ạ…”
“Cái gì? Cái gì cơ…” Phụng Minh đế lùi lại mấy bước, không cẩn thận đá đổ ấm thuốc trên lò, nước thuốc đen đặc đổ lênh láng mặt đất.
Trần Kiến Vân dập đầu tiếp: “Di tộc của tiên Thái tử cũng được Ngô tổng hiến đưa về thành rồi! Bệ hạ… Bệ hạ…”
Thấy Phụng Minh đế ngã ngồi giữa vũng nước thuốc, Trần Kiến Vân lồm cồm bò tới đỡ: “Bệ hạ, Bệ hạ là thiên tử, thiên tử tất có ông trời trợ giúp, người nhất định sẽ…”
“Thiên tử, ông trời trợ giúp?” Phụng Minh đế mắt vằn tia máu, điên cuồng chỉ ra ngoài cửa: “Trời mà giúp ta thì đã không rơi trận tuyết này rồi!”
—
Một đêm tuyết lớn tạm thời xua đi thần xuân, cả thành phủ tuyết trắng xóa. Trời mờ sáng, dân chúng thành Lương Kinh ra khỏi cửa sớm thấy trạm gác bủa vây khắp nơi. Binh mã ti huy động gần như toàn bộ binh mã rầm rộ tìm kiếm.
“Sao vậy, đến cả đường cũng không cho đi nữa à?”
“Suỵt… nghe nói trong thành đang bắt phản tặc đấy.”
“Phản tặc? Phản tặc từ đâu ra? Chẳng lẽ… chẳng lẽ Thanh Long Quán đã đánh vào tận Lương Kinh rồi?”
“Ôi chao, đừng có nói bừa…”
Dưới sự bàn tán xôn xao của dân chúng, Vương Sung ghì cương ngựa trước miếu Bì Trường. Đám binh mã tìm kiếm cả đêm đã mệt lử. Vương Sung nhìn về phía đông đang hửng sáng, giơ đao lệnh: “Tỉnh táo lại cho ta, đạp cửa ra, tiếp tục khám xét!”
Dứt lời, cánh cửa kêu lên kẽo kẹt, Ngọc Lâm ló nửa thân người ra sau cửa. Nàng vẫn mặc bộ tù phục thấm đẫm máu của Trương Dược, nhưng trên vai khoác một chiếc áo choàng lông quý giá. Nàng không nói gì mà chỉ chậm rãi đẩy tung cánh cửa chính. Bên trong, tuyết phủ đầy sân, hàng trăm thợ thuyền đang co ro ngồi túm tụm lại với nhau.
Vương Sung nhìn rõ Ngọc Lâm, không kìm được muốn cười: “Hóa ra trốn ở đây thật, ngươi không thấy xúi quẩy sao Ngọc cô nương? Hả? Ngay ngoài kia là hình đài lột da muốn lấy mạng ngươi đấy, vậy mà vẫn trốn ở đây? Lẽ nào ngươi không biết sợ là gì, ngươi có còn là nữ nhân không hả!”
“Tất nhiên là có.” Ngọc Lâm dùng một cành khô búi mái tóc dài xõa tung lên: “Bị ta xoay vần cả đêm, Vương Chỉ huy sứ đã nghĩ thông chưa?”
Vương Sung hạ đao: “Ông đây không thèm nói nhảm với một đứa tử tù.” Hắn đảo mắt qua đám thợ thuyền: “Hừ, xem ra không chỉ có loạn tặc mà còn có cả tù vượt ngục nữa. Người đâu, trói hết lại cho ta, giải về Binh mã ti!”
“Ta xem ai dám mang Tiểu Phù đi.”
Một câu nói đập thẳng vào mặt Vương Sung khiến hắn sững người. Ngọc Lâm mỉm cười, nghiêng mình nhường lối. Một người từ sau cửa bước ra, tóc búi cao, y phục gấm vóc sang trọng, đó chính là Giang Huệ Vân, thê tử của Triệu Hà Minh. Theo sau nàng là hai nữ tử trẻ tuổi, một là Lưu Ảnh Liên, người còn lại vận đồ vải thô, cài trâm gỗ mà Vương Sung không nhận ra.
Bị Giang Huệ Vân chặn lại, Vương Sung dù bực bội nhưng vẫn phải xuống ngựa, tiến lại gần cửa: “Vì sao phu nhân lại ở đây?”
Giang Huệ Vân cười lạnh: “Nó là đứa trẻ ta chăm sóc bao năm, cũng là con của ta. Nay nó bị các người ức h**p, tại sao ta không thể ở đây?”
Vương Sung nói: “Đám người này là loạn tặc lừa mở cửa thành trong đêm, phù nhân dù nhân từ cũng không nên động lòng trắc ẩn với bọn chúng!”
“Loạn tặc gì cơ?” Giang Huệ Vân hỏi: “Nó chiếm mảnh đất hoàng gia nào chưa? Nó giết người hoàng tộc nào rồi? Nó phản ai? Cả thành Lương Kinh này có một con dân thiên gia nào chết vì nó không?”
Vương Sung cứng họng: “Phu nhân nói vậy là cưỡng từ đoạt…”
Giang Huệ Vân bỗng hạ thấp giọng, trên mặt thoáng ba phần mỉa mai, lạnh lùng nhìn Vương Sung: “Là vì các người nhìn nó không thuận mắt, không thuận mắt nên lúc nào cũng muốn giết nó đúng không? Giống như năm xưa nhìn không thuận mắt việc ta lập công ở Úc Châu, dùng lời ra tiếng vào ép ta về kinh, gả ta đi, xóa tên ta trong quân ngũ, bắt ta phải mang họ của kẻ khác…”
Nói đến đây, nàng cũng bật cười, đáy mắt dâng lên chút ẩm ướt, vừa nói vừa gật đầu: “Ta không cam tâm, nên ta phải bảo vệ nó.”