Một Chén Rượu Độc Xa Nhà Muôn Dặm

Chương 6: Đại Lương Luật



Cái gọi là Lương Luật mà Ngọc Lâm nhắc tới chính là Đại Lương Luật.

Đại Lương khai quốc đã trăm năm, trải qua ba triều đại. Cuối thời Thái Tổ hoàng đế, Đại Lương Luật được sơ thảo, sau đó trải qua vài lần sửa đổi, chỉnh lý, cho đến khi hậu duệ của ngài đăng cơ mới chính thức ban hành thiên hạ.

Thế nhưng thiên hạ bao la, tội ác vô cùng. Thế nhân vạn cầu nghìn nguyện, nghiệt duyên do đâu mà khởi? Khổ quả bởi đâu mà kết? Thảy đều không phải một cuốn Đại Lương Luật có thể bao quát hết thảy.

Vì vậy, Đại Lương Luật quy định: khi các quan viên pháp ti nghị hình định tội, nếu khó tìm thấy pháp điều chính xác trong Đại Lương Luật để làm căn cứ phán quyết, có thể dẫn chiếu pháp điều có liên quan mật thiết nhất với tình tiết vụ án làm cơ sở, sau đó căn cứ vào tội trạng thực tế mà điều chỉnh mức hình phạt một cách thích đáng, từ đó đưa ra ý kiến xử lý tương đối độc lập. (Tham khảo pháp luật triều Minh)

Nhưng đây chỉ là ý kiến, không thể trực tiếp xử lý phạm nhân. Cuối cùng vẫn phải báo cáo ý kiến lên Hình bộ để nghị phán, sau đó mới trình lên Hoàng đế phê định.

Các đời quân chủ Đại Lương thay đổi, những ý kiến được mấy đời Hoàng đế phê duyệt dần dần tích lũy lại. Cuối cùng vào năm Phụng Minh, nhờ sự nỗ lực của những người đứng đầu Tam pháp ti, chúng được tập hợp lại thành bộ, đặt tên là Vấn Hình Điều Lệ.

Từ những năm đầu Phụng Minh, Đại Lương Luật cùng Vấn Hình Điều Lệ đã trải qua nhiều lần chỉnh lý, tăng giảm. Dưới sự chủ trì của Triệu Hà Minh, cùng sự thúc đẩy hợp lực của các quan viên Hình bộ như Tống Ẩm Băng, Ngọc Lâm, ngục Hình bộ đã dựa theo luật mà thực thi đạo lý ‘khoan dung, cứu xét tù phạm’, nghiêm cấm pháp ti lạm dụng cực hình, ép cung nhận tội.

Trong mười năm ấy, Ngọc Lâm luôn theo sát bên cạnh Triệu Hà Minh, chứng kiến y phân định rạch ròi giữa pháp lý và nhân tình, tìm kiếm sự cân bằng giữa tôn nghiêm của con người và sự nghiêm minh của pháp luật. Thành quả của hai sư trò vô cùng phong phú, nàng cũng vì thế mà được khích lệ sâu sắc.

Một vị lão sư tốt trên quan lộ thật sự có thể dọn đường, mở lối, gạt mây thấy trăng cho kẻ hậu sinh. Làm quan tại Hình bộ mười năm, với tư chất nhạy cảm, Ngọc Lâm ngoài việc tinh thông luật pháp còn nhiều lần tuần tra nữ lao, chặt đứt con đường kiếm chác trên thân xác nữ tù của bọn Vương Thiếu Liêm. Sau đó, nàng lại cùng Triệu Hà Minh hiệp lực, tính toán đưa vào Vấn Hình Điều Lệ những phán định và trừng phạt đối với loại tội dâm ô trong ngục này, nhằm tạo căn cứ cáo kiện cho những nữ tù gặp nạn sau này. Tuy nhiên, đúng như nàng đã nói, những nữ tù chịu khổ thà rằng tự tận chứ không chịu làm chứng.

Là phần bổ sung cho Đại Lương Luật, việc tăng giảm của Vấn Hình Điều Lệ từ trước đến nay vẫn luôn dựa vào những án lệ phức tạp và dị biệt chốn nhân gian.

Không người cáo thì không thành án. Không thành án thì khó thành lệ.

Bởi vậy, Ngọc Lâm mấy phen muốn đưa Vương Thiếu Liêm ra xét xử đều thất bại trước sự im lặng của các nữ tù.

Nàng từng thất vọng, nhưng trước mặt hay sau lưng người đời, nàng chưa bao giờ rẻ rúng những nữ tử ấy.

Trong mười năm qua, không chỉ một lần nàng nói với Triệu Hà Minh và Tống Ẩm Băng rằng: Kẻ hèn mọn giữ được thân xác và thanh danh đã là không dễ, nàng là quan tư pháp, nghĩ là nghĩ chuyện lập pháp cho vạn đời, danh lợi của bản thân cũng cầu trong đó, một kẻ phàm phu tục tử vọng tưởng làm thánh nhân như nàng vốn cũng chẳng thanh cao trong sáng đến thế.

Còn kẻ tù tội trong ngục, điều họ nghĩ là mỗi ngày đều có một ngụm nước sạch để uống, một bát cơm nóng để ăn. Họ nghĩ đến việc sau khi chịu hình thanh danh vẫn còn, có người nhà bằng lòng thu nhặt xác thân để được mồ yên mả đẹp. Một ngụm nước, một bát cơm ấy, nàng không thể bưng đến cho họ; còn tấm bia đời sau kia, nàng cũng chẳng thể dựng lên. Vậy nên họ có lựa chọn thế nào cũng không sao cả, nàng còn ở đây một ngày thì sẽ canh giữ căn phòng cấm máu me kia, ngày tháng còn dài, nàng nhất định sẽ có cơ hội.

Đúng như nàng nói, giờ đây cơ hội đã đến. Nàng đã trở thành tử tù trong ngục hình này, cũng trở thành nạn nhân trong tội ác ép tù làm kỹ nữ.

Triệu Hà Minh hiểu rằng, cơ hội này là ý trời ban cho nàng, ban vào lúc cuối đời. Dẫu cho để nắm bắt cơ hội này, nàng phải khiến thanh danh của mình hoàn toàn chết sạch trong miệng vạn dân thành Lương Kinh, nàng cũng sẽ không tiếc một phen đánh cược, dùng chính bản thân mình dựng lên án này, lập nên lệ này, ép ngược Hình bộ và Hoàng đế phải tu chỉnh Vấn Hình Điều Lệ.

Về công, Triệu Hà Minh không nên khuyên nàng. Về tư, Triệu Hà Minh cũng không khuyên nổi nàng. Thế là, y không nói thêm lời nào, bình thản bế Ngọc Lâm trở lại một gian lao thất sạch sẽ.

Gian phòng này rõ ràng là do Tống Ẩm Băng lưu tâm sắp xếp cho Ngọc Lâm, bên trong có chăn đệm, thậm chí còn có chút đồ ăn thức uống. Đám sai dịch đi theo sau cũng mang theo chậu nước và bộ tù phục sạch sẽ mà Trương Dược để lại cửa phòng cấm vào trong.

Triệu Hà Minh cẩn thận ngồi xuống, đặt Ngọc Lâm lên lớp cỏ lót, lấy lại chiếc quan bào trên người nàng.

“Ta sai người tháo bỏ hình cụ cho con, con tự mình tắm rửa, thay y phục.”

“Vâng.”

Triệu Hà Minh xoay người: “Ta đi đây.”

“Chờ một chút.”

Triệu Hà Minh ngoảnh lại, thấy nàng cầm bộ tù phục tạm thời che chắn thân mình.

“Ngài sẽ giúp ta chứ?” Nàng hỏi Triệu Hà Minh.

Triệu Hà Minh dừng bước, quay đầu hỏi: “Đã nghĩ kỹ chưa?”

“Vâng, năm đó khi bái nhập dưới môn hạ của ngài, ta đã nghĩ kỹ rồi.”

“Được.”

Y liếc nhìn ngón tay nàng: “Tay còn viết chữ được không?”

“Được.”

“Ta sẽ chuẩn bị giấy bút cho con. Đơn trạng của chính mình, con hãy tự viết đi.”

“Nộp cho nha môn nào?” Nàng hỏi Triệu Hà Minh.

“Con là phạm quan, phạm tội lăng trì, một nha môn đơn lẻ không thể định đoạt.”

Ngọc Lâm rủ mắt, mệt mỏi than: “Lại phải mở Tam pháp ti sao? Chỉ để định một tội ‘khi quân’ của ta mà Tam pháp ti đã áp giải ta qua lại giữa mấy cái công đường, giày vò ta suốt nửa năm trời. Họ nhìn ta không chán, chứ ta nhìn họ đã thấy phát ngán rồi.”

“Ta biết.”

“Ha…”

Ngọc Lâm tự giễu mỉm cười: “Ngài đừng để tâm lời ta vừa nói, ta sắp chết đến nơi rồi nên gan lớn, nói bừa vậy thôi. Tam pháp ti thì Tam pháp ti vậy. Ngọc Lâm tạ ơn chư công đã cho ta cơ hội này.”

Nàng nói đoạn giơ hai tay lên, đặt lên trán, coi như là một lễ bái.

Triệu Hà Minh bước ra khỏi lao thất, vừa đi vừa nói với nàng: “Nghỉ một lát rồi hãy hạ bút. Ta sẽ đợi ở chính đường Hình bộ, trời sáng sẽ phái người tới lấy đơn trạng, lập tức hội nghị cùng Đô sát viện và Đại lý tự. Ngọc Lâm.”

“Vâng?”

“Con chỉ có một cơ hội duy nhất này thôi. Nếu Tam pháp ti chuẩn đơn, ta sẽ đích thân viết tấu bản gửi Nội các, tấu minh bệ hạ tạm hoãn hành hình con, lấy con làm nhân chứng để thẩm lý vụ án dâm ô trong ngục của Vương Thiếu Liêm. Nếu Tam pháp ti không chuẩn đơn, vậy thì…”

“Ta hiểu.”

Nàng tiếp lời Triệu Hà Minh: “Ngài yên tâm, nếu là như vậy, ta sẽ không điên cuồng như ngày hôm qua khiến ngài phải gánh tội thay ta trên đài giám hình nữa. Ta sẽ tự mình quỳ xuống, chịu chết.”

Triệu Hà Minh lại dừng bước lần nữa. Y chưa mặc quan bào, trên người chỉ có một chiếc áo lót màu trắng ngà, Ngọc Lâm thì khoác bộ tù phục xộc xệch. Trong phút chốc, quan hệ giữa họ không phải quan lại phạm nhân, cũng chẳng phải sư trò, y đột nhiên rất muốn trò chuyện với nàng vài câu.

“Có thể trò chuyện với ta vài câu được không?”

“Ngài muốn nói gì?”

Triệu Hà Minh vịn vào hàng rào gỗ, cúi đầu nhìn Ngọc Lâm: “Người có phẩm hạnh cao thượng ra làm quan, không cầu tài thì cũng cầu danh, dẫu cho ngoài mặt hay trong lòng họ đều không thừa nhận thì họ cũng không thể diệt được nhân dục. Theo ta thấy, những công trạng vĩ đại trên đời chẳng qua chỉ là những thiện quả tình cờ mọc lên từ mảnh đất d*c v*ng và bùn lầy nghiệp chướng mà thôi. Con làm quan là cầu điều gì?”

Ngọc Lâm tựa vào bức tường ẩm ướt: “Con đã nói rồi, cũng là cầu tài cầu danh.”

“Đã như vậy, tại sao còn vì Lưu thị mà tự mình phanh phui thân phận? Con rõ ràng có thể…”

“Vì Đường quan* muốn đùa giỡn bà ấy.”

*Nguyên gốc (堂官): Đường quan là một thuật ngữ quan chế trong Trung Hoa thời phong kiến, dùng để chỉ vị quan đứng đầu một nha môn hoặc cơ quan chính thức. Ví dụ như Hình bộ: Thượng thư hoặc Thị lang chủ trì công việc có thể được gọi là Đường quan. Ở các nha môn địa phương: tri phủ, tri huyện khi ngồi công đường xét án cũng có thể được gọi như vậy.

“Lột đồ tra hỏi, đó là trong Đại Lương Luật…”

“Nhưng Đường quan đó chỉ muốn đùa giỡn nữ nhân.”

“Ngọc Lâm, con quá cực đoan rồi, rốt cuộc con đang chấp niệm điều gì?”

Ngọc Lâm mỉm cười, quay đầu sang một bên: “Ta cũng không biết nữa, chỉ thấy hóa điên cũng tốt, những việc trước đây không làm được, giờ đây đều có thể làm.”



Trong phòng hình cách ngục lao của Ngọc Lâm mấy bức tường, Đỗ Linh Nhược và Trương Dược cả hai đều bị trói, tạm giam bên trong.

Đỗ Linh Nhược nhìn đủ loại hình cụ trên tường, hỏi Trương Dược ở sau lưng: “Rốt cuộc huynh nghĩ cái gì vậy?”

“Chẳng nghĩ gì cả.”

“Huynh…”

Đỗ Linh Nhược chật vật xoay người lại: “Đừng có bảo với ta là huynh thực sự đến để mua vui với vị Thiếu ti khấu kia đấy nhé.”

Trương Dược im lặng.

“Nếu đúng là vậy, Đỗ Linh Nhược ta coi thường huynh.”

Trương Dược vẫn không nói gì, lớp màn đen trên mũ rèm khẽ đung đưa.

Nảy ra ý định giúp đỡ một người, đây là lần đầu tiên.

Thấy rằng có thể chờ một chút rồi hãy chết, cũng là lần đầu tiên.

Hắn không nghĩ ra lý do, nếu bắt buộc phải giải thích, có lẽ là vì câu nói kia của nàng: “Người sống mặc đồ liệm, Trương Dược, ngài cũng thật đáng thương.”

Trương Dược đời này tuyệt đối sẽ không thừa nhận mình đáng thương.

Hắn là Chỉ huy sứ của Bắc trấn phủ ti trưởng thành trong nỗi kinh hoàng chính trị những năm đầu triều đại mới. Sau khi tiền Thái tử mưu nghịch, Tiên đế băng hà, thứ tử đăng cơ, cải hiệu Phụng Minh, lập tức thanh trừng triều đường.

Sự tàn sát kéo dài nhiều năm, mùi máu tanh đến nay vẫn chưa tan hết. Là kẻ sát nhân trên đường phố Lương Kinh, sao hắn có thể đáng thương? Hắn cùng lắm chỉ là không vui vẻ, thỉnh thoảng gặp ác mộng, nhưng tiếc thay, ngay cả lũ lệ quỷ trong mơ cũng không đấu lại hắn.

Người đời đều nói nhân quả báo ứng, nhưng báo ứng đến nay vẫn chưa tới. Hắn chưa chết, hắn vẫn có thể vung Tú Xuân đao, nắm giữ mạng sống của bách quan.

Bao nhiêu năm trôi qua, báo ứng hắn đã sớm không tin nữa rồi, giờ đây ngay cả ác mộng cũng thật vô vị. Những việc tục tằn trên thế gian như kết thân, sinh con lại càng chẳng có gì k*ch th*ch.

Thế nhưng đêm nay trong phòng cấm, tội nhân không thể chết gặp phải vị thẩm quan không muốn chết. Nàng nhìn hắn một cái, hắn liền cảm thấy bản án đã tuyên ở ngay trước mắt, ngày tận số đã gần kề.

Có chút… k*ch th*ch.

Trương Dược không biết miêu tả như vậy có thỏa đáng hay không. Dù sao đời này hắn lời lẽ ít ỏi, văn chương bình bình, không biết diễn đạt.

Giống như trên đường gặp kẻ người sống mặc đồ liệm, hắn sẽ quay lại nhìn thêm một cái. Nhưng nếu người khác hỏi: “Người đó thế nào?”, hắn lại chỉ biết im lặng.

Vô tình vô nghĩa, hắn chẳng nói ra được điều gì. Nhưng đêm nay tử tù đã dạy hắn, lần sau hắn sẽ biết đáp rồi —— Người sống mặc đồ liệm, kẻ đó, thật đáng thương.

Trương Dược cúi đầu, ở nơi Đỗ Linh Nhược không nhìn thấy, khẽ nở một nụ cười không tiếng động.

Đỗ Linh Nhược không biết Trương Dược đang nghĩ gì, gọi “Dược ca” mấy tiếng vẫn không thấy hồi đáp, dần dần nản lòng.

“Giờ tính sao đây.”

Hắn bất lực nhìn ô cửa thông gió duy nhất trong phòng hình: “Tống Ẩm Băng là chí hữu của nàng, Triệu Hà Minh là ân sư của nàng. Huynh là khách làng chơi, ta là kẻ dắt mối. Nàng ta… chậc.”

Đỗ Linh Nhược thở dài thườn thượt: “Trông thế nào thì huynh và ta cũng không sống nổi.”

Trương Dược giơ tay tháo chiếc mũ rèm ra, bình thản nói: “Ta không muốn chết thì sẽ không chết được.”

Đỗ Linh Nhược xoay người nhìn giá hình, lại thở dài một tiếng: “Nói thì đúng là vậy, nhưng ta cứ cảm thấy đêm nay chúng ta bị tính kế rồi. Tống Ẩm Băng là ai? Tư ngục quan Hình bộ. Triệu Hà Minh là ai? Thượng thư Hình bộ. Đêm hôm khuya khoắt thế này, không phải tuần ngục, cũng chẳng phải thẩm vấn gấp, hai người họ tới ngục Hình bộ làm cái gì?”

Trương Dược không đáp, Đỗ Linh Nhược tự hỏi tự trả lời: “Ta thấy là vị Thiếu ti khấu kia đang câu cá chấp pháp, muốn tiêu diệt tên Vương Thiếu Liêm đấy.”

Nói đến đây, hắn không nhịn được mà đưa tay lên vuốt cằm: “Lợi hại thật. Bị Tam pháp ti giày vò đến mức đó rồi mà vẫn có thể tung sát chiêu cho tên họ Vương. Ơ, ta không rành quy trình pháp ti của bọn họ lắm, nếu muốn thẩm lý vụ án của chúng ta, vậy việc lăng trì Ngọc Lâm ngày mai có phải sẽ tạm hoãn không? Nói như vậy, không chỉ giết được Vương Thiếu Liêm mà nàng còn giữ được mạng mình nữa à!”

Hắn càng nói càng trở nên hưng phấn một cách kỳ quặc, gần như quên mất bản thân mình cũng là một trong những con cá.

“Huynh xem, ta đã bảo nàng ta tốt mà, đây mới là thủ đoạn mà quan Hình bộ nên có. Ngày mai có cơ hội ta sẽ đi giải thích với nàng một chút, ta thấy dựa vào phẩm hạnh và tính cách của nàng, nàng sẽ cứu chúng ta thôi. Phải không? Hả? Dược ca, huynh nói gì đi chứ?”

Đỗ Linh Nhược vừa nói vừa tự đắc gật đầu. Thấy Trương Dược không đáp lại, hắn không nhịn được lại quay đầu nhìn.

Chỉ thấy Trương Dược cầm chiếc mũ rèm, người đã đứng dậy từ lúc nào.

Đỗ Linh Nhược nhìn dáng vẻ hành động tự nhiên của hắn, lại nhìn lại chính mình đang bị trói gô như bó giò.

“Không phải chứ… huynh cởi dây thừng từ lúc nào vậy?”

Trương Dược tựa vào tường, khẽ xoa cổ tay: “Cổ tay có chút không thoải mái.”

Hắn vừa dứt lời, một tia sáng lọt qua ô cửa thông gió trên tường.

Một đêm vô tình vô nghĩa cuối cùng cũng qua đi, trời đã sáng.



1Đô sát viện là cơ quan tối cao trong các triều đại Trung Quốc xưa, với trọng trách thay mặt vua giám sát, đàn hặc và kiến nghị mọi hoạt động của quan lại các cấp, lẫn trọng trách giám sát việc thi hành luật pháp và thực hiện nghiêm chỉnh các quy tắc triều đình ban hành từ trung ương đến địa phương. Đô sát viện là cơ quan độc lập tại trung ương, trực thuộc sự điều hành của vua, và không phụ thuộc vào bất kỳ cơ quan nào trong hoạt động giám sát của mình. Đứng đầu Đô sát viện là Tả Đô ngự sử và Hữu Đô ngự sử.

2Đại lý tự là cơ quan xét xử và thẩm tra các vụ án lớn. Chức năng chính là xem xét lại các bản án quan trọng, xử các vụ án nghiêm trọng, kiểm tra tính hợp pháp của bản án từ địa phương. Đứng đầu Đại lý tự là Đại lý tự khanh.

3Hình bộ là một cơ quan hành chính nhà nước thời phong kiến tại một số quốc gia Đông Á, như Trung Quốc, Việt Nam,… Các chức năng cụ thể của Hình bộ bao gồm: thẩm định các chủng loại pháp luật, xem xét tội danh và hình phạt trong các vụ án, lập hội đồng xem xét các án có tội danh là tử hình và trực tiếp thẩm lý các vụ án lớn trong phạm vi kinh đô. Quan đứng đầu Hình bộ là Thượng thư Hình bộ, theo sau là Thị lang Hình bộ.

4Tam pháp ti: Chỉ cơ quan pháp luật lớn gồm Hình bộ – Đô sát viện – Đại lý tự. Khi có vụ án tử hình lớn liên quan quan lại; các vụ cần thẩm tra nhiều cấp; những vụ án nặng thường phải ba cơ quan cùng bàn bạc trước khi tâu lên hoàng đế phê chuẩn, khi cơ quan này cùng xét xử gọi là: tam ti hội thẩm, điều này nhằm tránh xử oan sai.