Ngọn Lửa Không Bao Giờ Tắt

Chương 3



Cha mẹ gửi thư đến, nói nhờ có bao lúa mạch đen cứu trợ, họ được một bữa no, phụ thân ta cũng có sức bước ra ngoài, thử xem bên ngoài còn thứ gì ăn được, nếu không cũng dò dẫm xem chỗ mương suối nào còn đọng chút nước, đào được một thùng mang về cũng quý.

Cắn răng chịu mấy tháng, rốt cuộc cũng đợi tiếp tế từ triều đình. Người trên phái xuống, phát cho mỗi nhà một bao gạo lứt, một bao lúa mạch đen, còn mở đập dẫn nước từ thượng nguồn đổ về, dòng nước đục ngầu từ từ lấp đầy sông cạn.

Trong đám đông cuối cùng vang lên vài tiếng hò reo mừng rỡ.

Đến khi chiếc lá cuối cùng của mùa thu rơi rụng, có lẽ ông trời cuối cùng cũng mở mắt, đầu đông đã đổ xuống một trận tuyết lớn. Ta đưa tay ra đón những bông tuyết lả tả bay.

“Chắc sang năm sẽ là một năm được mùa rồi.”

Không rõ bên kia núi có tuyết không, người phương xa à, chàng vẫn ổn chứ?

Đông qua xuân tới, năm nối năm, ta chợt nhận ra, hai ba năm trôi qua, tựa như chỉ chợp mắt mấy lần đã hết.

Chúng ta cứ thế sống mòn trong năm tháng, chấp nhận, bình lặng mà chịu đựng.

Cha chồng được ta chăm sóc chu đáo, tuy không thể xuống giường, nhưng tinh thần vẫn ổn, mỗi ngày ba bữa cơm được bưng tận nơi, ăn xong lại giúp ông rửa ráy sạch sẽ, chăn gối thay thường xuyên, không vương chút mùi lạ nào.

Bà mẫu thì chưa từng giặt lấy một cái áo, nấu một nồi cơm. Áo bông mùa đông, áo mỏng mùa hè, đều là ta đo theo vóc dáng bà mà cắt may chuẩn xác từng tấc, thức đêm dưới ánh đèn để may xong.

Ta khôi phục vài mảnh ruộng trong nhà, trồng lúa với mạch, lại trồng thêm hai gốc lê trong sân, gió xuân thổi qua, khắp cây hoa nở rộ.

Dưới tán cây là hai con mèo trắng to, vô sỉ chẳng biết ngượng, vừa lim dim ngủ trưa dậy, lắc người rũ hết cánh hoa trên mình, lại hùng hổ đi bắt chuột.

Căn nhà cuối cùng cũng có chút dáng dấp tổ ấm.

Tầm chiều tối, ta đẩy hai bao lúa mạch đen ra cối xay bột. Giữa đường đi ngang qua một đoạn dốc cao, thường ngày mỗi lần qua đây, ta đều phải dồn hết sức mới trèo lên nổi.

Hôm đó ta đã gánh năm thùng nước, giặt hai thúng quần áo, đến gần đỉnh dốc thì tay chân rã rời, lực cạn kiệt.

Ngay lúc cả người cả xe như sắp ngã nhào xuống, từ sau lưng bỗng có một bàn tay rắn rỏi đẩy mạnh, ta mượn lực xông lên, một hơi vượt dốc.

Đứng vững trên đỉnh dốc, lòng còn chưa hết bàng hoàng, ta ngẩng đầu nhìn người giúp mình. Thì ra là một nam nhân xa lạ.

Hắn không chờ ta kịp nói lời cảm tạ, chỉ để lại một bóng lưng vội vã. Lòng ta vẫn cứ bận bịu mãi với sự kinh ngạc, hóa ra trong thôn này vẫn còn một người trẻ tuổi sống sót.

Lần nữa gặp lại hắn là trong tang lễ của Trương đại ca. Nghe người khác gọi tên hắn — Thẩm Diệp Hoa. Hắn bận rộn giữa dòng người, viết câu đối phúng viếng, đọc bài điếu văn.

Trương đại ca chính là người chất phác đã cùng Hách Viễn xuất chinh năm nào. Thân mẫu ông đã ngoài bảy mươi, năm ngoái không trụ nổi mà qua đời, đến lúc nhắm mắt cũng chưa nghe được tin con. Theo cách nào đó, mẹ con họ cũng xem như đã đoàn tụ.

Chỉ thương bốn đứa con còn nhỏ trong nhà, cái thân hình gầy gò từng níu lấy áo cha năm xưa, nay đã cao lớn, vai rộng lưng dày, là một thiếu niên mới lớn tựa như thanh kiếm mới tuốt khỏi vỏ, không biết rồi sẽ bị đưa đến chiến trường nhuốm máu nào nữa.