Thẩm Nguyệt Thù

Chương 4



Ta lấy một miếng bạc vụn đưa cho nàng.

 

Phụ nhân ngơ ngác nhận lấy:

 

“Nương t.ử… cô là do Quan Âm Bồ Tát phái đến sao?”

 

“Không phải.”

 

Ta lại lên ngựa.

 

“Mau đưa đứa bé đi khám đại phu đi.”

 

Đến cửa quan Gia Dung, việc kiểm tra nghiêm ngặt hơn ta tưởng.

 

Tên lính canh lục soát hành lý của ta:

 

“Giấy thông hành đâu?”

 

“Bị mất rồi.”

 

Ta đưa hai lượng bạc vụn cuối cùng cho hắn.

 

“Quân gia thông cảm, ta đến Vân Châu nương nhờ thân thích.”

 

Hắn cân nhắc bạc, rồi nhìn mặt ta từ trên xuống dưới:

 

“Cô là… người nhà của Bùi đại nhân phải không? Hai năm trước ở trường đua ngựa ngoại thành kinh, ta từng thấy cô.”

 

Ta quay mặt đi: “Ngươi nhận nhầm rồi.”

 

“Không thể nhầm, nghe nói Bùi đại nhân giờ đang đắc ý lắm, tân phu nhân vừa sinh con trai, tiệc đầy tháng tổ chức náo nhiệt…”

 

Những lời sau đó ta không nghe rõ nữa.

 

Gió cuốn cát bụi tràn vào cổ áo, lạnh thấu xương.

 

“Vậy càng phải cho ta đi.”

 

Ta tháo đôi hoa tai, nhét vào tay hắn.

 

“Để ta qua, đối với ai cũng tốt.”

 

Hắn nhìn ta hồi lâu, rồi phất tay cho đi.

 

17

 

Qua cửa quan, trạm dịch đầu tiên gọi là Hắc Thạch Dịch.

 

Dịch tốt lão Trần là một người què.

 

Ta nhắc đến tên Hổ Đầu, chiếc b.úa trong tay ông “choang” một tiếng rơi xuống giếng.

 

“Hổ Đầu là cháu nội lão Triệu…”

 

Mắt ông đỏ lên.

 

“Đứa bé đó sinh ra chưa tới bốn cân, chính tay ta còn giúp đỡ đẻ.”

 

Đêm đó ta ngủ trong gian kho chứa cỏ cạnh chuồng ngựa.

 

Nửa đêm bị tiếng vó ngựa đ.á.n.h thức, ta nhìn qua khe cửa thấy một đội kỵ binh giơ đuốc xông vào trạm.

 

Lão Trần tiến lên, người cầm đầu ném xuống một câu:

 

“Trưng dụng ngựa, tất cả con nào còn chạy được đều mang đi.”

 

Ta men theo tường mò đến chuồng ngựa, cởi dây cương của con ngựa già, men theo bóng tường lặng lẽ đi ra ngoài.

 

Vừa ra khỏi hậu viện, ánh đuốc đã rọi tới: “Đứng lại!”

 

Chạy.

 

Trong đầu chỉ còn lại một chữ này.

 

Con ngựa già lao đi trong bóng tối, bước cao bước thấp.

 

Sau lưng truyền đến tiếng tên xé gió, có thứ gì lướt qua sát bên tai.

 

Ta không dám quay đầu, cúi rạp người ôm c.h.ặ.t cổ ngựa.

 

Không biết đã chạy bao lâu, tiếng vó ngựa phía sau dần xa.

 

Ta ngã xuống một lòng sông khô cạn, con ngựa già thở dốc từng hồi.

 

Ngẩng đầu nhìn, trên m.ô.n.g ngựa cắm một nửa mũi tên gãy.

 

Ta rút mũi tên ra, dùng thắt lưng buộc c.h.ặ.t vết thương.

 

Con ngựa đau đến run rẩy toàn thân, nhưng không hề đá ta.

 

“Cố lên.”

 

Ta vuốt cổ nó.

 

“Đến Vân Châu, ta sẽ cho ngươi ăn đậu tốt nhất.”

 

Nó dùng chiếc mũi ướt dụi vào tay ta.

 

18

 

Chiều ngày thứ năm, cuối cùng cũng nhìn thấy tường thành Vân Châu.

 

Hoặc nói đúng hơn, là tàn tích của tường thành năm xưa.

 

Lầu thành sụp mất một nửa, xà gỗ cháy đen cắm xiên trong đống gạch đá.

 

Trước cổng thành xếp một hàng dài, quân canh kiểm tra từng người.

 

Một tên lính râu quai nón nhìn cái hành lý trống rỗng của ta: 

 

“Chạy nạn à?”

 

“Làm ăn.”

 

[Truyện được đăng tải duy nhất tại MonkeyD.net.vn -

“Làm ăn?”

 

Hắn cười khẩy.

 

“Dáng ngươi giống người làm ăn sao?”

 

Ta rút từ lớp trong cùng của áo bông ra một tờ ngân phiếu:

 

“Mười lượng, mua một con đường vào thành.”

 

Hắn nhận lấy, giơ lên ánh sáng xem đi xem lại:

 

“Cũng thú vị đấy.”

 

Rồi phất tay: “Vào đi, trong thành phố Tây có một quán xe ngựa, nói tên ta Vương Ngũ, họ sẽ bớt cho ngươi hai văn.”

 

Chủ quán là một phụ nhân khoảng bốn mươi, trên mặt có vết sẹo, nhưng nói chuyện rất hòa nhã:

 

“Vương Ngũ giới thiệu à? Vậy phải ở phòng tốt.”

 

Cái gọi là phòng tốt thực ra chỉ là một gian nhà ngói không dột, trên giường đất trải chiếu rơm.

 

Ta nằm xuống, cảm giác xương cốt như rã rời.

 

Nửa đêm bị tiếng gõ cửa đ.á.n.h thức, bà chủ bưng bát canh nóng đứng ngoài:

 

“Thấy ngươi tối chưa ăn gì, uống đi.”

 

Canh là cháo kê, trộn rau dại.

Truyện được đăng trên page Ô Mai Đào Muối

Ta uống từng ngụm nhỏ, bà ngồi trên bậc cửa cuốn t.h.u.ố.c lá:

 

“Nương t.ử từ đâu đến?”

 

“Kinh thành.”

 

“Kinh thành tốt thật.”

 

Bà phun ra một làn khói.

 

“Trượng phu ta trước kia làm tiêu sư ở kinh, nói dưới chân thiên t.ử, ngay cả ăn mày cũng mang giày.”

 

Ta ôm bát, không đáp lời.

 

Bà lại hỏi: “Đến tìm người hay trốn người?”

 

Ánh lửa trên điếu t.h.u.ố.c chợt sáng chợt tắt.

 

“Trốn người.”

 

“Vậy là trốn đúng chỗ rồi.”

 

Bà cười.

 

“Cái đất Vân Châu này, hôm nay sống mai c.h.ế.t, chẳng ai rảnh đi hỏi chuyện người khác.”

 

19

 

Ngày hôm sau ta bắt đầu tìm kế sinh nhai.

 

Tiệm lương lớn nhất trong thành gọi là Dụ Phong hiệu.

 

Khi ta đến, thấy chưởng quầy đang chống nạnh mắng mỏ tiểu nhị:

 

“Bảo ngươi đi chỗ người Tây Khương đổi muối, ngươi lại đổi về một bao cát?”

 

Ta đứng ở cửa nghe một lúc rồi bước vào hỏi:

 

“Chưởng quầy, người Tây Khương hiện giờ thiếu gì?”

 

Ông liếc ta một cái:

 

“Thiếu gì à? Thiếu lương thực, thiếu sắt, thiếu tất cả những thứ có thể giúp họ sống.”

 

Ta lấy ra hai tờ ngân phiếu:

 

“Hai mươi lượng, làm vốn, ta giúp ông chạy một chuyến, muối đổi về ta lấy một phần mười.”

 

Ông nhìn ta như nhìn kẻ điên:

 

“Ngươi biết trên đường đến doanh trại Tây Khương có bao nhiêu thổ phỉ không? Tháng trước hai đoàn thương nhân, c.h.ế.t sạch trong cốc Sói Hoang.”

 

Ta đưa ngân phiếu cho ông.

 

“Đánh cược thắng, ông được muối. Thua, mất một cái mạng của ta, ông không thiệt.”

 

Chưởng quầy đồng ý.

 

Ngày xuất phát là tiết Kinh Trập.

 

Bà chủ quán nhét vào hành lý của ta một chiếc bánh nướng:

 

“Sói trong cốc Sói Hoang đầu xuân đói nhất, phải cẩn thận.”

 

Trong lòng ta ấm lên, gật đầu.

 

Đoàn xe tổng cộng năm cỗ xe lớn, chở toàn kê cũ. 

 

Có mọt nhưng vẫn ăn được.

 

Đội trưởng hộ vệ họ Triệu, trên mặt có một vết sẹo kéo từ chân mày xuống tận khóe miệng.

 

“Thẩm nương t.ử.”

 

Hắn kiểm tra con ngựa già của ta.

 

“Ngựa của ngươi không chạy nhanh, gặp chuyện đừng cố, chui xuống gầm xe.”

 

Ta gật đầu, chia cho hắn một nửa chiếc bánh nướng bà chủ cho.

 

Hắn sững lại, rồi nhận lấy c.ắ.n một miếng lớn:

 

“Ngươi như thế này, ở kinh thành chắc cũng xuất thân nhà giàu?”