Bùi Quan Lễ nhíu mày, ta dõi mắt ra màn mưa rả rích ngoài sân: “Nhân chứng từ tiệm cháo, sổ sách cũ từ nương ta, hồ sơ cũ do chàng đào lên. Nếu Hạ Sùng Minh c.ắ.n c.h.ặ.t việc chúng ta làm vì tư lợi, thì vụ án này sẽ biến thành chuyện chàng bảo vệ thê t.ử, ta mượn cớ lật lại tư thù.”
Bùi Quan Lễ nín lặng.
Ta quay sang nhìn chàng: “Thế nên chúng ta còn thiếu một thứ nữa.”
“Thứ gì?”
“Một thứ không liên quan đến ta, cũng chẳng dính dáng đến chàng, nhưng đủ sức chứng minh gạo cống năm nay vẫn đang bị đ.á.n.h tráo.”
Bùi Quan Lễ sững lại: “Nàng muốn điều tra bến Thanh Thạch sao?”
Ta khẽ gật đầu.
Chàng lập tức bác bỏ: “Không được.”
Từ trước đến nay, ta chưa từng thấy chàng đáp nhanh đến thế.
“Tống Tri Ninh, Hạ Sùng Minh đã nhắm vào nàng rồi.”
“Cho nên không thể để ta đi?”
“Đúng.”
“Vậy để ai đi?”
Chàng rơi vào trầm mặc, ta bật cười: “Bùi Quan Lễ, chàng có thấy bây giờ chàng rất giống cha ta không?”
Sắc mặt chàng thoắt cái biến đổi.
Ta nắm c.h.ặ.t lấy tay chàng: “Ý ta là, cả hai đều thấy nguy hiểm, nên không cho ta nhúng tay vào.”
“Nhưng chàng và ông ta khác nhau. Chàng cản ta vì sợ ta bị thương, còn ông ta cản ta vì sợ ta có năng lực.”
Bùi Quan Lễ nhìn ta, ánh mắt chất chứa biết bao cảm xúc ngổn ngang.
Ta khẽ thủ thỉ: “Đừng bảo vệ ta bằng cách nhốt ta vào l.ồ.ng.”
Ta cứ đinh ninh lời nói của mình đã thuyết phục được Bùi Quan Lễ, sáng sớm hôm sau là có thể khởi hành đến bến Thanh Thạch. Nào ngờ, trời còn chưa kịp sáng, trước cửa tiệm cháo đã lù lù xuất hiện một chiếc rương gỗ.
Chiếc rương không ghi tên người gửi, khóa hoàn toàn mới, nhưng dưới đáy rương lại khắc một chữ cũ kỹ:
【Thẩm】
Thanh Hòa tá hỏa, vội vàng cử người đi báo với Đại Lý Tự. Khi rương được mở ra, bên trong là một cuộn sổ sách được cho là của Thẩm gia ngày xưa. Những trang giấy úa vàng, sờn mép, thậm chí cả những lỗ mọt gặm cũng được ngụy tạo trông như thật.
Trang đầu tiên viết dòng chữ:
【Thẩm thị mua ba ngàn thạch gạo cũ, đội lốt gạo mới để nộp vào kho.】
Chỉ một câu này cũng đủ khiến vụ án cũ của Thẩm gia vĩnh viễn không ngóc đầu lên nổi.
Chưa đầy nửa canh giờ, khắp kinh thành đã râm ran tin đồn: vụ án Thẩm gia hoàn toàn không phải án oan, rằng để rửa hận cho ngoại tổ, ta đã mua chuộc tên lái đò già, làm giả tờ giấy thuyền dính m.á.u, còn kéo cả Bùi Quan Lễ xuống vũng bùn.
Khi hay tin, nương ta đ.á.n.h rơi cả bát t.h.u.ố.c đang uống. Mảnh vỡ sứ văng tung tóe lên gấu váy, nhưng bà dường như chẳng màng tới, đôi mắt chỉ đăm đăm dán vào cuộn sổ giả: “Không phải sự thật.”
Ta ngồi xổm xuống cạnh bà: “Nương.”
Bà miết ngón tay run rẩy lên chữ ký ở góc trang: “Ngoại tổ con khi gọi nhũ danh của nương, chưa bao giờ viết chữ này.”
[Truyện được đăng tải duy nhất tại MonkeyDD.com -
Trong phần chú thích của trang giấy có ghi:
【Để lại cho ấu nữ Uyển Nương mười lạng bạc.】
Khuê danh của nương ta là Thẩm Uyển. Chữ “Uyển” trong tên bà vốn là chữ của “uyển chuyển”, chứ không phải chữ “Uyển” mang nghĩa “dịu dàng”.
Chỉ sai lệch một chữ, thứ đồ giả mạo đã lộ nguyên hình.
Ta cầm tờ giấy lên, thoáng ngửi thấy một mùi keo phèn nhàn nhạt. Giấy cũ có thể xông khói, lỗ mọt có thể dùng hương châm, màu mực cũng có thể làm cho giống. Nhưng các tiên sinh ở tiệm gạo để chống ẩm thường dùng nước cơm phết lên giấy. Những cuốn sổ cũ thực sự để suốt hai mươi năm, khi hơ nóng sẽ tỏa ra mùi chua chua nhè nhẹ của nước cơm.
Còn cuộn giấy này thì không, chỉ có mùi khét của lớp keo phèn mới.
Đến giữa trưa, Triệu Ngự sử tìm tới.
Ông ta không mặc quan phục, chỉ dắt theo một tùy tùng, đứng trước cửa tiệm cháo dán mắt vào cuốn sổ giả.
“Bùi phu nhân, hạ quan hôm qua vừa mới vạch tội Hạ Sùng Minh, hôm nay đã có người ném thứ này tới.”
“Triệu đại nhân nghi ngờ ta tự biên tự diễn sao?”
Ông ta không phủ nhận: “Kẻ lăn lộn chốn quan trường, màn kịch nào mà chưa từng chứng kiến.”
Ta khẽ gật đầu, bưng lò than từ sân sau ra.
Thanh Hòa hoảng hốt: “Phu nhân, sổ sách này không đốt được đâu!”
“Ta không đốt.”
Ta lấy ra ba tờ giấy: Một tờ xé từ cuốn sổ cũ thực sự của Thẩm gia dưới đáy hòm nương ta, một tờ từ cuốn sổ giả, tờ còn lại là giấy mới tinh ta bảo Thanh Hòa mua tối qua. Ta lần lượt đặt ba tờ giấy lên hơi nóng của lò than, cẩn thận để ngọn lửa không bén vào giấy.
Chỉ một chốc lát, mép giấy của cuốn sổ cũ thật hơi cong lên, thoang thoảng mùi chua nhẹ của nước cơm. Tờ giấy mới vì giòn nên cuộn lại nhanh nhất. Còn tờ giấy từ cuốn sổ giả lại ánh lên một lớp bóng mờ nhạt.
Triệu Ngự sử cau mày: “Đây là gì?”
“Nước keo phèn. Kẻ làm giả cuốn sổ sợ giấy bị rã, nên đã quét một lớp keo phèn mới lên. Nhìn thì cũ kỹ, nhưng thực chất là hàng mới làm.”
Tiếp đó, ta bảo Thanh Hòa lấy bát nước, chấm một giọt vào góc ba tờ giấy.
Giấy cũ thật hút nước chậm, vết nước ngấm sâu dần. Giấy mới hút nước cực nhanh. Trong khi đó, giọt nước trên trang giấy giả lại đọng tròn xoe trên bề mặt, trơn tuột như giọt sương đọng trên lá sen.
Đám đông vây quanh dần im bặt.
Triệu Ngự sử lên tiếng hỏi: “Những cách này, phu nhân học được từ đâu?”
“Từ phòng thu chi.”
“Là tiên sinh tính toán dạy phu nhân cách phân biệt giấy sao?”
“Không phải.”
Ta cuộn cuốn sổ giả lại gọn gàng. “Họ dạy ta rằng, sổ sách bề ngoài càng hoàn hảo, thì càng phải nghi ngờ đầu tiên.”
Triệu Ngự sử rốt cuộc cũng nở nụ cười: “Câu nói này của phu nhân, thật là thích hợp với Ngự sử đài.”
Ta đẩy cuốn sổ giả về phía ông ta: “Vậy Triệu đại nhân có nguyện ý dâng thêm một bản tấu chương nữa không?”
“Vạch tội ai?”