Trương Dược mang Ngọc Lâm đi ngay trước trống Đăng Văn, người thì cũng chẳng thấy quay lại nha môn Bắc trấn phủ ti nữa.
Dương Chiếu Nguyệt, người vốn đến để ép giết Lưu Ảnh Liên ban đầu còn tức tối vì sự trì hoãn của Trương Dược, nhưng sau khi nghe Ngô Lũng Nghi nhắc đến chuyện giấy ngự phê, sắc mặt hắn lập tức chuyển sang xanh mét.
Hắn hiểu rõ sự lợi hại trong đó. Lúc này mà Lưu thị chết, chẳng khác nào là Ti Lễ Giám ra tay diệt khẩu. Thế là hắn vội kéo Lý Hàn Chu đến chỗ không người, mở miệng chỉ dặn đi dặn lại rằng Lý Hàn Chu tuyệt đối không được dùng hình g**t ch*t con gái Lưu thị.
Lý Hàn Chu thì thấy lạ lắm. Trương Dược đi rồi, nha môn Trấn phủ ti lại nhộn nhịp đến mức không tưởng nổi. Người của Đại lý tự, Hình bộ, Đô sát viện cho đến Ti Lễ Giám cứ kéo đến từng tốp từng tốp, nhưng tất cả đều chỉ có một mục đích duy nhất: Bảo vệ Lưu Ảnh Liên không được chết.
Hắn nghĩ mãi không thông, các Chưởng hình Thiên hộ khác cũng lấy làm lạ theo, canh giữ Lưu Ảnh Liên trong hình phòng suốt nửa buổi không dám lơ là nửa khắc.
Lưu Ảnh Liên không chịu ăn uống, bánh nhân thịt hay bánh bao chiên mua từ bên ngoài vào nàng đều gạt đi hết.
Lý Hàn Chu thậm chí còn bảo nữ nhân trong nhà nấu canh nóng, đường sá xa xôi gửi đến cho mình, nhưng Lưu Ảnh Liên cũng chỉ liếc nhìn một cái, vẫn không chịu ăn.
Lý Hàn Chu trong lòng sốt ruột, mắt thấy nàng yếu ớt, lại đang mang thương tích, cứ lủi thủi ngồi đó, không nói không rằng, chỉ biết rơi nước mắt, hắn chỉ sợ mình sơ sẩy một cái là nàng sẽ chết trong ngục Cẩm Y Vệ. Hắn đành phải đích thân canh chừng trước mặt nàng, đồng thời hết lần này đến lần khác hối thúc đám Đề kỵ bên ngoài: “Chỉ huy sứ của chúng ta đã về chưa?”
Đám Đề kỵ trước đó bẩm báo rằng, trước Trường An Môn có người đánh trống Đăng Văn kêu oan cho Lưu Ảnh Liên, Trương Dược đã đi bắt người ở đó rồi.
Thế nhưng sau đó nửa ngày trời chẳng thấy tin tức gì truyền về, đến khi nghe báo cáo lại thì đã gần giữa trưa. Lý Hàn Chu gắt gỏng: “Kẻ nào mà khiến Chỉ huy sứ của chúng ta phải bắt bớ đến tận giờ này? Bình thường nửa ngày thế này, đừng nói là một người, đến cả một cái nha môn ngài ấy cũng bứng gốc xong rồi.”
Tên Đề kỵ ngập ngừng, chỉ nói người đánh trống đó là Ngọc Lâm.
Lý Hàn Chu nghe xong liền xìu xuống, đứng ở cửa hình phòng mà trợn trắng mắt.
Ngọc Lâm, nữ tử tù mà Trương Dược chẳng màng danh tiếng bại hoại cũng phải đi mua dâm, là quan tì mà hắn bán cả quan tài để mua về, ngày ngày ôm vào dắt ra, cứ như sợ chân nàng chạm phải bụi trần không bằng.
Bắt người?
Lý Hàn Chu nhìn mặt trời đã dần xế bóng, mỉa mai: “Bắt người gì chứ? Là đi dắt ngựa cho người ta thì có.”
Hắn thật sự chẳng nói sai chút nào.
Lúc này, Trương Dược đang dắt con Thấu Cốt Long, mang theo Ngọc Lâm xuyên qua phố phường Kinh Lương.
Giữa tháng chín, trời đã chuyển lạnh, gió bấc thổi khiến đôi mắt Ngọc Lâm càng nhìn không rõ, nhưng nàng biết, đây không phải đường về nhà.
“Đi đâu thế?” Ngọc Lâm ngồi trên lưng ngựa hỏi Trương Dược.
Người dắt ngựa chẳng buồn ngoảnh đầu: “Tiệm may.”
“Ngài định mua y phục cho ta à?”
Tiếng người trên ngựa dường như mang theo ý cười. Trương Dược nhìn phố thị náo nhiệt trước mắt, bình thản đáp: “Chẳng phải cô muốn đồ lụa mềm sao?”
Gió thổi tung tà váy vải sợi bông của Ngọc Lâm, lướt qua thân ngựa. Thấu Cốt Long cúi đầu, vó ngựa có chút ngập ngừng.
Trương Dược siết chặt dây cương, liếc nhìn đầu ngựa: “Đi cho vững.”
“Nó sợ ngài cháy túi đấy.”
Trương Dược quay đầu lại: “Một mình cô thì mua được bao nhiêu?”
Ngọc Lâm không đáp, chỉ nhìn hắn cười.
Vành mắt nàng vẫn còn ẩm ướt, ánh nước trong mắt long lanh.
Trương Dược dừng bước, đứng dưới ngựa ngẩng đầu lên: “Sao cô vẫn còn khóc?”
Ngọc Lâm ngước nhìn con phố lộng gió: “Ta hiếm khi cứ muốn khóc mãi thế này, trừ phi vào một ngày nào đó, bị đối xử thật tàn nhẫn… rồi sau đó lại gặp được một người cho ta ăn mật.”
Trương Dược nghe vậy định cười, nhưng không dám cười. Hắn biết rõ, cái bản mặt đưa đám của mình mà cười lên thì lúc nào trông cũng khó coi vô cùng.
May mà tiệm may đã ở ngay phía trước, Trương Dược quay người đi, chỉ buông một câu: “Ngồi cho vững.”
Trương Dược chưa từng biết y phục của nữ tử lại phức tạp đến thế.
Vải vóc thì có lĩnh, miên, la, sa, mỗi loại một vẻ; kiểu dáng thì lại chia thành điểm hoạ, thêu xen, chồng lụa, xếp ly thêu chỉ vàng… chủng loại vô số kể. Y phục của Trương Mẫn vốn dĩ đều do Hứa Tụng Niên lo liệu, nhưng mỗi độ lễ tết, dù Hứa Tụng Niên không đến được thì Dương Chiếu Nguyệt và Trần Kiến Vân cũng rất chăm chạy qua căn nhà tồi tàn của Trương Dược.
*绫 (lĩnh): loại lụa mỏng, mềm mại như tơ, thường dùng may quần áo hoặc khăn mỏng. / 绵 (miên): vải mềm, thường là tơ hoặc bông. / 罗 (la): lụa mỏng nhẹ. / 纱 (sa): vải sa rất mỏng, gần như xuyên thấu.
Từ khi Hứa Tụng Niên nắm quyền Ti Lễ Giám, Trương Mẫn được ông ta chăm lo rất tốt. Tốt đến mức dù Trương Dược có vung tay quá trán vào quan tài và gỗ quý suốt bao năm, Trương Mẫn vẫn có thể sống những ngày tháng bình yên dưới sự che chở của Ti Lễ Giám.
Nhưng Trương Mẫn cũng chỉ dừng lại ở mức bình yên đó thôi. Bình thường nàng ăn mặc đơn giản, bao năm qua đem tiền bạc rải khắp thành Kinh Lương để cứu tế ăn mày, cúng dường tăng đạo trong chùa miếu. Nàng bảo đó là tích đức. Còn là tích đức cho ai, nàng lúc nào cũng nói rất lập lờ.
Tuy nhiên, cũng không khó đoán.
Nàng có lòng từ bi, nhưng Trương Dược lại giết người không đếm xuể. Mà nàng thì bệnh tật yếu ớt, mạng sống chỉ còn trong sớm tối, đành phải vung tay trong thành, đem cái sự phú quý ngút trời mà nàng không thừa nhận ấy rải ngược lại cho nhân gian.
Dù vậy, Trương Mẫn cũng có không ít y phục cũ tinh xảo, mà vóc dáng nàng và Ngọc Lâm lại cực kỳ tương đồng. Nàng đem y phục cũ tặng cho Ngọc Lâm, nhưng Ngọc Lâm nhất quyết không mặc.
Trương Mẫn hỏi tại sao, nàng chỉ nói mình lớn lên trong ngục, trên người bẩn thỉu, lại mang theo vận rủi, sợ mặc đồ của Trương Mẫn sẽ làm lây sang khiến nàng ấy cũng không tốt theo.
Lúc Ngọc Lâm hôn mê, Trương Mẫn cùng Giang Huệ Vân đã lau người cho nàng, sau đó cũng không nhắc lại chuyện tặng y phục nữa, ngược lại bảo Trương Dược đem những chiếc áo lót tốt nhất của hắn cho nàng.
Thế là Ngọc Lâm cứ khoác những chiếc áo lót rộng gấp đôi người mình như thế mà dưỡng bệnh suốt mười mấy ngày trong quan tài của Trương Dược.
Trương Dược vốn dĩ ít lời, hắn chẳng có gì nhiều, chỉ có áo lót và gỗ là nhiều. Nàng muốn mặc thì cứ cho nàng mặc, hắn cũng chẳng hỏi tại sao, chỉ có Trương Mẫn dặn hắn sau này may đồ cho Ngọc Lâm thì phải may thật rộng rãi.
Lúc này Trương Dược ngồi trong tiệm may, nhìn Ngọc Lâm đang trò chuyện vui vẻ với chủ tiệm, hắn cảm thấy chuyện này không cần mình phải mở miệng nữa.
Về khoản ăn mặc, Ngọc Lâm thật sự chẳng tiếc rẻ gì việc đối đãi tốt với bản thân. Xem mẫu váy chồng lụa xong lại đòi xem váy hợp hoan, từ chất liệu đến hoa văn không thứ gì là không kén chọn, đến cả lão chủ tiệm kinh doanh lâu năm cũng bị Ngọc Lâm làm cho toát mồ hôi hột.
Khổ nỗi Chỉ huy sứ Bắc trấn phủ ti đang mặt lạnh ngồi đó, chủ tiệm dù có khó xử cũng đành phải khen Ngọc Lâm tinh mắt, rồi đon đả gọi thợ may đến đo người cho nàng.
“Chỗ ngực hãy nới thêm một tấc nhé.”
Thợ may đặt thước xuống cười nói: “Hà cớ gì cô nương ơi, thế này đã là nới rộng lắm rồi. Người cô nương mỏng hơn nữ tử thường tình nhiều, nới thêm nữa sợ là mặc không vừa đâu.”
“Không sao, cứ nới thêm cho ta một tấc đi.”
“Ài, được.”
Thợ may có chút bất lực cầm lại thước đo, không để ý khiến cái thước vô tình quẹt qua ngực Ngọc Lâm. Thợ may vốn chẳng lưu tâm, nhưng quay đầu lại thấy Ngọc Lâm một tay ấn trước ngực, nhíu mày, vẻ mặt dường như không được thoải mái.
Vị khách này cả thợ may lẫn chủ tiệm đều không dám đắc tội, vội cùng tiến lên quan tâm hỏi han: “Lúc nãy đã định hỏi rồi, cô nương gầy yếu thế này mà cứ đòi đồ rộng, có phải trên người… có chỗ nào… không khỏe không? Cứ nói ra để bọn ta cân nhắc cùng cô nương.”
“Ta… bị bệnh ở ngực.” Ngọc Lâm giãn chân mày, mỉm cười nói một câu như vậy.
“À, ra là thế…”
Thợ may bấy giờ mới nhớ ra, e là vừa nãy mình vô tình chạm phải ngực nàng.
Nhưng sức lực nhẹ đến mức chính hắn cũng chẳng để ý, nhất thời không biết phải làm sao cho phải.
Ngọc Lâm khẽ ấn vào chỗ không thoải mái.
Đó không phải là cơn đau nhức nhối, chẳng qua là cảm giác sưng đau, nhịn một lát là qua thôi.
Thực tế, ở quan trường Kinh Lương, người nàng giao thiệp rất đông. Các quan viên trẻ ở cùng nhau, uống rượu đàm luận văn khó tránh khỏi lôi kéo, để có thể đi lại tự nhiên nơi quan trường, nàng từng dùng vải sợi bông quấn chặt đôi g* b*ng đ**. Cho đến trước khi vào ngục, thời gian đó đã kéo dài suốt mười năm. Trong quãng thời gian này, nàng từng nhiều lần mắc bệnh về ngực và da liễu, không thể mời thái y, chỉ đành tự xem sách mà chẩn bệnh. Tuy nhiên, việc đó cũng vô ích. Sau khi phát bệnh vẫn cứ quấn chặt bằng vải sợi bông, thuốc tốt đến mấy cũng chỉ trị ngọn không trị gốc.
Nàng từng vì cơn đau này mà ngồi không yên trên công đường, sắc mặt trắng bệch, cả sảnh đường toàn nam tử chẳng ai biết nguyên do, chỉ có một nữ tù quỳ dưới đất, khẽ hỏi nàng có phải bị tim đập nhanh không.
Đôi khi, Ngọc Lâm phải thừa nhận rằng sự ngụy trang của nàng khó lòng qua mắt được nữ tử
Ngay cả khi họ không nhìn thấu nàng hoàn toàn, nhưng vì đã từng mắc những chứng bệnh tương tự, họ luôn có thể nhận ra manh mối từ vài câu nói, thậm chí là một nét mặt nhỏ nhoi của nàng. Thậm chí có một tử tù từng là y nữ, trước khi chết đã tặng nàng một phương thuốc, nói là để chữa chứng tim đập nhanh của nàng, dặn nàng uống lâu dài.
Ngọc Lâm uống xong, cơn đau ở ngực quả nhiên có thuyên giảm.
Sau này ở trong ngục, nàng thường mặc tù phục rộng khổ, nhưng vải vóc thô ráp, lúc cọ xát lại khiến bệnh cũ tái phát, bệnh tình càng nặng hơn, nhưng Ngọc Lâm lại không thấy đó là chuyện xấu. Căn bệnh không chữa được lúc làm quan, vào đến ngục lao lại có thể chữa được.
Nàng bắt đầu trình bày bệnh tình nhiều năm qua với y công trong ngục, tường tận đến từng chi tiết, cảm xúc bình thản vô cùng.
Theo luật, người trong ngục không được thường xuyên gặp y quan, mỗi tháng chỉ được mời một lần. Các tù nhân khác đa phần đều cầu y công chữa trị vết thương do cực hình để giảm bớt nỗi đau da thịt. Ngọc Lâm thì chỉ khẩn khoản xin chữa duy nhất chứng bệnh ở ngực này.
Y công đã quá quen với những nữ tử mắc bệnh ngực mà đau khổ không nói nên lời, đối mặt với một người như Ngọc Lâm, ông bỗng thấy có chút lúng túng.
Nàng dường như chẳng hề thấy xấu hổ, cũng không thấy buồn bã, chỉ không ngừng nói với y công rằng nàng hy vọng trước khi Hình bộ thi hành án với nàng, chứng bệnh này có thể thuyên giảm đôi chút.
Nhưng cần gì phải thế? Y công không hiểu, song may thay, ông lại là một người y đức và y thuật vẹn toàn. Trong vòng nửa năm, ông thật sự đã chữa khỏi hơn nửa căn bệnh đã hành hạ Ngọc Lâm bao năm qua.
Trương Dược lúc này mới hiểu lời Trương Mẫn dặn hắn may đồ rộng cho Ngọc Lâm có ý nghĩa gì, đồng thời cũng đang nghĩ, hồi trước lúc nàng còn đứng cùng hàng ngũ trên quan trường với hắn, chắc hẳn nàng đã phải nhẫn nhịn sự khó chịu khi quấn ngực để giao thiệp và làm việc.
Nữ nhân này thật kỳ lạ, rõ ràng là sợ đau, mà lại nhẫn nhịn đến mức ấy.
Nhất thời không nói rõ được, đây rốt cuộc là hạng người gì.
“Còn muốn y phục gì nữa, đặt luôn một thể đi.”
Trương Dược ngồi trên ghế bành khoanh tay lên tiếng: “Đồ lót có cần không?”
Ngọc Lâm gật đầu: “Ừm.”
Trương Dược nhìn về phía chủ tiệm và thợ may: “Cứ theo lời nàng ấy, chỗ ngực may nới rộng ra, không cần bận tâm về nguyên liệu.”
Thợ may liên thanh đáp “vâng”, lại lấy ra thêm không ít loại vải mềm cho Ngọc Lâm chọn lựa.
Ngày hôm đó, Ngọc Lâm đã tiêu sạch số bạc trên người Trương Dược, mà đó mới chỉ là tiền đặt cọc.
Chủ tiệm hẹn hắn mười ngày sau đến lấy áo. Trương Dược cất cái túi đựng tiền đã gần như trống rỗng, Ngọc Lâm thậm chí còn tì người lên bàn gỗ, dùng bàn tay đang bị thương cẩn thận lật giở từng trang sách, chăm chú ngắm nhìn các mẫu thêu.
Nàng trông rất thư thái, trên mặt cũng hiện rõ vẻ vui mừng chân thành, hoàn toàn không giống người đã nghiêm khắc dạy bảo hắn viết chữ trong phòng của Tống Ẩm Băng đêm qua.
“Ngọc Lâm.” Trương Dược thanh toán xong, cất tiếng gọi nàng.
“Hửm?”
Nàng ngẩng đầu lên dưới một vệt sáng dịu dàng, mỉm cười hỏi hắn: “Sắp đi rồi sao?”
“Cô vẫn chưa mua đủ à?”
Ngọc Lâm đặt quyển sách mẫu xuống, đi lại bên cạnh Trương Dược: “Có thể mua thêm bộ áo váy không? Trời sắp lạnh rồi.”
Trương Dược bóp cái túi chỉ còn lại một nắm tiền đồng, muốn cười mà cười không nổi.
Cũng may nàng nói thêm một câu: “Thôi, để lại ít tiền đi mua mấy cái bánh Phong Tiêu, vào ngục thăm Ảnh Liên.”
Trương Dược đổ tiền đồng ra lòng bàn tay bắt đầu đếm xem chỗ này đủ mua mấy cái bánh nàng nói. Bỗng nghe Ngọc Lâm lại bảo: “Hôm nay ngài không giết được ai trong ngục, lần tới có phải có thể bớt lau rửa hình trường đi một lần không?”
Trương Dược nắm chặt đồng tiền trong tay, không trả lời.
Ngước mắt thấy Ngọc Lâm đã quen chân quen tay đi tìm con Thấu Cốt Long đang buộc bên cột ngựa ngoài cửa, Trương Dược vẫn đứng lặng tại chỗ. Hắn hận bản thân ít lời, nếu không cũng chẳng đến mức khổ sở tìm chữ trong bụng mà vẫn không tìm nổi một tiếng “Đa tạ” để dâng lên.
Nhưng hắn nhìn cái túi trống không của mình, rồi nhìn Ngọc Lâm đang đứng bên cạnh Thấu Cốt Long, nụ cười rạng rỡ như hoa.
Rất nhanh sau đó, hắn cảm thấy nhẹ lòng.
Ra khỏi tiệm may, Ngọc Lâm dường như đang nghĩ ngợi gì đó, suốt dọc đường không nói gì thêm.
Trương Dược mua mấy chiếc bánh Phong Tiêu ở sạp bánh, vừa vặn gặp được tên Đề kỵ của Bắc trấn phủ ti đang bị Lý Hàn Chu phái ra ngoài tìm hắn đến phát điên. Trương Dược lại bế Ngọc Lâm lên ngựa, sau đó hai người một ngựa đi thẳng đến chiếu ngục Bắc trấn phủ ti.
Lưu Ảnh Liên vẫn còn ở trong hình phòng, do Lý Hàn Chu đích thân canh chừng bên cạnh.
Vừa thấy Ngọc Lâm, nàng liền lảo đảo định đứng dậy, Lý Hàn Chu định vội chạy lại đỡ.
Ngọc Lâm ngăn Lý Hàn Chu lại: “Để ta.”
Nói xong, nàng đi đến bên cạnh ngồi xổm xuống, trấn an Lưu Ảnh Liên, đưa ra một chiếc bánh Phong Tiêu: “Ăn chút gì đi đã.”
Thật kỳ diệu, Lưu Ảnh Liên người đã tuyệt thực suốt một ngày bỗng nhiên thuận theo tay Ngọc Lâm, cắn từng miếng từng miếng ăn hết cả chiếc bánh.
Ngọc Lâm phủi sạch vụn bánh trên tù phục của nàng, khẽ xoa trán Lưu Ảnh Liên: “Muội sẽ được về nhà thôi.”
Lưu Ảnh Liên hơi ngỡ ngàng nhìn Ngọc Lâm, Ngọc Lâm mỉm cười gật đầu: “Thật đấy, họ không giết được muội nữa rồi, ta sẽ đưa muội đi tìm…”
Nàng vốn dĩ định thốt ra hai chữ “mẫu thân”.
Sợ làm nàng ấy đau lòng, nàng vội nuốt ngược vào trong, lời nói đổi thành: “… Đi tìm Tống sư huynh của ta.”
Lưu Ảnh Liên dùng một cổ tay móc vào cánh tay Ngọc Lâm, từ từ tựa đầu lên vai nàng.
Ngọc Lâm cảm thấy vai mình ướt một mảng, khi nghiêng đầu nhìn thì thấy Lưu Ảnh Liên đang khóc.
Ngọc Lâm do dự một hồi, cuối cùng ôn tồn hỏi: “Nhớ… mẫu thân rồi sao?”
Lưu Ảnh Liên tựa trên vai Ngọc Lâm, đẫm lệ gật đầu.
Ngọc Lâm đưa một bàn tay chỉ về phía ô cửa thông gió duy nhất trong phòng hình: “Nào, ngẩng đầu nhìn xem.”
Lưu Ảnh Liên thuận theo hướng tay nàng ngẩng đầu lên, trời đã sập tối, trên màn trời đã thấp thoáng trăng sao.
“Ừm… bà ấy lên trời làm thần tiên rồi.”
Lưu Ảnh Liên mím môi lắc đầu, Ngọc Lâm cụp mắt dịu dàng nói: “Muội không tin sao?”
Lưu Ảnh Liên không đáp, chỉ ôm chặt cánh tay Ngọc Lâm hơn.
Giọng Ngọc Lâm rất nhẹ nhàng, nhưng nghe lại có chút lạnh lẽo: “Tỷ tỷ tin. Trước miếu Bì Trường, mẫu thân muội đã nói với ta rằng, bà ấy sẽ hóa thành thần linh đến miếu Bì Trường cứu ta. Muội xem, tỷ tỷ thật sự đã sống sót rồi này.”
Nàng vừa nói, vừa khẽ chắp đôi bàn tay đang bị thương lại.
Cùng lúc đó, Lưu Ảnh Liên cuối cùng cũng chậm rãi đưa bàn tay còn lại ra, hướng về phía ô cửa trống không, khẽ vẫy vẫy.
Lý Hàn Chu nhìn hai người nữ tử đang nương tựa vào nhau, sợi dây thần kinh căng thẳng suốt cả ngày cuối cùng cũng được thả lỏng, quay sang nói với Trương Dược đang đứng ngoài hình phòng hình: “Nàng ta chịu ăn uống, chịu ngủ nghê, ta cũng coi như có cái để ăn nói với Đô sát viện và Ti Lễ Giám rồi.”
Trương Dược tựa lưng vào cửa hình phòng, hỏi khẽ Lý Hàn Chu: “Ngô tổng hiến đi lúc nào?”
Lý Hàn Chu đáp: “Đi cùng Dương bỉnh bút rồi. Chỉ huy sứ, ngài không gặp ông ta, lão già đó bực không chịu nổi, mắng bọn ta một trận tơi bời. À nhưng mà, ông ta chưa phải là người mắng hăng nhất đâu.”
Trương Dược nhướng mày: “Ý gì?”
“À, ngoài lão già đó ra, hôm nay người đến đông lắm. Tư vụ quan của Đại lý tự, người của Hình bộ, trước sau kéo đến nha môn phía trước hai đợt, lời nói đều giống hệt nhau: Lưu Ảnh Liên có thể giam ở chỗ chúng ta, nhưng chỉ cần Trấn phủ ti thẩm vấn Lưu Ảnh Liên, họ sẽ phái Tư vụ quan đến công đường để nghe và ghi chép. Chuyện này thật kỳ quái. À phải rồi, ngay cả Dương bỉnh bút kia cũng không cho chúng ta giết người nữa. Sao chỉ trong một ngày ngắn ngủi mà…”
Lý Hàn Chu xòe hai bàn tay ra: “Đổi trời rồi hay sao mà cái người sắp chết đến nơi này bỗng nhiên lại trở thành miếng mồi ngon được tranh giành thế không biết.”
Trương Dược không muốn hưởng ứng cảm xúc của Lý Hàn Chu, lúc này hắn buồn ngủ đến mức không mở nổi mắt, chỉ muốn dặn dò cho xong việc ở đây để đưa Ngọc Lâm về ngủ.
“Thế thì không giết. Cũng không cần không thẩm.” Trương Dược nhìn về phía Lưu Ảnh Liên đang tựa vào Ngọc Lâm: “Phái người chăm sóc nàng ta cho tốt.”
Lý Hàn Chu nói: “Thuộc hạ cũng nghĩ vậy, thay vì để Tam pháp ti gây cản trở, chi bằng chúng ta cứ để mặc cô nương này ở đây, cho Tam ti phải sốt sắng. Người của chúng ta bên ngoài đi lại nhanh nhảu, giữa trưa đã có tin báo rằng chỉ riêng nha môn Hình bộ thôi đã loạn cào cào lên rồi.”
Trương Dược nghe xong không đáp lại, trong hình phòng rơi vào một khoảng im lặng.
Ngọc Lâm ngẩng đầu lên trong sự im lặng ấy, lại thấy nửa thân người của Trương Dược đang vắt vẻo bên ngoài cửa hình phòng một cách khá nực cười.
“Ngài…”
“Buồn ngủ rồi.”
Nói xong, người đó hất tay một cái, ném cho nàng một chữ: “Đi.”
Trong cái đêm Trương Dược nằm dưới quan tài của Ngọc Lâm mà ngáy o o ấy, nến trong phòng trực của Nội các thắp sáng thâu đêm.
Thần Vũ Môn đã khóa, bóng cây bóng hoa nơi cung lạnh đêm thu, tiếng rào rạt bỗng chốc bị nhốt lại trong bức tường cao vời vợi.
Triệu Hà Minh sau khi bước vào Nội các ban ngày thì không trở ra nữa. Phiếu nghĩ cho ngày hôm nay vốn đã viết xong, nhưng mãi không thấy Thái giám tuỳ tùng của Ti Lễ Giám đến lấy. Từ giờ Thân, những thái giám trực lệnh vốn ở phòng trực cũng bị rút đi, đích thân Trần Kiến Vân đến truyền lời, cho các phụ thần trực ngày hôm đó ra khỏi cung, chỉ để lại mình Triệu Hà Minh.
Tiếp đó, cửa phòng trực được thay bằng cấm quân. Chẳng bao lâu sau, bên ngoài truyền đến tiếng bước chân một nặng một nhẹ. Tiếng động dừng lại, cửa bị đẩy ra, gió lạnh từ hành lang ùa vào thổi tắt ngay ngọn đèn lẻ loi bên cạnh Triệu Hà Minh. Triệu Hà Minh ngẩng đầu, thấy Hứa Tụng Niên đứng ở cửa. Bộ quan bào Ti Lễ Giám trên người ông đã bị cởi bỏ, ông mặc một chiếc áo lót màu trắng ngà, sau lưng là một đội cấm quân.
Dẫu vậy, Hứa Tụng Niên vẫn đứng trước cửa, hành lễ dập đầu với Triệu Hà Minh.
Triệu Hà Minh đứng dậy đỡ, lại liếc nhìn đám cấm quân sau lưng ông.
Hứa Tụng Niên buông tay Triệu Hà Minh, khẽ nói: “Ngài không cần nhìn đâu, đây là do chủ tử phái đến để canh giữ hai ta đấy.”
Ông vừa dứt lời, cấm quân liền mang nến vào, mười cây nến ngự dụng to bằng bắp tay thắp sáng trưng cả phòng trực.
Chốc lát sau, cấm quân rút ra, cửa liền bị khóa trái.
Đợi tiếng khóa định lại, Triệu Hà Minh và Hứa Tụng Niên mới ngồi đối diện nhau.
Hứa Tụng Niên nhìn những cây nến ngự trên bàn: “Thắp nến ngự rồi, e là bệ hạ muốn đích thân thẩm vấn hai chúng ta.”
Triệu Hà Minh nhìn theo ánh mắt của Hứa Tụng Niên: “Định đến tận phòng trực của Nội các để thẩm vấn sao? Sao không đặt buổi thẩm vấn này ở điện Càn Thanh?”
Hứa Tụng Niên cười một tiếng: “Địa giới điện Càn Thanh, Thượng thư Hình bộ như ngài thì xứng đáng được quỳ, chứ nô tì như ta đâu có xứng.”
Nói xong, ông phủi bụi bặm trên áo lót, ánh sáng ấm áp soi rõ gò má ông. Tuy đã có tuổi nhưng trên mặt ông không thấy nếp nhăn, trông vẫn như mới ngoài ba mươi.
Triệu Hà Minh nói: “Cả ta và ông đều đã bị giam ở đây rồi, không cần phải luận hư lễ nữa.”
Hứa Tụng Niên đáp một tiếng: “Vâng.” Rồi ngẩng đầu nhìn Triệu Hà Minh: “Nếu định đưa hai ta lên điện Càn Thanh để đối chất thì bệ hạ hẳn đã nắm sẵn thanh đao chém một trong hai trong tay rồi.”
Triệu Hà Minh không phủ nhận cũng chẳng đồng tình.
Hứa Tụng Niên lại bật cười trước mặt lão: “Triệu hình thư hẳn cũng phải hiểu chứ, chúng ta đã rơi vào một cái bẫy hết sức sơ sài.”
Trời mới biết Triệu Hà Minh muốn nghe câu nói này đến nhường nào.
Phải, sơ sài đến thế đấy.
Thế nhưng, y làm sao có thể yêu cầu Ngọc Lâm, người bị y lăng trì đến mức chỉ còn lại một cái mạng hèn phải trả lại cho y một cái bẫy tỉ mỉ đây.
Huống chi cái bẫy này tuy sơ sài, nhưng lại là một vòng dây mềm quấn chặt lấy cổ của cả y và Hứa Tụng Niên cùng một lúc.
Cái lối viết Hổ trảo bắt chước một cách miễn cưỡng kia, chẳng cần trình độ thư pháp thâm sâu gì cũng có thể nhận ra là có kẻ muốn vu oan giá họa cho Triệu Hà Minh y. Y dường như hoàn toàn có thể dễ dàng thoát khỏi vòng dây này, huống chi Ngọc Lâm còn chuẩn bị sẵn vật chứng là giấy ngự phê.
Tuy nhiên, y có dám dùng chứng cứ này để thoát thân không? Một khi y dùng chứng cứ này, tức là ép Hoàng đế phải xử tử cả Ti Lễ Giám.
Và y nắm giữ việc hình án bao năm qua, lẽ nào lại không nhìn ra chứng cứ này nực cười đến mức nào.
Ti Lễ Giám muốn hãm hại Thượng thư Hình bộ chỉ thị cho nữ cô nhi Lưu gia đốt cháy chùa Thiên Cơ, lẽ nào lại tự phơi bày bản thân bằng cách dùng loại giấy ngự phê mà chỉ có Ti Lễ Giám mới có thể lấy cho Hoàng đế.
Giờ đây Phụng Minh đế l*t s*ch mọi thứ của Hứa Tụng Niên rồi đẩy ông đến trước mặt Triệu Hà Minh, trông thì có vẻ như đang bày tỏ lập trường của mình, nhưng Triệu Hà Minh hiểu rõ, một khi y lấy giấy ngự phê làm chứng cứ để ép giết Hứa Tụng Niên, thì chẳng khác nào ép Phụng Minh đế tự chặt đi cánh tay của chính mình.
Tất nhiên, cục diện này đối với Hứa Tụng Niên cũng vậy.
Loại giấy ngự phê mà chỉ có Ti Lễ Giám mới có thể thay Phụng Minh đế lấy dùng, lại trở thành chứng cứ vu oan giá họa cho Thượng thư Hình bộ. Hành động này đầy vẻ cố ý, chứng cứ này hết sức gượng ép, ông chỉ cần để Dương Chiếu Nguyệt, Trần Kiến Vân và những người khác quỳ trước mặt Phụng Minh đế khóc lóc thảm thiết một trận đầy thành ý là có thể đẩy cái tội trộm giấy ngự phê, trù tính hãm hại sang cho Nội các hoặc hai nha môn Khoa Đạo.
Nhưng ông có dám làm thế không?
Ông cũng không dám.
Trộm giấy ngự phê tương đương với việc giả mạo thánh chỉ, án này mà mở ra là ép Phụng Minh đế một lần nữa phải tắm máu quan trường Kinh Lương.
Bất kể là tự chặt cánh tay hay tắm máu quan trường, đó đều là những việc Phụng Minh đế không thể làm.
Vì vậy, cả Triệu Hà Minh và Hứa Tụng Niên đều hiểu, đây chính là một cái bẫy hết sức sơ sài, thậm chí là một cái bẫy giả, bởi vì cả hai người họ đều chưa hạ bất kỳ một quân cờ thực sự nào trên bàn cờ này, và lúc này, dù có hàng vạn quân cờ, họ cũng đều không thể ra tay.
Hạ quân cờ ấy xuống, tức là ép đế vương phải giết kẻ vô tội. Hạ quân cờ ấy xuống, tức là tự rước lấy tội vào thân.
Ngọc Lâm ngồi trong cỗ quan tài của Trương Dược, lặng lẽ ngắm nhìn bầu trời đầy sao ngoài cửa sổ. Đêm nay không gió, trời cao mây nhạt, dù mắt nàng không tốt nhưng dường như vẫn có thể nhìn rõ từng vì sao tinh tú.
Trời như bàn cờ, sao tựa quân cờ.
Ngọc Lâm cúi đầu, xòe lòng bàn tay ra. Nằm trong đó là viên đá mà Lưu Ảnh Liên đã giúp nàng giữ lại trong chùa Thiên Cơ. Lớp tro than cháy xém trên bề mặt viên đá đã được nàng lau sạch, lộ ra màu xám trắng nguyên bản, hình dáng như quả đào, nằm vừa vặn trong một nắm tay.
Ngọc Lâm khẽ siết lấy nó, giọng nói trong cơn ác mộng kia lại vang lên bên tai nàng.
“Tiểu Phúc, trừng phạt bà ta…”
“Tiểu Phúc, trừng phạt bà ta…”
“Tiểu Phúc, trừng phạt bà ta…”
Tiếng gọi sau cao hơn tiếng trước, gào thét thành một mảnh hỗn loạn trong tâm trí Ngọc Lâm.
Nàng nhắm mắt lại, đột ngột vung tay, nhưng tiếng đá đập vào tường đã không vang lên như dự tính. Nàng không hề buông tay, chỉ ngồi trong quan tài, hướng về một nơi vô định mà ném ra một cú bừa.
Trong đêm khuya tĩnh lặng của thành Kinh Lương, ngoại trừ tiếng gọi nhũ danh khiến nàng sợ hãi kia vẫn không ngừng vang lên, thì không một ai đáp lại cú ném hư không ấy.
Thế nhưng, đây là lần đầu tiên sau hơn hai mươi năm, nàng lại nắm đá vung tay.
Hơn hai mươi năm trước, rốt cuộc nàng có ném viên đá này vào người nữ nhân đang quỳ giữa đình viện kia không, nàng đã chẳng thể nhớ nổi nữa. Giờ đây, nàng cũng không biết phải ném viên đá này về phương nào, nhưng nàng cảm giác được, rồi sẽ có một ngày nàng bước ra khỏi cơn ác mộng đó, nhận diện được người nữ nhân quỳ trước mặt mình, nhìn rõ kẻ đã nắm tay nàng, dắt nàng ném đá, và kẻ không ngừng rót vào tai nàng câu nói: “Tiểu Phúc, trừng phạt bà ta…”.
Để rồi cuối cùng, ném viên đá này đến nơi mà nó nên hướng về.
Đêm nay Ngọc Lâm thấy nhẹ lòng. Lần đầu tiên sau nhiều năm vung tay, bày ra một ván cờ sơ sài để đánh cược với những kẻ bề trên, nàng cảm thấy mình vẫn còn xứng đáng với chính bản thân mình.
Nàng nắm viên đá cúi đầu, thầm đoán định tình cảnh của Triệu Hà Minh và Hứa Tụng Niên.
Dựa trên những gì nàng hiểu về hai người này, đó đều là những kẻ thông tuệ đến cực điểm, và đó cũng là lý do nàng dám bày ra ván cờ này.
Nàng hiểu rằng, hai người đó chắc chắn sẽ b*p ch*t quân cờ mà nàng để lại cho họ. Chỉ cần họ không hạ cờ, thì trên bàn cờ này chỉ còn lại một mình Phụng Minh đế là bắt buộc phải hạ quân. Và quân cờ mà thiên tử có thể hạ, chính là quân cờ mà vào lúc đó ngài thà giết Lưu Ảnh Liên, đánh chết Tống Ẩm Băng cũng không muốn hạ xuống.
Quân cờ đó liên quan đến tôn nghiêm của đế vương, nhưng giờ đây, Phụng Minh đế buộc phải đặt nó xuống ván cờ sơ sài này rồi.
Thiên tử tổn thất một quân, đổi lấy vô số mạng người.
Trương Dược là một con chó săn không muốn giết người.
Ngọc Lâm là một cựu quan tư pháp muốn tất cả mọi người đều được sống.
Đêm nay hai người ở chung một phòng. Trương Dược nằm bò trên sàn, dưới thân lót một tấm vải liệm trắng muốt.
Sau khi tắm rửa, hắn thay một bộ áo lót sạch sẽ, hai tay gối đầu, lặng lẽ nằm dưới chân Ngọc Lâm. Đúng như lời hắn nói, hắn quá mệt rồi. Khi Ngọc Lâm lâm bệnh, Trương Mẫn thường bảo hắn ngồi bên quan tài canh trà thuốc cho nàng đêm hôm. Hắn là hạng người dù ngồi không cũng có thể ngủ say như chết.
Nhưng hôm nay, hắn lại nằm rạp xuống.
Ngón tay khẽ co lại, thỉnh thoảng run lên. Ngọc Lâm nhìn ngón tay hắn, bỗng thấy hơi buồn cười.
Bình thường cầm trọng đao như cầm quạt nhẹ, vậy mà giúp nàng viết chữ một đêm đã thành ra thế này. Ngọc Lâm nhớ lại dáng vẻ lúng túng của Trương Dược trước bàn viết đêm qua, bị Tống Ẩm Băng chất vấn đến mức mặt mũi tối sầm, không khỏi thấy có lỗi với hắn.
Một con người chỉ biết giết người, lời lẽ chẳng bao nhiêu, chữ nghĩa bình bình, nét chữ thì xấu xí, thẩm mỹ lộn xộn, h*m m**n ăn uống cũng nhạt nhẽo, ăn cơm chỉ để duy trì mạng sống.
Một khi Trương Dược buông đao, trong mắt đám danh sĩ thành Lương Kinh, thực chất hắn chẳng đáng để tâm.
Nhưng trong mắt Ngọc Lâm, hắn hoàn toàn khác biệt với hạng người như Triệu Hà Minh. Hắn tẻ nhạt, không biết điều, không thể cùng nàng một kẻ từng cầu kỳ chuyện ăn mặc, thưởng trà ngon, ăn món thanh nhã, mặc y phục đẹp, du ngoạn non nước.
Thế nhưng thân thủ hắn rất tốt, có thể bế nàng đi một quãng đường dài mà bước chân vẫn vững chãi.
Có thể đỡ cho nàng một roi, rồi sau đó vẫn dắt ngựa đưa nàng đi qua những con phố dài ở Lương Kinh để mua những bộ y phục nàng muốn.
Nàng đã yếu đến mức không thể yếu hơn, bắt buộc phải tìm cầu sự che chở.
Trương Dược khẽ ho một tiếng, Ngọc Lâm cúi đầu nhìn hắn.
Ánh đèn lẻ loi lay động, Trương Dược trong cơn mơ bỗng đưa một tay ra ấn lấy vạt áo lót.
Cảnh tượng này lọt vào mắt Ngọc Lâm, trông rất giống lúc ở Thần Vũ Môn năm ngoái, khi hắn vì Trần Hạnh Lâm mà ngâm câu: ‘Cây ngô đồng trong thành đã héo tàn quá nửa’. Một Trương Dược thà chịu hình trượng tăng gấp đôi cũng nhất quyết không chịu cởi áo, máu tươi bết dính, những kẻ tò mò định l*t tr*n bí mật trên lưng hắn, và một Ngọc Lâm tình cờ nảy sinh ý định, ngồi bên cạnh hắn đón gió làm bạn.
Giờ đây không có kẻ muốn kiếm chuyện, chỉ có hai người Trương, Ngọc.
Lớp vải trên lưng hắn hơi ẩm, dán chặt vào da thịt. Ngọc Lâm xuyên qua lớp áo mỏng manh ấy, nhìn thấy lờ mờ vài chữ cái.
Cũng may là mắt nàng thật sự không tốt, dù đã thấy được đường nét nhưng vẫn không nhìn rõ.
Nàng thích sự thật, nhưng không thích dòm ngó bí mật của người khác. Thế là nàng đứng dậy, ôm lấy chăn nệm mềm mại, lặng lẽ nằm xuống, chẳng bao lâu sau cũng chìm sâu vào giấc ngủ.
Lúc này tại phòng trực Nội các, nến ngự đã cháy quá nửa. Triệu, Hứa hai người đã im lặng đối diện nhau rất lâu.
Hứa Tụng Niên ngồi lâu hay đứng lâu đều thấy khó chịu, đành đứng tựa vào án thư. Ông theo thói quen dùng que đồng khêu bấc nến. Tiếng bấc nến nổ lách tách phá vỡ cục diện bế tắc, Triệu Hà Minh lên tiếng trước:
“Nay vận tải đường thủy không thông, binh lính Sơn Đông rệu rã, triều đình đang lúc lắm sự biến, cũng là lúc cần dùng người. Chỉ khi Nội các và Ti Lễ Giám chúng ta cùng một lòng thờ phụng vua thì chính lệnh mới có thể thông suốt. Triệu Hà Minh ta không có ý làm tổn thương Ti Lễ Giám.”
Hứa Tụng Niên gật đầu: “Nô tì hiểu.”
Nói đoạn ông đặt que đồng xuống: “Đám nô tì ở trong cung như bọn ta, về hai chữ danh lợi, cái danh thì đã mất sạch rồi, chỉ còn lại cái lợi thôi. Dương Chiếu Nguyệt cũng thế, Trần Kiến Vân cũng vậy, hay cả hạng như Đỗ Linh Nhược, việc chúng lấy lợi rút bạc từ quan lại bên ngoài, trong lòng ta rõ như gương, chỉ là ta chưa bao giờ mở mắt ra nhìn mà thôi. Tổng hiến đại nhân và quan viên hai nha môn đó không chịu ban ân cho họ, ta thì…”
Ông cười khổ một tiếng: “… Cũng hiểu được, không đến mức nảy sinh thù hận. Dù sao bọn ta cũng là nô tì, có làm các đại nhân thương tổn đến tận gốc rễ thì cái ghế ở Khoa Đạo, công đường Tam ti hay nha môn Lục bộ bọn ta cũng chẳng ngồi lên được, khổ sở làm gì. Nói cho cùng, Triệu hình thư, nói lời khó nghe chút, ngài và ta đều là những kẻ ngồi ở vị trí tột đỉnh trong hội nhóm của mình, danh lợi thực ra chẳng còn quan trọng nữa rồi. Quan trọng là chúng ta đều không muốn ngã khỏi cái ghế này. Không phải vì sợ ngã chết, mà là vì nếu mất đi vị trí này…”
Ông “chậc” một tiếng: “Quãng đời về sau sẽ vô vị lắm, chẳng biết phải sống thế nào nữa.”
Triệu Hà Minh cúi đầu cười: “Thật lòng đấy.”
Hứa Tụng Niên đứng thẳng dậy, lại hành lễ với y một lần nữa: “Ta thừa nhận Ti Lễ Giám rất hiếm khi thành tâm phối hợp với Nội các, nhưng hôm nay e là phải cầu một sự ăn ý từ Triệu hình thư.”
Triệu Hà Minh ngẩng đầu nói: “Hà Minh đã rõ.”
Lời vừa dứt, tiếng khóa cửa phòng trực vang lên.
Bên ngoài cửa sổ, những chiếc lồng đèn vàng rực thắp sáng trưng.
Người ngoài cửa tuy đông nhưng không nghe thấy một tiếng tạp âm nào, chỉ có vài tiếng ho mà cả Triệu Hà Minh và Hứa Tụng Niên đều vô cùng quen thuộc.
Hứa Tụng Niên chống chân đau, quỳ xuống bên cửa. Triệu Hà Minh cũng quỳ xuống trước cửa.
Cánh cửa mở ra, một đôi ủng da bước qua cạnh tay Hứa Tụng Niên, rồi đi ngang qua người Triệu Hà Minh, cuối cùng giẫm lên một chiếc lồng ấp không có lửa.
“Đóng cửa lại.”
Cánh cửa đóng sập lại. Hứa Tụng Niên vội vàng xoay người, quỳ bò đến trước mặt Phụng Minh đế: “Nô tì… hầu hạ trà nước cho chủ tử.”
Nhìn bở môi Phụng Minh đế có chút tái xanh vì lạnh của Hứa Tụng Niên, cười nói: “Đã thành ra thế này rồi mà vẫn còn nghĩ đến chuyện hầu hạ trẫm.”
Hứa Tụng Niên phục xuống nói: “Đừng nói là nô tì không làm nổi chức Chưởng ấn Ti Lễ Giám này, dù bệ hạ có đánh chết nô tì, thì hồn phách nô tì cũng phải quay về để hầu hạ bệ hạ.”
Phụng Minh đế bật cười thành tiếng: “Ngươi muốn chết thì đâu có khó.”
Nói đoạn, ngài nhìn về phía Triệu Hà Minh, giơ tay nói: “Ngươi đứng lên đi.”
Triệu Hà Minh cúi đầu: “Thần không dám.”
Phụng Minh đế khoác một chiếc áo choàng lớn, tóc đã xõa xuống, bên trong áo choàng là một bộ đạo bào thêu chỉ vàng trên nền xanh thẫm. Đêm nay không gió, tuy là cuối thu nhưng phòng trực đóng kín đã lâu nên vẫn có chút ngột ngạt. Phụng Minh đế cởi áo choàng quăng lên người Hứa Tụng Niên, một lần nữa giơ tay ra hiệu với Triệu Hà Minh.
Lần này ngài không lên tiếng, nhưng Triệu Hà Minh buộc phải đứng dậy.
“Ngồi đi.”
Phụng Minh đế chỉ vào chiếc ghế bành đối diện mình: “Trẫm đời này ghét nhất hạng người không biết tôn ti…”
Phụng Minh đế liếc nhìn Hứa Tụng Niên: “Ví dụ như hắn.”
Hứa Tụng Niên lập tức phủ phục sát đất: “Nô tì tội đáng muôn chết.”
Phụng Minh đế cười nói: “Trẫm chẳng phải đã bảo ngươi rồi sao, muốn chết đâu có khó. Vu khống mệnh quan triều đình cùng phụ chính đại thần của trẫm! Tâm địa gian ác, quả thực tội không thể tha, trẫm lập tức cho đánh chết ngươi! Người đâu!”
Dứt lời, ngay lập tức có người xông lên xốc Hứa Tụng Niên dậy.
“Bệ hạ!”
Triệu Hà Minh lên tiếng ngắt lời Phụng Minh đế, rồi lại vén bào quỳ xuống: “Vụ án này có điểm nghi vấn.”
“Ồ?”
Phụng Minh đế giơ tay ra hiệu thả Hứa Tụng Niên xuống, bình thản nói: “Ái khanh cứ nói.”
Triệu Hà Minh thưa: “Phàm là vu khống hãm hại, sao có thể để lại chứng cứ tự vạch trần bản thân?”
Phụng Minh đế dường như đã cười, nhưng nụ cười đó chỉ dừng lại trên mặt trong chốc lát.
Ngài im lặng một lúc, chậm rãi nói: “Vậy nên, là có kẻ trộm giấy ngự phê, muốn hãm Ti Lễ Giám vào chỗ bất nghĩa? Ừm…”
Triệu Hà Minh và Hứa Tụng Niên nhìn nhau, Hứa Tụng Niên vội vàng tiếp lời dưới chân Phụng Minh đế: “Giấy ngự phê vô cớ thất thoát, nô tì tội đáng muôn chết, chết cũng không hối tiếc, trước khi chết sao dám bôi nhọ thêm ai. Nô tì chỉ cầu bệ hạ để cho nô tì một cái thây toàn vẹn.”
Phụng Minh đế ngước mắt, một lần nữa nhìn về phía Triệu Hà Minh: “Triệu khanh thấy thế nào?”
Triệu Hà Minh thưa: “Chắc hẳn do đức độ của thần có khiếm khuyết nên mới gặp phải tai nạn này. Thần không dám tự biện hộ, chỉ xin bệ hạ tha thứ cho phụ thân và thê tử của thần, thần xin cam lòng nhận tội chịu phạt.”
Phụng Minh đế nghe xong lời của hai người, bỗng nhiên cười vang thành tiếng: “Đều cầu chết cả sao…”
Cả hai người Triệu, Hứa đều không nói gì.
Phụng Minh đế kéo dài giọng: “Trẫm hỏi các ngươi, có phải đều đang cầu chết với trẫm không?”
Cả Triệu và Hứa gần như đồng thanh: “Thần/Nô tì tội đáng muôn chết.”
Phụng Minh đế bấy giờ mới cười sảng khoái: “Vậy thì trẫm phải quay về, suy nghĩ thật kỹ mới được.”
Nói đoạn Phụng Minh đế chống gối đứng dậy, rảo bước đi đến cửa phòng trực.
Cánh cửa một lần nữa mở ra, ánh sáng bên ngoài đâm vào mắt khiến Triệu Hà Minh và Hứa Tụng Niên gần như không mở nổi mắt.
Tiếng bước chân vang lên bên tai hai người, không lâu sau, ánh lửa trước mắt cũng tối dần.
Hai người bấy giờ mới ngẩng đầu, thấy nghi trượng của Phụng Minh đế đã đi xa. Dương Chiếu Nguyệt một mình từ ngoài bước vào, đỡ Hứa Tụng Niên đứng dậy, lại vội vàng hành lễ với Triệu Hà Minh rồi mới mở lời: “Bệ hạ đã truyền lời đến Cung điện ti, tạm thời cấm túc Chưởng ấn và ngài ở nội đình. Chuyện này… chuyện này biết làm sao cho phải đây.”
Triệu Hà Minh nói: “Đây không phải là chuyện xấu.”
Hứa Tụng Niên tựa vào tay Dương Chiếu Nguyệt: “Quân cờ này của bệ hạ không hạ xuống được, phía trước vẫn còn thiếu một quân cờ dẫn lối đấy.”
Triệu Hà Minh nhìn ra ngoài cửa sổ, trăng đã dời sang phía tây, trời sắp sáng rồi, mà hiện ra trước mắt y lại là gương mặt thanh đạm của Ngọc Lâm.
“Để xem sao.”
Triệu Hà Minh nhìn sang Hứa Tụng Niên, Hứa Tụng Niên cũng đang nhìn y.
“Thượng thư đại nhân có thể hạ quân cờ dẫn lối này không?”
Triệu Hà Minh lắc đầu: “Ta không hạ được, nhưng quân cờ đó, kẻ lập bẫy có lẽ đã hạ rồi.”