Sau khi hình trường tan buổi, miếu Bì Trường lại rỉ rả vài giọt mưa. Đám trùng kiến trên mặt đất luống cuống bò thật nhanh tản đi giữa những dấu chân bùn lầy hỗn loạn.
Quan phủ kéo đến một chiếc xe nước, đám phu quét dọn chờ sẵn bên đường cầm chổi và khăn lau ùa lên. Chẳng quá nửa canh giờ, máu tươi trên hình đài đã được lau dội sạch không còn dấu vết.
Trời tối sầm lại rất nhanh, nhưng bóng tịch dương lại ló ra nơi chân núi một lần nữa, soi sáng một bên mặt của tượng thần Thổ Địa, âm u quan sát giá hình cô độc trong buổi hoàng hôn.
Đám phu quét dọn lần lượt xong việc quan giao, kéo nhau về nhà. Trương Dược vẫn quỳ dưới đất, đối phó với một vệt máu lâu năm.
Trước mắt bỗng hiện ra một đôi ủng đen* tinh xảo, Trương Dược chẳng đợi người đến mở miệng đã nói trước một câu: “Tầm này đừng có chọc vào ta.”
*Nguyên văn là (皂靴), là kiểu giày, ủng ống màu đen, đế màu trắng, kiểu cổ xưa thường do quan lại thường đi.
“Ta chọc gì huynh chứ?”
Người nói chuyện đã nhiễm phong hàn hai ba ngày nay, giọng nghẹt đặc. Có điều Trương Dược và kẻ này quá sức thân thuộc, chỉ cần nhìn đôi ủng kia là biết người đến là Bỉnh bút* thái giám của Ti Lễ Giám — Đỗ Linh Nhược.
*Bỉnh bút nghĩa đen là cầm bút, nhưng trong chức vụ triều đình thời nhà Minh nó có nghĩa: Thái giám phụ trách cầm bút phê hồng hoặc ghi lời chỉ thị của hoàng đế lên tấu chương. Đây là một chức quan có quyền lực rất lớn trong thời nhà Minh chỉ sau Chưởng ấn Ti Lễ Giám.
“Ê, đời này huynh có bao nhiêu chấp niệm với cái miếu Bì Trường này vậy?”
Đôi ủng đen chắn mất lối lau đất của Trương Dược, hắn thẳng người, tạm thời ngồi quỳ: “Nhấc chân lên.”
Đỗ Linh Nhược cười khẽ một tiếng, nhảy sang bên cạnh. Hắn còn trẻ, vóc người cũng chẳng cao, người gầy nhưng miệng độc, lời nói ra còn tàn nhẫn hơn cả các Cấp sự trung của Lục khoa*. Có điều, cũng chính nhờ cái lưỡi linh hoạt ấy mà trong vài năm ngắn ngủi, gã hoạn quan trẻ tuổi vốn chẳng có gốc gác này đã lấy lòng được cả nội thần lẫn ngoại quan trong thành Bắc Kinh. Từ Tử Cấm Thành đến núi Thiên Thọ, nơi nào mở tiệc, Đỗ Linh Nhược hình như đều có thể đến chia một phần lợi.
*Lục khoa (六科) là một cơ quan giám sát quan trọng trong bộ máy quan lại của các triều đại Trung Quốc thời phong kiến, đặc biệt phát triển dưới thời nhà Minh. Nhiệm vụ chính của Lục khoa là kiểm tra, giám sát và can gián các cơ quan chính quyền, giúp hoàng đế kiểm soát bộ máy hành chính. Các quan trong Lục khoa (gọi là Cấp sự trung) có quyền: đọc và kiểm tra tấu chương gửi lên hoàng đế. Phê bình, can gián nếu chính sách sai trong các bộ. Giám sát hoạt động của Lục bộ (Lại, Bộ, Lễ, Binh, Hình, Công). Tố cáo quan lại th*m nh*ng hoặc làm sai luật.
Nghĩ lại cũng là kẻ đáng thương. Phụ mẫu mất sớm, một mình sống vất vưởng ở Lương Kinh, vì sinh ra có dung mạo đẹp đẽ, lại biết dăm ba chữ nghĩa nên làm thực khách trong những nhà quyền quý. Năm mười tám tuổi, triều đình thanh trừng cựu đảng của tiền Thái tử, chủ nhân mắc tội, hắn cũng vì thế mà liên lụy vào ngục. Đáng ra phải bị xử tử, nhưng khi nghiệm thân trong lao ngục, phía dưới lật ra lại là một mảnh máu thịt mơ hồ.
“Chà, cái gốc rễ mất rồi.”
Chỉ một câu nói đó đã cứu mạng hắn.
Hắn và Trương Dược thành thật kết giao là bởi hắn luôn cho rằng, nhát đao phía dưới kia là do Trương Dược xuống tay.
Nhát đao ấy lấy đi nửa cái mạng của hắn, khiến hắn điều dưỡng đến tận bây giờ vẫn là một phế nhân hễ gặp gió là ho ra máu. Thế nhưng, cũng chính nhát đao ấy đã giúp hắn từ vụ án diệt môn của nhà chủ cũ mà sống sót một cách kỳ tích.
Dù Trương Dược đã giải thích với hắn không biết bao nhiêu lần rằng, vào đêm tuyết ở kinh thành năm Bình Dương thứ hai mươi hai, hắn chẳng qua chỉ là một trong số các sai dịch vệ sở đến phủ giết người, kẻ thực sự vung đao cải mệnh cho Đỗ Linh Nhược đã rời đi trước khi hắn vào phủ từ lâu.
Tiếc là bất kể hắn nói thế nào, Đỗ Linh Nhược đều không tin. Hắn chỉ nhớ rõ, mình đau đớn hôn mê không biết bao nhiêu ngày, khi mở mắt ra lần nữa, gương mặt u ám như đưa đám của Trương Dược hệt như mặt Phật, tỏa ánh vàng kim treo trước mắt mình.
Sau này, hắn cứ hễ mở miệng là nói chuyện báo ân, lúc nào cũng cảm niệm nhát đao hoàn toàn không có thật kia đối với Trương Dược.
Trương Dược lúc đầu thấy rất cạn lời, lâu dần cũng thành vô tư.
Hắn đã sống u ám đến tận bây giờ, đối với những người không muốn chết, ít nhiều đều có chút hảo cảm.
“Được rồi đấy, lau cái nền đất mà cũng quỳ đoan chính như thế, người ta bảo trên đầu ba thước có thần linh.”
Đỗ Linh Nhược ngẩng đầu nhìn bầu trời vàng vọt: “Cái nơi này, trên đầu ba thước toàn là quỷ, huynh có là Diêm Vương gia đi nữa thì cũng đừng mong đám quỷ của huynh sẽ ban phúc cho huynh.”
Trương Dược không lên tiếng, vệt máu kia đã bị hắn cậy sạch, hắn lười đứng dậy, quỳ bò hai bước về phía giá hình, tiếp tục đối phó với một vệt máu khác.
Đỗ Linh Nhược ngồi thụp xuống, vén tay áo, cẩn thận vươn tay dùng móng tay giúp Trương Dược cậy vệt máu đó, vừa cậy vừa hỏi: “Đầu gối không đau à? Huynh cứ làm thế này sao?”
“Ta có phải ngươi đâu, ta hiếm khi phải quỳ.”
“Hê hê… Trương chỉ huy sứ nói gì cũng đúng.”
Đỗ Linh Nhược cứ gặp Trương Dược là thích đấu mồm đấu miệng, nhưng hắn không có ác ý gì với Trương Dược, cùng lắm là cười gượng hai tiếng, chịu thua rồi nói chuyện chính.
“À đúng rồi, đào mà A Mẫn tỷ tỷ nhờ ta mua, ta mua xong rồi.”
“Chân, nhấc ra lần nữa.”
“À, được thôi.”
Đỗ Linh Nhược túm vạt bào, lại tốt tính nhường sang bên cạnh một bước: “Tỷ ấy sáng sớm nay đã đến nhờ vả ta, ta thay y phục xong là chạy đôn chạy đáo đi gặp Lương Cảnh Minh, huynh đoán xem thế nào? Lương Cảnh Minh còn khóc than nghèo với ta. Chao ôi, cái thời buổi này, muốn kiếm mấy cân đào Lý Công, ngay cả gã Lưỡng Hoài chuyển vận sứ như hắn cũng chẳng làm ăn gì được.”
Trương Dược tùy miệng nói một câu: “Tào vận không thông, chẳng phải đều thế cả sao.”
Đỗ Linh Nhược cười: “Huynh mà bình luận chính vụ thì quan tam phẩm ở kinh thành đều phải run rẩy cả mông, tranh nhau đến đưa tiền cho ta. Dược ca, huynh chịu khó mở miệng lời vàng ý ngọc, ta còn có thể kiếm thêm cho A Mẫn tỷ tỷ hai sọt đào nữa đấy.”
Trương Dược im lặng, Đỗ Linh Nhược cũng lười quản xem hắn đang nghĩ gì, tự mình tiếp tục nói: “A Mẫn tỷ tỷ thật biết ăn, đào Lý Công tầm quanh tết Trung thu là ngon nhất, nhưng đúng như huynh nói, tào vận ở kênh đào luôn không tốt, chẳng nói đến hoa quả, ngay cả mấy cái nha môn sứ ti ở Hoài Dương cũng gây ra một đống nợ nần thối nát trong việc vận chuyển lương thực và muối. Cứ chờ mà xem, qua mùa thu này, trong chiếu ngục của huynh còn phải điền thêm mạng người vào đấy.”
“Cái miệng của ngươi sao mà lắm chuyện thế.”
Trương Dược ngắt lời Đỗ Linh Nhược. Đỗ Linh Nhược cũng cậy mỏi tay rồi, những cục máu lâu năm đóng cứng ngắc, làm xước cả móng tay cũng không sạch được. Hắn thở dài, đứng thẳng người đấm đấm thắt lưng: “Không nói thì thôi, dù sao thì hiện giờ ta chỉ có thể kiếm cho A Mẫn tỷ tỷ được một sọt bấy nhiêu thôi, để ở dưới chân tượng thần cho huynh rồi đấy, nhớ bảo đám Cẩm y vệ khiêng về.”
“Ừ.”
Trương Dược nhìn Đỗ Linh Nhược một cái, lại bồi thêm: “Buổi tối uống rượu chứ?”
“Chẳng dám đâu.”
Đỗ Linh Nhược xua xua tay: “Rượu giấu trong quan tài của huynh, không ngâm rắn độc thì cũng ngâm bò cạp, gắt quá, không hợp với hạng người đã cắt gốc rễ như ta. Lần trước nếu không nhờ A Mẫn tỷ tỷ sắc thuốc cứu ta, ta đã chết ở nhà huynh rồi.”
Trương Dược luôn hiếu kỳ, sao Đỗ Linh Nhược có thể thản nhiên đem chuyện mình bị cắt gốc rễ ra đùa cợt mà chẳng chút buồn phiền như vậy.
“Ngươi…”
Đỗ Linh Nhược chẳng đợi hắn nói xong đã nhảy xuống khỏi hình đài, không ngoảnh đầu lại mà vẫy tay với Trương Dược: “Ta đi đây.”
“Ngươi đợi một lát.”
“Hửm?”
Trương Dược quỳ thẳng người. Mặt trời xuống núi, bốn bề không người, một luồng gió lướt qua hình trường, thổi tung mái tóc dài xõa trên vai hắn. Trên cái hình đài chết chóc này, hắn nói một câu khiến Đỗ Linh Nhược nhất thời cảm thấy có chút chấn động: “Ngục Hình bộ chỗ ngươi có cửa nẻo nào không?”
“Cửa nẻo?”
Đỗ Linh Nhược nghe vậy thì nhướng mày: “Đều là người làm tư pháp, Bắc trấn phủ ti của huynh nhiều cửa nẻo hơn ta chứ. Vả lại huynh có đường đi chính quy, Cẩm y vệ cầm thủ thư của huynh vào, công văn giao nhận, trong ngục Hình bộ lẽ nào còn có người mà huynh không lôi ra được?”
“Là chuyện riêng.”
Trương Dược cúi đầu, tiện tay múc một gáo nước dội xuống mặt đất: “Ta không muốn đi đường chính.”
“Ngục Hình bộ? Chuyện riêng? Đường tà đạo?”
Đỗ Linh Nhược hỏi liền ba câu, cuối cùng lộ ra một nụ cười đầy ẩn ý, hạ thấp giọng ghé sát mặt Trương Dược: “Huynh muốn gặp ai?”
Trương Dược không trả lời. Lúc này trong lòng hắn nảy ra một ý nghĩ vô cùng hoang đường, hoang đường đến mức hắn chẳng biết giải thích với Đỗ Linh Nhược thế nào.
Hắn muốn đến chỗ của một tử tù để tìm cái chết.
Đỗ Linh Nhược thấy Trương Dược không trả lời, càng thêm tò mò, không cam lòng mà bám lấy: “Ta giao thiệp với huynh bao nhiêu năm nay, đây là lần đầu nghe nói Chỉ huy sứ của Bắc trấn phủ ti có ‘chuyện riêng’ đấy nhé. Nói đi, nói rồi ta sẽ giúp huynh.”
Trương Dược vẫn lặng thinh, cúi đầu tiếp tục lau đất. Thế nhưng vệt máu dưới tay kia không biết đã két lại từ bao nhiêu năm, lúc này hắn đã dốc hết cả sức lực như lúc chém đầu người mà vẫn chẳng thể lau sạch được.
—
“Ngọc Lâm.”
Lao ngục của ngục Hình bộ rất tối, để đề phòng tử tù tự sát, cai ngục đã thắp cả một dãy nến dài, vậy mà vẫn chẳng thể soi rõ mặt người.
Ngọc Lâm dưới gông cùm nặng nề ngẩng đầu lên, chỉ thấy ba bóng người âm trầm, cùng một bộ xiềng xích khá mảnh, đang lủng lẳng sáng loáng trên tay một người.
“Đứng dậy gặp người.”
Bộ xiềng xích mảnh kêu lanh lảnh khi được quấn một vòng quanh tay người nọ, thanh âm ấy ép đám nữ tù phải co rúm người vào góc tường. Đắm mình nơi Hình bộ nhiều năm, Ngọc Lâm nhận ra bộ xiềng xích này, cũng biết rõ đám nữ tù đang sợ hãi điều gì.
“Không sao đâu, ta…”
Nàng đã quá mệt mỏi, những vết thương do cực hình sau một ngày hành hạ đã rách miệng chảy máu, đau như dao cắt, giọng nàng cũng khàn đặc, vừa mở miệng nói vài chữ đã lạc đi, dường như chẳng thể an ủi được bất kỳ ai.
Nàng dứt khoát ngồi thẳng dậy, nhìn về phía Ngục thừa.
“Vương Thiếu Liêm.”
Ngục thừa bị nàng gọi thẳng cả danh tính như thế, nhất thời kinh hồn bạt vía, lỗ tai bỗng nóng bừng lên.
Ngọc Lâm dùng đầu gối gượng chống chiếc gông nặng, khẽ thổi lọn tóc rối xòa trên mặt: “Ngươi đem bán đêm cuối cùng của ta rồi sao?”
Ngục thừa lúc này mới hoàn hồn, cười lạnh một tiếng: “Không ngờ tới phải không?”
“Không ngờ tới chuyện gì?”
Vương Thiếu Liêm vòng đến trước mặt Ngọc Lâm, từ trên cao nhìn xuống: “Không ngờ tới con đường tài lộc này bị ngươi chặn đứng gần mười năm, nay lại thông suốt rồi. Chuyện làm ăn da thịt chốn hình ngục này, Vương Thiếu Liêm ta lại có thể làm tiếp. Năm đó khi ngươi tuần ngục đã sỉ nhục ta thế nào, chắc ngươi chưa quên chứ?”
“Ừm.”
Ngọc Lâm cười nhạt một tiếng đáp: “Chưa quên.”
Vương Thiếu Liêm trong lòng thỏa mãn, không kìm được mà cười rộ lên: “Đêm nay, mọi chuyện đảo ngược cả rồi. Thiếu ti khấu cái nỗi gì, cuối cùng cũng phải thoát y tr*n tr** mà bán cho ta…”
“Ngươi coi con người là thứ gì?”
Ngọc Lâm ngắt lời hắn, nhưng Vương Thiếu Liêm lại cười điên cuồng hơn: “Người? Người đương nhiên là người rồi, nhưng nữ nhân… nữ nhân thì chẳng là cái thá gì cả. Huống hồ là hạng nữ nhân phạm tội, đó chỉ là một đống thịt đắt hơn thịt lợn thịt bò một chút mà thôi. Ồ, không đúng không đúng, không phải đắt hơn một chút, mà là đắt hơn rất nhiều. Thiếu ti khấu, ngươi đoán xem, đêm cuối này của ngươi đáng giá bao nhiêu tiền?”
“Bao nhiêu?”
Vương Thiếu Liêm tiến lại gần Ngọc Lâm.
“Hai mươi lượng! Tròn hai mươi lượng bạc đấy! Bổng lộc một năm của ta cũng chỉ có mười lượng. Ha…”
Hắn vừa cười vừa liếc nhìn những nữ tù khác trong lao ngục: “Ngươi nhìn xem…”
Ngón tay hắn chỉ điên cuồng vào mặt đám nữ tù: “Hai mươi lượng, lại hai mươi lương. Ê, con bé này trẻ, ba mươi lượng. Tính ra chẳng quá hai năm, ta có thể đến nha môn Lại bộ, quyên góp được một cái chức quan ngũ phẩm rồi.”
Đám nữ tù trong ngục sợ hãi nép vào nhau, những người trẻ tuổi thậm chí đã bật khóc thành tiếng.
Ngục thừa ném mạnh bộ xiềng xích mảnh xuống chân Ngọc Lâm.
“Tháo gông cho ả, khóa chân tay lại rồi đưa ra ngoài. Ta sang phòng cấm đợi trước, cái chốn này kẻ khóc thì nhiều, người cười thì không, ở lâu ám quẻ lắm!”
“Rõ.”
Ngục thừa đi rồi, trong lao ngục chỉ còn lại những tiếng sụt sùi yếu ớt. Vật thương kỳ loại, thu minh dã bi (Muôn vật đau lòng cho đồng loại của mình, tiếng ve kêu mùa thu cũng nhuốm màu bi thiết.)
Ngọc Lâm tựa mình vào bức tường lạnh lẽo, chiếc gông nặng nề suýt làm gãy vai nàng mấy ngày qua, giờ đây tháo ra cũng thật khó khăn. Nàng muốn nhân lúc này an ủi những nữ tử kia, nhưng lại phát hiện, thân ở chốn vô gián này, bất kể nàng nói gì cũng đều là xát muối vào lòng người khác.
Nàng cũng thấy xót xa, đúng lúc ấy, một bàn tay thanh mảnh rụt rè nắm lấy ống tay áo tù phục của nàng.
Hơi ấm thực sự từ con người tạm thời đẩy lùi cái lạnh lẽo của xiềng xích, Ngọc Lâm cúi đầu: “Có chuyện gì sao?”
“Tỷ tỷ, để muội giúp tỷ.”
Giọng nói vừa nhẹ vừa mềm đâm sâu vào ngũ tạng Ngọc Lâm, tinh thần nàng khẽ xao động, nhưng giọng nói vẫn cứng cỏi như băng đá.
“Ta không cần, ta cũng không quen biết muội.”
“Muội tên là Ngân Thanh.”
Thiếu nữ gạt mớ tóc rối trên mặt: “Tội của muội là do chính tay tỷ tỷ phán…”
Ngọc Lâm hơi kinh ngạc, nơi cùng khổ này, trước lằn ranh sinh tử, người muốn giúp nàng lại chính là phạm nhân dưới công đường năm xưa.
Nàng không kìm được mà chớp mắt, cố nhìn rõ dung mạo thiếu nữ đang nói chuyện. Tiếc thay ngọn nến lay động quá mạnh, mặt người dù ngay trước mắt nhưng cứ lúc sáng lúc tối, mịt mờ không rõ.
Ngọc Lâm lẫn lộn giữa âm dương, mơ màng nhớ lại mười năm mình ngồi trên công đường Hình bộ.
Trong mười năm ấy, từng có biết bao người quỳ trước mặt nàng. Tiếc rằng mắt nàng vốn không tốt, chỗ tối nhìn không rõ, chỗ sáng lại mơ hồ, những người đó hình dáng ra sao, họ tên là gì, nàng đều không nhớ rõ. Nhưng nàng lại có thể hồi tưởng lại vô số cảm xúc khác biệt trên người họ.
Đây không phải là mười năm quốc thái dân an, hoàng đế đa nghi bạo ngược, dựng lên bức tường Khánh Dương* cao ngất, giam giữ hàng trăm tôn thất của tiền Thái tử. Bên trong có hoạn quan lộng quyền, bên ngoài có Thanh Long Quán ở Sơn Đông phản Lương, bốn thành Sơn Đông chìm trong biển máu và khói lửa, luân phiên thất thủ.
*Chỗ này ban đầu tác giả để là Sùng Dương nhưng về sau sửa thành Khánh Dương nên mình sửa từ đầu để mọi người không bị lẫn.
Vài năm gần đây, lại mượn danh thanh trừng trị cựu đảng tiền Thái tử, Bắc trấn phủ ti giết người không ghê tay trong thành Lương Kinh, khiến văn đàn cũng hệt như một đầm nước đọng thanh cao, những áng văn chương gấm vóc rỗng tuếch được ban hành thiên hạ, còn những lời nói chấn động tâm can thì chẳng một chữ nào được truyền đi. Ngọc Lâm không muốn xem thơ văn, cũng chẳng muốn cầm bút.
Cũng may, công đường vẫn như dầu sôi lửa bỏng, hình cụ trói buộc xác thân nhưng tâm và hồn của tù nhân thì đều sống động.
Nàng ghi nhớ sự mừng rỡ điên cuồng khi phạm nhân được rửa sạch hàm oan, sự trút bỏ gánh nặng khi khổ chủ báo được đại thù, sự hối hận của kẻ có tội, sự buông bỏ của tử tù… Mười năm qua, những con người khác nhau đứng dậy từ công đường, từ biệt nàng, rồi kẻ chịu án tù hình bước vào ngục tối, kẻ chịu án lưu đi về phương xa, kẻ được phóng thích trở về nhà. Nàng, với tư cách là nữ tử duy nhất của Đại Lương cầm giữ luật để chứng đạo giữa nhân gian, quả thực đúng với lời nhận xét mà Triệu Hà Minh dành cho nàng: “Mẫn tuệ thắng cả chư công tam ti.”
*Mẫn tuệ: khen ngợi trí tuệ sắc bén, sự linh lợi, thông minh và nhạy bén vượt trội.
Nay chư công vẫn còn tại vị, nàng lại chết vì chính chữ ‘mẫn’ này.
Nhưng tại sao quan tư pháp lại vì ‘mẫn’ mà chết?
Chư công không đưa ra được đáp án, duy chỉ có Triệu Hà Minh là sớm đã vạch trần: ‘Nàng’, mẫn tuệ thắng chư ‘Công’.*
*Chữ Công (公) thường dùng cho nam, dùng để chỉ quan lớn / đại nhân. Ẩn ý của tác giả chắc mọi người đã hiểu.
Vậy nên khi chư công tam ti ngồi trên công đường, lột bỏ y phục của Lưu thị, khi tất cả những ánh mắt trêu đùa xuyên qua bản Luật Cáo mà nàng từng tự mình viết nên để đường hoàng rơi xuống thân thể tr*n tr**ng của nữ tù kia, Ngọc Lâm ngồi giữa chư công đã không còn cách nào khoác nổi bộ y quan cầm thú trên người mình nữa.
Chư công mỗi người một vị trí, chỉ riêng nàng cởi quan bào ngay tại công đường, bảo vệ tù nhân, phát điên, buông lời đại nghịch bất đạo.
Vốn dĩ nàng đã dùng mười năm tâm lực để tu luyện nên một cuộc đời mà nữ tử gần như không thể có được, cuối cùng lại bị chính tay nàng lật đổ. Chốn quan trường đi đến hồi kết, nàng từ thường dân áo trắng lên đến hàng công khanh, rồi lại rơi vào kiếp tù đày. Mạng hèn, kết cục thảm đạm, nàng cũng chẳng hối hận, chỉ là không cam tâm, dù bị phán lăng trì cũng không muốn chết.
“Ta đã phán muội tội gì?” Ngọc Lâm hỏi Ngân Thanh.
“Án tù hình, ba năm.”
Ngân Thanh đáp xong câu này, vành mắt bỗng đỏ hoe, bàn tay nắm lấy ống tay áo Ngọc Lâm trắng bệch cả đốt ngón tay, dường như cũng không cam lòng, không muốn trơ mắt nhìn nàng đi vào chỗ chết.
Ngọc Lâm mỉm cười: “Ta là quan xét xử của muội, ta giam cầm muội, muội vì ta mà khóc lóc làm chi?”
Ngân Thanh ngẩng đầu: “Tỷ tỷ ở trên công đường đã từng bảo vệ muội, tỷ tỷ không phải quan xét xử, tỷ tỷ… là Bồ Tát.”
Một tiếng “Bồ Tát” vừa dứt, chiếc gông nặng nề trên người Ngọc Lâm cũng vừa hay rơi xuống đất.
Tên cai ngục nhặt bộ xiềng xích mảnh mà Vương Thiếu Liêm ném dưới đất lên, giật lấy cánh tay Ngọc Lâm: “Đứng dậy, đi theo bọn ta.”
Ngọc Lâm xoa xoa cổ tay, chống đôi chân đã tê dại chuẩn bị đứng lên, nào ngờ thiếu nữ bên cạnh đột nhiên quỳ sụp xuống trước mặt hai tên cai ngục, túm chặt lấy ống tay áo bọn chúng: “Chuyện da thịt ta cũng làm được… ta mười sáu tuổi rồi, ta biết việc đời rồi…”
Tên cai ngục có chút mất kiên nhẫn, tặc lưỡi một tiếng, định hất nàng ra.
Ngọc Lâm đứng dậy, bước đến trước mặt hai người: “Xin hai vị quan nhân nương tình, để ta khuyên nhủ nàng ấy.”
“Giờ giấc không đợi người đâu, đã sang canh rồi.”
Giọng điệu tên cai ngục không mấy tốt lành, Ngọc Lâm gật đầu: “Ta biết, nhưng ta mang hình cụ quá lâu, thân thể cứng đờ cả rồi, cứ thế này mà qua đó thì việc làm ăn của Vương đại nhân các ngài làm sao trôi chảy được? Để ta thư thả một chút, cũng là để từ biệt nàng ấy.”
Nói xong, nàng khẽ bảo Ngân Thanh: “Muội buông tay trước đã.”
Thiếu nữ nghe lời buông tay ra.
Hai tên cai ngục nhìn nhau, tuy lạnh lùng nhưng lòng trắc ẩn vẫn có chút ít, miệng không nói lời đồng ý nhưng người thì đều lùi lại một bước.
Ngọc Lâm kéo ống tay áo xuống che đi những vết sẹo trên cổ tay, xoay người đi đến bên cạnh thiếu nữ, cúi người lau nước mắt cho nàng: “Bao giờ thì được ra ngục về nhà?”
“Năm sau… mùa đông ạ.”
“Tốt quá.”
Nàng nói hai chữ này, nhìn gương mặt trẻ trung của thiếu nữ mà mỉm cười từ tận đáy lòng: “Vậy là muội có thể ngắm tuyết rồi.”
“Tỷ tỷ…”
Ngọc Lâm ôm Ngân Thanh vào lòng: “Muội nói ta là Bồ Tát, ta thực sự rất vui. Pháp tướng vạn ngàn, cứu tế nhân gian, sống cũng là chết, chết cũng là sống. Ta vốn là kẻ rất cuồng vọng, ta thi khoa cử, làm quan, sánh vai cùng nam tử, chưa bao giờ cầu thần bái phật, sinh ra đã muốn che ô cho người khác, muốn làm thần phật trên thế gian này. Thế nên muội đừng sợ.”
Nàng nhìn Ngân Thanh đang đầm đìa nước mắt trong lòng mình: “Tỷ tỷ sau khi chết cũng sẽ phù hộ cho muội, phù hộ muội bình an ngắm nhìn trận tuyết đầu tiên của thành Lương Kinh năm tới.”
“Tuyết…”
“Phải, hứa với ta, sau khi ta đi rồi, đừng dễ dàng khóc nữa. Nếu muội có thể nhìn thấy trận tuyết đầu tiên của năm sau, nhớ đến miếu Bì Trường thắp một nén nhang, nói cho tỷ tỷ biết muội đã bình an tự tại. Tỷ tỷ là Bồ Tát, nhất định sẽ nghe thấy.”
“Muội nhất định sẽ nhớ, ngày tuyết rơi năm sau sẽ đến miếu Bì Trường…”
Ngân Thanh càng nói càng không kìm được tiếng khóc nghẹn ngào.
Đến đây là phải từ biệt rồi, Ngọc Lâm khẽ đẩy nàng ra, đứng dậy chậm rãi bước đến cửa lao, đưa hai tay ra trước mặt cai ngục: “Khuyên xong rồi.”
Nói đoạn, nàng lại quay đầu nhìn Ngân Thanh một lần nữa, xoay người nén cơn đau khắp thân thể, hành một nữ lễ với cai ngục.
“Tâm trạng nàng ấy không được tốt, xin hai vị rộng lượng với nàng. Đợi ta đi rồi, hãy để nàng ấy ăn chút gì đó, hoặc uống chút nước.”
Cai ngục nhìn vào lao thất, tất cả nữ tù đều đau buồn nhìn theo bóng lưng Ngọc Lâm, mà nàng thì lại rất bình thản, sau khi đã chu toàn lễ nghĩa, trên mặt không hề lộ ra một tia cảm xúc dư thừa nào.
“Đưa ta đi đi.”