Ngọn Lửa Không Bao Giờ Tắt

Chương 2



Ba ngày kế tiếp, hắn điên cuồng phát tiết lên người ta, tựa như muốn trút sạch nỗi buồn vì sắp ly biệt, cùng nỗi sợ mịt mù nơi tiền tuyến.

Ta ngoan ngoãn chịu đựng, ăn của người ta rồi, tự nhiên phải chấp nhận như thế.

Đến lúc chia tay, ta tiễn hắn đến ngọn đồi, nơi lác đác vài hộ gia đình, đều là đến tiễn nam đinh bị trưng binh trong nhà.

Không có rượu tiễn hành, không có bánh đưa chân, chỉ có bầu không khí tĩnh lặng như chết, tuyệt vọng đến nghẹt thở.

Chẳng rõ là ai bật khóc trước, rồi âm thanh nức nở lan ra như làn sóng bi ai.

Thím Trương níu chặt áo con trai, khóc nghẹn không ra tiếng. Bên cạnh là một đứa nhỏ gầy như mầm giá, ôm chân cha không buông, ngửa khuôn mặt hốc hác, ánh mắt trống rỗng.

Ta lấy từ trong áo lót ra một kết bình an, nhét vào tay Hách Viễn:

“Phải sống mà trở về.”

Dưới sườn đồi, tiếng chiêng thúc quân chát chúa vang lên.

Hắn nhìn ta chằm chằm rất lâu, tựa như muốn khắc ghi khuôn mặt ta vào tận tâm khảm. Rồi không quay đầu lại, cùng đám đồng hương dấn bước xuống núi, như đi vào chốn tử địa.

Ba ngày trước hắn là tân lang của ta, là người ta từng mơ được sống đến răng long đầu bạc. Bây giờ hắn chỉ là một binh sĩ tầm thường giữa chiến trường, bình thường đến nỗi chẳng có lấy một cỗ xe, một con ngựa, mấy nghìn dặm đường đành phải tự cuốc bộ.

Trong thời thế người không bằng cỏ, mạng sống rẻ mạt như lớp bụi dưới chân.

Gió vẫn gào rú, cuốn theo bụi đất vàng, cùng tiếng khóc nghẹn ngào vọng lại từ trên núi.

Ta quay về nhà, bà mẫu không còn khóc nữa, chỉ ngơ ngác nhìn về phía đồi xa.

Cha chồng ho sặc sụa trên giường, một ngụm đờm mắc nơi ngực khiến ông suýt chút nữa tắt thở.

Ta vội vàng chạy đến đỡ ông dậy, vỗ lưng cho khạc ra đờm, rồi cầm thau đến hứng lấy.

Sau đó xuống hầm lấy một thùng nước, rắc vào ít bột lúa đen, quấy thành nồi cháo loãng, mang đến trước mặt bà mẫu:

“Nương, ăn hai miếng đi, cũng phải giữ lấy chút sức mà đợi đại lang về.”

Ánh mắt bà nhìn lướt qua khuôn mặt ta, chậm rãi dừng lại nơi bụng, đột nhiên lóe lên tia sáng:

“Trước khi đi, Viễn nhi đã để lại huyết mạch! Nương đem hết hy vọng đặt vào con rồi!”

Bà vịn tay ta uống mấy ngụm cháo, cố sống cố chết nhường phần còn lại cho ta, ánh mắt tha thiết đến mức rùng mình.

Mỗi sáng vừa thức dậy, câu đầu tiên bà mẫu hỏi luôn là:

“Hôm nay có gì khác lạ không? Có buồn nôn không?”

Hơn nửa tháng sau, bà phát hiện áo quần ta dính máu. Hy vọng của bà hoàn toàn sụp đổ.

“Đồ vô dụng!” Bà tát mạnh lên lưng ta. “Ngươi đúng là phế vật! Ăn không ngồi rồi! Viễn nhi nhà ta… Viễn nhi số khổ mà!”

Đánh ta xong, bà lại quỳ bên giường cha chồng, hai tay tự tát vào mặt mình, khóc đến lạc giọng:

“Ta có lỗi với tổ tiên! Có lỗi với dòng họ!”

Ta bị tiếng khóc dội đến nổ cả đầu, chỉ biết dựa vào chân tường, nghĩ phải tiết kiệm sức.

Vậy mà bà lại xông đến túm lấy ta:

“Chồng ngươi đang liều mình chém giết nơi sa trường, còn ngươi ở nhà lại nằm như xác chết, ngươi có phải mong hắn chết luôn rồi không?!”

Nhưng sau khi trút hết giận, náo loạn một trận, bà lại mang bát cơm đến trước mặt ta, như thể chưa từng có chuyện gì:

“Ăn đi, ăn đi, Nhà nhi, ăn no rồi chúng ta cùng đợi Viễn nhi về.”

Sự tuyệt vọng lặp đi lặp lại như dây leo, cuốn chặt lấy ta đến nghẹt thở.