Hôn lễ của tiểu thư định vào ngày hai mươi tháng Chín.
Đó là ngày lành tháng tốt do Tư Thiên Giám chọn.
Tiểu Yêu ở Núi Phiêu Phiêu 🍑
Phu nhân vẫn không yên tâm, nhờ người vào cung dò hỏi, kết quả báo về là bát tự cực tốt.
Nhưng lòng mẹ gả con làm sao yên nổi, bà lại tìm thêm một thầy bói giang hồ.
Vì Thành Vương là hoàng tộc, ngày sinh tháng đẻ được bảo mật, nên chỉ đưa bát tự của tiểu thư cho thầy xem.
Thầy phán tiểu thư mệnh phú quý bẩm sinh, cả đời vinh hoa không hết.
Phu nhân mừng rỡ thưởng bạc, nhưng sau lưng lại nói:
"Sinh ra từ bụng ta thì đã định sẵn là mệnh phú quý rồi."
Đúng là phu nhân nhìn thấu hồng trần nhất.
Để chuẩn bị cho hôn lễ, cả phủ bận túi bụi, ngay cả đứa rảnh rang nhất là ta cũng không có thời gian mà uống nước.
"Hỉ Nhi, lại đây!"
Tiểu thư vẫy tay gọi ta vào buồng trong.
Vừa vào, ta đã thấy trên giường trải bộ chăn đệm hỷ, trên gấm đỏ thêu hình đôi vịt lội nước, ta khen nức nở:
"Đúng là thợ thêu Tô Châu có khác, người xem con vịt này..."
Ta đột nhiên không nhớ ra tên loài chim rực rỡ này là gì.
"Là uyên ương."
Tiểu thư cười, gõ đầu ta một cái.
"Đúng đúng, là uyên ương, trông như thật ấy!"
Tiểu thư bảo:
"Mẫu thân cất công lên chùa cầu bùa nhân duyên khâu vào trong, mấy đường kim này ta để ngươi làm đấy!"
Ta không dám tin.
Nếu ở nhà thường, chăn hỷ phải do mẹ và chị em cùng khâu.
Có lẽ tiểu thư không rành tập tục dân gian, chỉ là vì cả phủ chẳng tìm đâu ra nha hoàn nào rảnh việc hơn ta thôi.
Tiểu thư dặn:
"Không gấp, cứ từ từ mà khâu."
Dù lão gia đã nói nếu tiểu thư không muốn gả thì thôi, nhưng người vẫn chọn làm trắc phi của Thành Vương.
Người nói, những gì người có được đã là thứ cả đời người thường không với tới, nếu còn đòi hỏi chuyện yêu đương này nọ thì quá tham lam rồi.
Ngày hai mươi tháng Chín, với tư cách nha hoàn thân cận, ta phải đi theo kiệu hoa.
Đoàn rước dâu trống rong cờ mở đi từ nam thành đến bắc thành.
Theo lễ nghĩa, trắc phi chỉ được ngồi kiệu sáu người khiêng, nên phủ tướng quân đặc biệt đặt làm một chiếc kiệu lớn hơn bình thường, cần sáu gã lực điền mới khiêng nổi, xa hoa không kém gì kiệu tám người.
Đi được nửa đường, ta thấy lạnh sống lưng, quay lại nhìn thì hốt hoảng: chiếc kiệu sáu người ban đầu không biết từ lúc nào đã có thêm hai người nữa đứng sau trợ lực.
Chuyện này tuy kỳ lạ nhưng không ảnh hưởng đến buổi lễ, mà kiệu tám người khiêng là danh chính ngôn thuận nhất, ta mừng thầm trong bụng!
Đám cưới trắc phi không rình rang như chính phi, lược bớt phần bái đường, nhưng vì là đích tiểu thư phủ tướng quân nên Thành Vương phủ vẫn mở tiệc linh đình đãi khách.
Vương gia đón tiểu thư ở cửa hông, dặn dò vài câu rồi đi tiếp khách, trong phòng chỉ còn ta hầu hạ tiểu thư.
Ta không nhịn được, ghé tai tiểu thư thì thầm:
"Tiểu thư, là kiệu tám người khiêng đấy ạ."
Tiểu thư ngồi im dưới khăn voan, mãi sau mới khẽ "ừ" một tiếng.
Chẳng biết qua bao lâu, trời tối hẳn thì Vương gia mới vào.
Ngài vén khăn voan, bà hỷ nói lời cát tường rồi rót rượu hợp cẩn.
Xong xuôi, bà hỷ rắc lạc và nhãn lên giường, chúc "sớm sinh quý t.ử" rồi ra hiệu cho mọi người lui ra.
Lúc đi theo mấy bà v.ú ra cửa, ta đột nhiên quay người lại, dõng dạc hô lớn:
"Phu thê đối bái! Đưa vào động phòng!"
Tiểu thư sững sờ rồi nhìn ta cười ngặt nghẽo, còn vị Vương gia trẻ tuổi vốn luôn điềm tĩnh lại lộ vẻ kinh ngạc.
Bà hỷ chẳng ngờ ta lại diễn thêm màn này, vội túm lấy ta lôi ra ngoài rồi đóng cửa lại.
Vừa đi được vài bước, chỉ nghe tiếng Vương gia "Ui da" một tiếng, tiếng cười của tiểu thư trong phòng lại càng lớn hơn.
Sáng hôm sau khi ta vào hầu hạ rửa mặt, Vương gia đang đứng trong phòng, còn tiểu thư thì lười biếng nằm nghiêng trên giường.
[Truyện được đăng tải duy nhất tại MonkeyD.net.vn -
Lý ma ma thấy vậy liền nhíu mày:
"Vương phi sao còn chưa dậy hầu hạ Vương gia thay đồ, rửa mặt?"
Tiểu thư định miễn cưỡng ngồi dậy thì Vương gia ngăn lại:
"Không cần, cứ để nha hoàn làm là được."
Ngài bảo vương phủ không nhiều quy củ, sau khi dùng bữa sáng thì theo ngài vào cung bái kiến mẫu phi, chiều thì qua chỗ Triệu thị chào hỏi một tiếng là được, nói xong liền đi ra sảnh ngoài.
Tiểu thư gật đầu lia lịa, đợi Vương gia đi khuất là vẫy tay gọi ta lại.
Người kéo ta ngồi xuống giường, cười hì hì thì thầm vào tai ta:
"Ngươi quên rút kim trên chăn rồi, đ.â.m trúng m.ô.n.g Vương gia rồi kìa!"
Chính phi Triệu thị là một người rất dễ chung sống, nàng chưa bao giờ làm khó tiểu thư nửa bước, thậm chí còn thường xuyên làm bạn với người.
Triệu thị nói cái hậu viện này toàn là lũ thiếp thất ngu ngốc không đáng nhắc tới, chỉ có tiểu thư nhà ta mới thực sự là người thông minh.
Nàng chướng mắt đám đàn ông con trai cứ thích tranh giành tình cảm của Vương gia, cũng không hiểu tại sao lại phải đ.á.n.h cược cả đời mình vào tình yêu của một người đàn ông?
Tiểu thư nói với Triệu thị:
"Nàng và Vương gia cũng coi như vợ chồng thuở thiếu thời, nói vậy thật là bạc tình."
Triệu thị đáp:
"Tình càng nhạt, vị thế càng vững."
Tâm tư phụ nữ trong hậu viện ta không hiểu nổi, nhưng Vương gia rõ ràng là một bậc thầy "chia nước đồng đều".
Cứ ngày rằm thì ở chỗ Triệu thị, ngày mùng bảy thì ở chỗ tiểu thư, còn các thị thiếp khác mỗi tháng được một lần.
Thế nhưng ta mơ hồ cảm thấy Vương gia thích tiểu thư hơn, bởi vì người cứ ngày ngày đến ăn cơm trưa.
Một hai lần có thể là tiện đường, nhưng tháng nào cũng canh đúng giờ cơm mà đến thì thật khiến người ta phải suy nghĩ.
Tiểu thư lại chê Vương gia ăn quá nhiều, lén tìm quản sự vương phủ đòi "tiền cơm" của Vương gia.
Chuyện này tự nhiên truyền đến tai người, thế là hôm sau Vương gia không đến nữa.
Ta và tiểu thư thấy chẳng sao, nhưng Lý ma ma thì cuống cuồng như kiến bò chảo nóng.
Tiểu thư vụng trộm kể với ta Vương gia keo kiệt vô cùng, ăn không thì ngày nào cũng tới, hễ đòi tiền là mất dạng.
Lời này không hiểu sao lại lọt vào tai Vương gia, cuối cùng người tăng tiền chi tiêu hằng tháng cho tiểu thư.
Sau đó, Vương gia không chỉ đến ăn trưa đúng giờ mà còn đặt luôn cả bữa tối, mỗi bữa ăn ba bát cơm làm mặt tiểu thư đen lại như nhọ nồi.
Có hôm tiểu thư thèm ăn, sai bếp nhỏ nấu bát hoành thánh làm bữa khuya, đêm hôm khuya khoắt Vương gia cũng vội vã chạy tới, sợ tiểu thư lanh miệng ăn hết chẳng chừa cho mình lấy một giọt canh.
Ta thật sự hoài nghi con mắt nhìn người của lão gia, cái hạng Vương gia "ăn cơm hạng nhất" này có điểm nào đáng để tiểu thư chịu uất ức gả về làm trắc phi cơ chứ?
Nhưng lão gia đúng là lão gia, tiểu thư gả đi năm thứ hai thì Hoàng đế băng hà, Thành Vương lên ngôi.
Tiểu thư được phong làm Quý phi, một người làm quan cả họ được nhờ, ta cũng trở thành đại cung nữ trong cung.
"Hỉ Nhi, trưa nay thêm món mướp đắng xào, Hoàng thượng ghét nhất là ăn đắng."
"Tuân lệnh nương nương."
Tiểu thư gả vào vương phủ ta vẫn chưa đổi cách xưng hô, nhưng vào cung thì khác, ta gọi người là Quý phi nương nương.
Vương gia khi làm Hoàng thượng thì không còn là bậc thầy "chia nước" nữa, giờ trong cung ai cũng bảo Thẩm quý phi được sủng ái độc tôn.
Giả hết, toàn là bề nổi thôi.
Hoàng thượng không bỏ sót bữa cơm sáng trưa chiều nào ở chỗ Quý phi, ăn xong còn cùng nương nương múa một bộ quyền để tiêu cơm.
Sau đó nương nương thưa với Hoàng hậu, nhờ Hoàng hậu khuyên Hoàng thượng phải "mưa móc đồng đều", không được kén ăn, phải ăn cơm của trăm nhà chứ đừng cứ nhè một mình người mà hành hạ.
Hoàng hậu vốn không có chí tiến thủ, miệng thì vâng dạ nhưng thực tế chẳng làm gì cả.
Cuối cùng, nương nương lấy cớ ngắm hoa, bắt ta nhuộm mấy khóm mẫu đơn trắng thành đủ thứ màu rực rỡ rồi mời các phi tần đến thưởng trà.
Người vừa đông đủ, nương nương đã bắt đầu giáo huấn:
"Từng người các cô uổng công có gương mặt đẹp, đến cả Hoàng thượng cũng không giữ nổi thì có lỗi với cha mẹ không cơ chứ?"
Cao mỹ nhân lầm bầm:
"Xét về nhan sắc, ai mà so được với Quý phi nương nương chứ!"
Nương nương thở dài:
"Đã biết bẩm sinh không bằng người, sao sau này không chịu nỗ lực hơn một chút?"
Lúc này Huệ tần mới mở lời:
"Quý phi nương nương có từng nghĩ là do tay nghề bếp nhỏ của người tốt quá không? Hay là người cứ ăn đồ thanh đạm vài ngày xem sao."
Nương nương ngẫm nghĩ thấy có lý, thưởng cho Huệ tần đôi vòng bạch ngọc rồi sai ta đi làm ngay.